con người thân phận và tình yêu trong ca từ trịnh công sơn - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Hoàng Đình Đức

CON NGƯỜI THÂN PHẬN VÀ TÌNH YÊU
TRONG CA TỪ TRỊNH CÔNG SƠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2013


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Hoàng Đình Đức

CON NGƯỜI THÂN PHẬN VÀ TÌNH YÊU
TRONG CA TỪ TRỊNH CÔNG SƠN
Chuyên ngành
Mã số

: Lí luận văn học
: 60 22 01 20

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS. Dương Hữu Biên

Hoàng Đình Đức

2


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................ 1
LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................. 2
MỤC LỤC .................................................................................................................... 3
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT ................................................. 5
MỞ ĐẦU....................................................................................................................... 6
1. Lí do chọn đề tài .............................................................................................................. 6
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................................ 7
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................................. 8
4. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................................. 9
5. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................................. 11
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài .................................................................... 12
7. Bố cục của luận văn ...................................................................................................... 13

CHƯƠNG 1: CON NGƯỜI THÂN PHẬN TRONG CA TỪ TRỊNH CÔNG
SƠN ............................................................................................................................. 14
1.1. Một số khái niệm của đề tài ...................................................................................... 14
1.1.1. Về vấn đề Con người thân phận và Thân phận con người ....................................14
1.1.2. Về khái niệm tình yêu nam nữ ..............................................................................19
1.1.3. Về khái niệm ca từ ................................................................................................22
1.2. Quan niệm của Trịnh Công Sơn về con người thân phận ..................................... 23
1.3. Cội nguồn của quan niệm về con người thân phận trong ca từ Trịnh Công Sơn 31
1.4. Thế giới con người thân phận trong ca từ Trịnh Công Sơn .................................. 36
1.4.1. Hình tượng người mẹ ............................................................................................36
1.4.2. Hình tượng người yêu - người vợ mất chồng........................................................40

triển của tiếng Việt .......................................................................................................... 107

KẾT LUẬN .............................................................................................................. 111
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 115
PHỤ LỤC ................................................................................................................. 118

4


DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

Kí hiệu thời gian
< > ( năm): khoảng năm, ví dụ: < > 1975: khoảng năm 1975
= 1972: 1972 hoặc sau 1972

trong âm nhạc của ông. Có những người viết luận văn, luận án, có những người viết thành
sách dài hàng mấy trăm trang, đó là chưa kể một số bài viết đăng trên các báo và tạp chí.
Song phải thừa nhận một thực tế, gia tài âm nhạc Trịnh Công Sơn là di sản tinh thần vô giá
và đồ sộ, mà các công trình nghiên cứu hiện nay mới chỉ đang bước đầu bóc tách những lớp
trầm tích đầu tiên.
Do vậy, có thể nói, ca từ Trịnh Công Sơn vẫn còn là một khu rừng đầy bí ẩn, cần được
tiếp tục đi sâu nghiên cứu ở những góc độ, phương diện khác nhau. Chúng tôi thấy rằng vấn
đề con người thân phận - hiểu theo phạm vi hẹp và sâu, đó là số phận của con người Việt
Nam, dân tộc Việt Nam trong cuộc chiến tranh (khác với thân phận con người, phạm vi
rộng và chung chung mà một vài công trình khác đã đề cập) và tình yêu nam nữ là đề tài
chưa thật sự được khai thác, phân tích theo chiều sâu, để làm rõ tư tưởng, tầm vóc, tài năng
và hơn hết là nhân cách của Trịnh Công Sơn. Ngoài ra chúng tôi cũng nhận thấy rằng, người
hâm mộ, người yêu nhạc, thơ của Trịnh Công Sơn, thậm chí cả những ca sĩ chuyên nghiệp
cũng như một số tác giả nghiên cứu trước đã có một số quan niệm, cũng như dùng một số
khái niệm, từ ngữ mà theo chúng tôi là chưa thật thỏa đáng, nên cần phải xem xét lại thật
thận trọng trên tinh thần khoa học. Hơn nữa, tác giả luận văn này cũng có mối đồng cảm với
thơ - nhạc Trịnh Công Sơn.
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi mạnh dạn chọn vấn đề Con người thân phận
và tình yêu trong ca từ Trịnh Công Sơn làm đề tài nghiên cứu cho luận văn này.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn có mục đích tìm hiểu những biểu hiện của con người thân phận, bức tranh số
phận con người trong cuộc chiến, cũng như những quan niệm và biểu hiện, dạng thức phức
tạp của tình yêu nam nữ trong các ca khúc Trịnh Công Sơn, từ đó thấy được tinh thần nhân
đạo, nhân văn chủ nghĩa và tình yêu con người với niềm bi thiết sâu sắc của người nhạc sĩ
này.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định cơ sở lí thuyết chung trong quan niệm nghệ thuật về con người với một số
khái niệm căn bản như con người thân phận, tình yêu, ca từ… và những vấn đề có liên quan

Ngoài những văn bản ca từ kể trên, đề tài còn sử dụng một loại “siêu văn bản” khác,
đó là hoàn cảnh lịch sử - xã hội, không khí thời đại, không khí cuộc chiến tranh kéo dài 20
năm chia cắt đất nước, trong đó các ca khúc Trịnh Công Sơn đã thoát thai và hoàn cảnh cá
nhân, những trang nhật kí, những dòng tâm sự của nhạc sĩ trên truyền hình… Đây có thể
8


xem như những sự gợi mở nho nhỏ giúp chúng tôi đi sâu hơn vào thế giới ca khúc, cũng là
thế giới nghệ thuật của Trịnh Công Sơn.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Thế giới nghệ thuật của Trịnh Công Sơn là cả một gia tài văn hóa đồ sộ và mênh
mông, do đó, các ca khúc của ông có thể nghiên cứu, xem xét trên nhiều phương diện khác
nhau: phương diện lí luận về âm nhạc, phương diện triết học, tính triết lí, quan niệm nghệ
thuật về con người, về đời sống, về cái đẹp, cõi nhân sinh… Tuy nhiên, luận văn này chỉ
dừng lại ở việc đi sâu tìm hiểu về mặt con người thân phận và tình yêu nam - nữ trong ca từ
của ông.

4. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
4.1. Vấn đề thân phận con người được đề cập trong chủ nghĩa Hiện Sinh phương Tây.
Chủ nghĩa Hiện Sinh ra đời gắn với nhiều tên tuổi, song có thể phân ra làm hai phái, đó là
phái Hữu thần và Vô thần. Con người với tính cách là một hữu thể, với những suy tư trăn
trở về thân phận được đề cập đến trong tư tưởng của các triết gia Kierkegaard, St. Augustine
và Heidegger. Trong đó Martin Heidegger (1889-1976), triết gia vĩ đại người Đức, đã tập
trung tìm hiểu ý nghĩa của khái niệm tồn tại và cấu trúc bản thể của tồn tại người. Bản thể
luận của Heidegger là học thuyết về cấu trúc của tồn tại con người. Khác với triết học truyền
thống Âu châu chỉ đặt ra vấn đề hữu thể nói chung, Heidegger cho rằng tồn tại con người
mới là xuất phát điểm, là hiện thực đầu tiên có tính thứ nhất. Quan niệm này của Heidegger
là một đóng góp mới vào tư tưởng triết học của thế giới.
4.2. Sau khi Trịnh Công Sơn qua đời, đã có một số sách viết về cuộc đời và sự nghiệp
của ông. Đầu tiên phải kể đến là cuốn sách có tựa đề Trịnh Công Sơn - một người thơ ca,

người và tình yêu, nhưng còn khái quát, chung chung. Ông chỉ dừng lại ở việc phân tích một
vài ca khúc, lẩy ra một vài ví dụ minh họa cho luận điểm của mình, chứ chưa đi sâu vào tìm
hiểu về con người thân phận với tư cách là con người dân tộc cụ thể, con người Việt Nam
với những đau thương, mất mát trong cuộc chiến tranh. Ông cũng chưa đi sâu vào tìm hiểu
mảng ca khúc về tình yêu nam nữ với những nội dung phong phú vốn có của nó. Song có
thể nói, đây là tập chuyên luận khá hay và có giá trị về học thuật.
Ngoài những cuốn sách kể trên, phải kể đến cuốn luận văn thạc sĩ chuyên nghành lý
luận ngôn ngữ của Nguyễn Thị Bích Hạnh, đại học sư phạm Hà Nội (2008) với đề tài Hệ
thống biểu tượng trong ca từ Trịnh Công Sơn. Trong luận văn này, tác giả đã hệ thống hóa
những biểu tượng trong ca từ Trịnh Công Sơn, sắp xếp chúng theo hệ thống, từ hệ thống
những biểu tượng trực quan đến những hệ thống biểu tượng phi trực quan và chuyển hóa
giữa chúng. Từ đó soi chiếu, giải mã các biểu tượng trong hệ thống, góp phần làm sáng rõ
thế giới nghệ thuật và thế giới tinh thần của người nghệ sĩ. Luận văn này sau đó đã được
xuất bản thành sách với tựa đề Biểu tượng ngôn ngữ trong ca từ của Trịnh Công Sơn [9],
10


sau đó cuốn sách này được bổ sung thêm một số nội dung và tái bản với tựa đề Trịnh Công
Sơn - hạt bụi trong cõi thiên thu [10].
Kế đến là luận văn thạc sĩ, chuyên ngành văn học Việt Nam của tác giả Nguyễn Thị
Thanh Thúy, đại học Quy Nhơn với đề tài cũng gần gũi với đề tài của chúng tôi, đó là Thân
phận con người và tình yêu trong ca từ Trịnh Công Sơn. Tập luận văn này sau đó cũng đã
được bổ sung và xuất bản thành cuốn sách Trịnh Công Sơn - vết chân dã tràng, lấy tên tác
giả là Ban Mai. Cuốn sách này khi xuất bản đã gặp phải sự cố và bị đình bản. Chúng tôi
cũng đã đọc qua để xem xét một cách cẩn trọng, tránh mắc những sai lầm, thiếu sót, khi
triển khai luận văn của mình.
Luận văn của tác giả Thanh Thúy nghiên cứu về diện là chủ yếu mà ít đi vào phân tích
về điểm. Mặt khác, những nội dung mà luận văn này triển khai cũng khác với nội dung luận
văn mà chúng tôi nghiên cứu. Ở phần một, tác giả đi vào những nội dung chính như tình
hình nghiên cứu Trịnh Công Sơn trong và ngoài nước; quá trình hoạt động tranh đấu và

Trịnh Công Sơn và chất hiện thực ở hình tượng nữ của Nguyễn Du. So sánh Trịnh với
Kawabata để thấy được nét tương đồng giữa hai thiên tài này trong quan niệm thẫm mỹ, đó
là cái đẹp thường phảng phất nỗi buồn và mong manh.
- Phương pháp thống kê - định lượng được dùng để: (1) Khảo sát, thống kê tần số
xuất hiện của đại từ tôi và anh trong hệ thống ca khúc Trịnh Công Sơn. Qua sự khảo sát
định lượng ấy, thấy được định mệnh dở dang, cô đơn truyền kiếp ngầm dự báo trong cách
xưng hô đặc biệt ấy của ông với người tình. (2) Thống kê những tính từ âm tính, những từ
ngữ lạ, để từ đó có thể đưa ra những nhận xét khách quan về kiểu tư duy, quan niệm về hình
tượng nghệ thuật, khuynh hướng thẫm mỹ cũng như đặc trưng của hình tượng trong các tác
phẩm của Trịnh Công Sơn. Hơn nữa, còn thấy được khả năng sáng tạo ngôn từ phong phú,
độc đáo của ông.
- Phương pháp liên ngành bao gồm sự tìm hiểu về tiểu sử, các quá trình hoạt động
nghệ thuật và “dấn thân” của Trịnh Công Sơn. Tìm hiểu những bài viết, các cuộc phỏng vấn
trên truyền hình của tác giả… nhằm đưa ra những kết luận về sự hình thành tư tưởng, quan
niệm thẫm mĩ, cũng như ý nghĩa ẩn dụ của những từ ngữ khó hiểu trong các tác phẩm của
ông.

6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Về mặt lí luận
Đã có nhiều công trình đề cập đến vấn đề thân phận con người và tình yêu trong ca từ
Trịnh Công sơn, nhưng hầu hết các công trình hoặc đi quá khái quát, sơ lược, theo chiều
rộng, hoặc còn rời rạc, chưa phân tích một cách có tính hệ thống, có chiều sâu. Do đó, đề tài
này sẽ không đi rộng như của các tác giả khác, mà sẽ đi theo một phạm vi hẹp và có chiều
sâu, cũng như sẽ đưa ra một vài gợi ý có tính chất gợi mở về cách dùng một số từ ngữ, khái
12


niệm… trong ca từ của Trịnh Công Sơn. Kết quả của luận văn sẽ là một đóng góp mới vào
việc tìm hiểu về giá trị văn bản nghệ thuật dưới góc nhìn văn học, quan niệm nghệ thuật về
con người và tình yêu.

Mở đầu
Con người thân phận trong ca từ Trịnh Công Sơn được quan niệm như là một kiểu con
người thiên về xu hướng âm bản, với những nỗi khổ đau, bất hạnh… Song, căn cứ theo từng
giai đoạn sáng tác, chúng tôi phân ra làm hai biểu hiện cơ bản của dạng người này: (1) con
người thân phận trong giai đoạn chiến tranh với những đau thương mất mát, và (2) con
người thân phận trong cuộc sống đời thường gắn với những quan niệm có tính chất triết lí,
suy niệm về cõi nhân sinh, về kiếp người. Vì vậy, có thể nói, con người thân phận trong ca
từ Trịnh Công Sơn có tính hệ thống chặt chẽ. Ngay cả mảng ca khúc tình yêu, thì trong tình
yêu cũng có thân phận nữa. Sau đây chúng tôi sẽ trình bày một số khái niệm của đề tài cùng
những quan niệm của Trịnh Công Sơn về con người thân phận, được trích dẫn từ trong các
tập hồi kí, các tập giới thiệu ca khúc của ông.

1.1. Một số khái niệm của đề tài
1.1.1. Về vấn đề Con người thân phận và Thân phận con người
Vấn đề thân phận con người là điều gì đó vừa cụ thể nhưng lại cũng vừa bao la, vượt
quá tầm hiểu biết của con người. Thân phận con người là những gì ta trải nghiệm mỗi ngày.
Xoay quanh thân phận con người và ý nghĩa đời người, luôn tồn tại những câu hỏi làm con
người không ngừng băn khoăn đi tìm kiếm sự giải đáp.
Trong hành trình làm người, có lúc ta phải dừng lại và tự vấn: Ta là ai? Ta từ đâu đến
và sẽ đi về đâu? Sứ mệnh của ta giữa đời này là gì?... Những câu hỏi ấy đã xuất hiện từ buổi
bình minh của loài người. Bởi chúng là những câu hỏi có tính chất truy vấn bản thể, truy tìm
đến tận cùng bản thể con người.
Thân phận con người được phản ánh trong triết học Phật giáo. Vấn đề thân phận được
phản ánh trong giáo lí Tứ Diệu Đế, biểu hiện tập trung ở Khổ Đế. Phật quan niệm đời sống
con người, thân phận con người về căn bản là khổ đau. Có người cho rằng, Phật chủ trương
như vậy là bi quan, yếm thế. Thực ra, Phật nhìn nhận cuộc sống, thân phận con người một
cách khách quan. Không ru người ta vào giấc mơ ở cõi Niết Bàn hay miền Cực Lạc, cũng
không làm cho người ta bi quan trong cuộc sống. Phật chỉ dạy cho con người thức tỉnh, nhận
thức rõ cuộc đời, thân phận theo đúng chân tướng của nó. Từ đó chỉ dẫn họ đi tìm con
14

Cụm từ thân phận con người xuất hiện trong các tác phẩm triết học và văn học Hiện
Sinh. Đầu tiên, nó xuất hiện với tư cách nhan đề bộ tiểu thuyết của nhà văn Pháp André
Malraux (1901-1976), nguyên văn tiếng Pháp là La condition humaine (condition: vị trí,
thân phận, thân thế; humaine: con người, loài người). Tác phẩm đoạt giải thưởng GonCourt
15


(1933). Vấn đề thân phận con người cũng được tái hiện trong tác phẩm của các triết gia
khác như Augustine, Kieekegard, Heiderger. Họ có điểm giống nhau, đó là nỗi khắc khoải
khi nêu lên những câu hỏi có tính chất suy tư về hữu thể, mặc dù họ rất khác biệt nhau về
thời đại và hoàn cảnh sống.
Về văn chương Hiện Sinh, thân phận con người được phản ánh trong hàng loạt nhân
vật với những biểu hiện khác nhau. Người viết tác phẩm đậm chất Hiện Sinh, bi đát về phận
người nhất có lẽ là Frank Kafka. Tác phẩm của ông, nhất là hai truyện Vụ án và Lâu đài, đã
mở ra trước mắt người đọc một thế giới hoàn toàn phi lí, thế giới mà con người là nạn nhân
của hoàn cảnh xã hội. Cuộc sống không có sự đãm bão. Con người không được luật pháp
bảo vệ. Họ có thể bị buộc tội bất cứ lúc nào, không có quyền được khiếu nại, không được
đem ra xét xử. Người ta không thể hiểu được thế giới ấy như thế nào, chỉ biết rằng sinh
mệnh của mình đang trong tình trạng bị kết án và treo lơ lửng. JoJefk K và K là những nhân
vật tượng trưng cho thân phận bi đát, bị giam hãm trong thế giới đầy nghịch lí: cô đơn, bất
lực trước thực tại và thường trực nỗi lo âu, bất an về số phận của chính mình.
Thân phận con người trong sáng tác của A. Camus thì lại khác. Ở Camus, cảm giác về
sự phi lí là khởi nguồn cho lối sống hiện sinh: sự nổi loạn. MeurSailt trong Người xa lạ đã
bộc lộ những tình cảm khác thường với thế giới xung quanh, coi tình mẫu tử, tình yêu, hành
vi giết người, cái chết bản thân, chẳng gì đáng quan trọng cả. Nhân vật của Camus đã nổi
loạn, khước từ những chuẩn mực xã hội, muốn sống thực với chính mình, vì vậy đã trở
thành kẻ xa lạ, lạc loài với xã hội và bị lên án.
Và còn vô số những nhân vật, những kiểu con người thân phận trong các tác phẩm
khác: Caligula, Dịch hạch, Buồn nôn… Tóm lại, con người trong chủ nghĩa Hiện Sinh là
những kiểu con người bi kịch, bị đọa đày bởi hoàn cảnh, kiểu con người bất lực và vô vọng

đã làm luận văn thạc sĩ với đề tài Thân phận con người và tình yêu trong ca từ Trịnh Công
Sơn.
Như vậy, các tác giả trước đã dùng cụm từ thân phận con người, hay thân phận. Ta dễ
dàng xác định được, xét về mặt từ loại, chữ thân phận tồn tại khách quan như một danh từ,
và nó mang một ý nghĩa khái quát, chung chung.
Vậy lí do nào, và tại sao chúng tôi chọn và đặt tên cho một trong hai nội dung trọng
tâm của luận văn (bên cạnh nội dung tình yêu nam – nữ) là con người thân phận chứ không
phải là thân phận con người như các tác giả trước đã làm?
Những công trình trước đây vẫn quen dùng cụm từ “thân phận con người”, khác với
luận văn của chúng tôi là “con người thân phận”. Sở dĩ chúng tôi đặt như vậy là vì những lí
do sau:
Thứ nhất, có sự khác nhau về nội hàm giữa hai cụm từ này. Trong cụm từ “thân phận
con người”, chữ thân phận tồn tại với tính cách là một danh từ, mang ý nghĩa khái quát, rất
rộng, bao gồm cả những đặc trưng âm bản, lẫn dương tính về số phận con người. Trong khi
17


đó, cụm từ “con người thân phận” mà chúng tôi dùng thì chữ thân phận tồn tại với tính cách
là một tính từ. Nó gợi ra thế giới con người với những đặc trưng âm bản, âm tính: những
con người buồn, cô đơn, đớn đau, bất hạnh. Như thế, cụm từ “con người thân phận” mang ý
nghĩa hẹp hơn mà lại sâu hơn so với nghĩa của cụm từ “thân phận con người”. Mà thế giới
con người trong ca từ Trịnh Công Sơn đa số là những con người thiên về nỗi bất hạnh, buồn
đau, cô đơn hơn là hạnh phúc. Do đó, chúng tôi cho rằng, dùng cụm từ “con người thân
phận” thì sẽ sát nghĩa và hợp lí hơn cách gọi truyền thống trước đây. Chúng tôi nghĩ, cách
dùng này sẽ chỉ ra được cái đặc trưng khu biệt về thế giới con người được phản ánh trong ca
từ Trịnh Công Sơn, đó là thế giới của những con người buồn.
Mặt khác, nội hàm hai cụm từ này còn có một sự khác biệt căn bản nữa. Nghĩa của
thân phận con người muốn ám chỉ đời sống cá nhân con người theo một quá trình thời gian,
trong sự tương tác với môi trường, hoàn cảnh sống. Nghĩa là, khi sinh ra, con người chưa có
thân phận, mà ai cũng như nhau cả. Nhưng theo thời gian, theo tuổi tác, theo hoàn cảnh

con người” một cách chung chung, truyền thống để khu biệt và chỉ ra nét đặc trưng trong
quan niệm của Trịnh Công Sơn về con người. Qua đó thấy được sự khác nhau trong cái nhìn
về con người của ông so với con người trong những ca khúc, sáng tác của những nghệ sĩ
khác.
1.1.2. Về khái niệm tình yêu nam nữ
Tình yêu, như tên gọi của nó, đã trở thành một chủ đề quá quen thuộc, xưa cũ với con
người. Từ xưa đến nay, con người sống, tồn tại cùng với sự có mặt của tình yêu. Có thể nói,
nếu không có tình yêu thì sự sống của con người đáng buồn và kém ý nghĩa biết chừng nào.
Cuộc sống không thể thiếu tình yêu. Người ta đã bàn tán, ca tụng rất nhiều về tình yêu trong
đời sống hàng ngày. Sách báo viết về nó cũng đã tốn bao nhiêu giấy mực. Tình yêu từ cuộc
sống đời thường đã bước vào thi ca và được lãng mạn hóa qua lăng kính khúc xạ của nhiều
nghệ sĩ qua các thời đại.
Vậy tình yêu là gì? Đó là câu hỏi muôn đời. Thật khó để đưa ra một định nghĩa đầy đủ.
Vì vậy, để đi đến khái niệm tình yêu theo cách hiểu của chúng tôi, trước hết, chúng tôi sẽ đi
lược khảo một số quan niệm tình yêu của các nhà tư tưởng, dưới những góc nhìn khác nhau
như tôn giáo, tâm lí học, giáo dục học, để cuối cùng, chúng tôi rút ra được cái nhìn đa diện,
toàn diện về tình yêu nam nữ.
Đầu tiên, chúng ta cùng đi tìm hiểu về tình yêu trong quan niệm Phật giáo. Sở dĩ chọn
Phật giáo để khảo sát là vì chúng tôi thấy quan niệm tình yêu trong Phật giáo có những điểm
rất tiến bộ, phù hợp với truyền thống dân tộc và cũng có nét gần gũi với quan niệm về tình
yêu của Trịnh Công Sơn.
Phật giáo gọi tình yêu là ái dục: ái tình và dục vọng, ham muốn.
Theo quan niệm nhà Phật, tình yêu, lòng thương yêu giữa người nam và nữ là nhu cầu
19


tất yếu của con người. Trong tình yêu có hai yếu tố: tâm và thân. Tâm: tâm hồn, tâm tưởng,
tình cảm. Thân: thể xác, thân xác. Tâm–thân có mối quan hệ khăng khít: “tâm thân như
nhất”, nghĩa là tâm hồn và thể xác là một khối thống nhất.
Về tâm, tình yêu phải có sự hòa hợp trong tâm tưởng, tâm hồn, tính cách. Phải có sự


đôi lứa, theo quan niệm Phật giáo. Theo chúng tôi, chúng chứa đựng nhiều điểm tiến bộ,
vẫn còn nguyên ý nghĩa cho đến ngày nay.
Dưới góc nhìn tâm lí học, khái niệm tình yêu mang nghĩa hẹp là tình yêu nam nữ, có
bản chất là tình người và có mối quan hệ khăng khít với tình yêu nói chung. Nó là động lực
thúc đẩy và hoàn thiện các dạng tình yêu khác (tình yêu thiên nhiên, quê hương, đất nước).
Trong cuốn Luận về tình yêu, Nguyễn Hoàng Đức viết:
Tình yêu (tình yêu lứa đôi hay tình yêu nam - nữ) là cánh cửa để mở mọi cánh
cửa. Muốn yêu nhân loại, trước hết con người phải biết yêu nhân tình của mình, muốn
sống chân lí phải biết yêu chân lí, muốn hiểu biết thì hãy mở đầu yêu nhận thức, muốn
làm thi nhân thì hãy yêu cảm xúc của mình [4; tr.123].
Tâm lí học đại cương và tâm lí học phát triển nhấn mạnh rằng tình yêu là một đặc
trưng tâm lí ở tuổi thanh niên. Trong tâm lí học đại cương, Phạm Minh Hạc cho rằng tình
yêu là vấn đề muôn thuở của loài người, là sự phát triển hợp quy luật của tâm lí con người.
Còn Vũ Dũng cho rằng tình yêu là tình cảm mãnh liệt đắm say và tương đối bền vững được
tạo nên do những nhu cầu ẩn dấu sắc thái sinh lí của chủ thể. Tóm lại, tâm lí học quan niệm
tình yêu là một dạng tình cảm đặc biệt giữa hai người khác giới, thể hiện sự hòa hợp, cuốn
hút, say mê cả về thể xác lẫn tâm hồn.
Tình yêu nam - nữ còn được xem xét dưới góc nhìn giáo dục học. Nó là “mối quan hệ
liên nhân cách, là một loại tình cảm đạo đức. Tình cảm ấy là tình cảm tự nhiên, xuất hiện
đồng thời với sự xuất hiện của con người trên quả đất” [11; tr.2].
Nhà giáo dục Nga V. Xukhômdiuxki cho rằng tình yêu là biểu hiện nền văn hóa cao
cấp của nhân loại. Chỉ cần xem một người yêu đương ra sao, ta có thể kết luận đó là người
thế nào. Dưới cái nhìn của ông, tình yêu nam nữ là tình cảm thiêng liêng, mang bản chất
người. Và cách yêu cũng là dấu hiệu để phân biệt mức độ văn minh của con người. Theo
chúng tôi, đây là một quan niệm rất tiến bộ và sâu sắc.
Dưới góc nhìn ngôn ngữ học, Hoàng Phê đã định nghĩa tình yêu là: “Tình cảm yêu
đương giữa nam và nữ”[21; tr.1052].
Qua những quan niệm về tình yêu trên đây, cuối cùng, chúng tôi rút ra được quan niệm
về tình yêu theo quan điểm riêng của chúng tôi như sau:

ngoạn. Sở dĩ như vậy là vì, ngôn ngữ (bằng lời) là phương tiện giao tiếp phổ biến và quan
trọng nhất của con người. Trong một tác phẩm âm nhạc, phần nhạc (âm thanh) và phần lời
(ca từ) có mối quan hệ biện chứng, khăng khít với nhau, tương sinh với nhau, tựa như phần
“xác” và “hồn” của tác phẩm vậy.
Song trên thực tế, cũng có nhiều tác phẩm, khi ta tiến hành bóc tách phần ca từ ra khỏi
khuông nhạc thì nó vẫn có thể tồn tại được như những bài thơ. Bởi ca từ thấm đẫm chất thơ,
mang tính thơ: đẹp, lấp lánh, có tính hình tượng, có vần, nhịp và sử dụng các thủ pháp nghệ
22


thuật của thơ. Nó rất dễ dàng đi vào lòng người đọc, người nghe bởi tính chất mượt mà, trữ
tình và những tình ý, những ý nghĩa, thông điệp nhân văn sâu sắc mà người nhạc sĩ gửi gắm
vào trong tác phẩm của mình.
Ca từ không chỉ có tính biểu hiện và chất trữ tình mà trong một số tác phẩm nó còn
chứa đựng những yếu tố triết lí, triết luận về đời sống nhân sinh. Và người thưởng thức có
thể xem chúng như những câu châm ngôn, hay những đoạn thơ, bài thơ hay. Trong nền âm
nhạc Việt Nam, Trịnh Công Sơn là một nghệ sĩ có những tác phẩm như vậy. Tác phẩm của
ông là sự kết hợp giữa chất lãng mạn, trữ tình với chất triết lí, suy tư về lẽ sống, đồng thời
lại mang âm hưởng bi kịch. Đó là nét riêng, độc đáo trong ca từ âm nhạc của Trịnh Công
Sơn mà không thể lầm lẫn với ai được.
Với những vai trò và chức năng quan trọng đã nêu trên đây, ta có thể khẳng định rằng
ca từ là một phần không thể thiếu được trong âm nhạc. Vậy ca từ trong âm nhạc là gì? Ở
đây, để tiện làm việc, chúng tôi chấp nhận quan niệm của nhà nghiên cứu âm nhạc Việt
Nam - Dương Viết Á:
Trong loại hình nghệ thuật âm nhạc, ngoài phần âm thanh đóng vai trò chính,
còn phải dùng đến ngôn ngữ, nói đúng hơn, đó là phần ngôn ngữ văn học trong âm
nhạc (lời ca trong ca khúc, hợp xướng, kịch bản trong nhạc cảnh, nhạc kịch, tên gọi,
tiêu đề của những bài hát, bản nhạc hoặc của từng chương nhạc…). Tất cả phần ngôn
ngữ văn học trong âm nhạc, ta gọi chung trong một khái niệm: ca từ [1; tr.13].
Với khái niệm nêu trên, áp dụng vào đề tài cụ thể nghiên cứu con người thân phận và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status