tìm hiểu thực trạng công tác can thiệp sớm cho trẻ khiếm thính tại một số trường chuyên biệt thành phố hồ chí minh - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
--------------------------------------------------

Báo cáo khoa học:
Đề tài CS 2009.19.41

TÌM HIỂU THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CAN
THIỆP SỚM CHO TRẺ KHIẾM THÍNH TẠI
MỘT SỐ TRƯỜNG CHUYÊN BIỆT THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH

Chủ nhiệm đề tài: Th.S Đặng Thị Mỹ Phương

TP. Hồ Chí Minh, tháng năm 20..


MỤC LỤC
MỤC LỤC ........................................................................................................ 1
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 3
1. Lý do chọn đề tài ................................................................................................ 3
2. Mục đích nghiên cứu ......................................................................................... 4
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu ................................................................. 4
4. Giả thuyết nghiên cứu ....................................................................................... 5
5. Nhiệm vụ nghiên cứu ......................................................................................... 5
6. Phạm vi nghiên cứu ........................................................................................... 5
7. Phương pháp nghiên cứu .................................................................................. 5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN .................................................................... 7
1.1. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước .................................................. 7
1.1.1. Can thiệp sớm (CTS) ở ngoài nước ........................................................... 7

2.1.2. Thực trạng về nhận thức, thái độ của phụ huynh học sinh đối với công tác
CTS cho trẻ khiếm thính. ................................................................................... 41
2.2. Kết quả khảo sát thực trạng cts cho trẻ khiếm thính trong trường
chuyên biệt ............................................................................................................ 42
2.2.1. Những vấn đề chung về khảo sát ............................................................. 42
2.2.2.Kết quả khảo sát ........................................................................................ 44
2.3. Đề xuất một số biện pháp can thiệp sớm cho tkt tại Thành phố Hồ Chí
Minh ...................................................................................................................... 56
2.3.1. Khám sàng lọc ngay khi bà mẹ có thai .................................................... 57
2.3.2. Đẩy mạnh công tác phát hiện sớm nhóm trẻ có nguy cơ ......................... 58
2.3.3. Đào tạo và bồi dưỡng kiến thức cho giáo viên về trẻ khiếm thính và kỹ
năng CTS ............................................................................................................ 58
2.3.4. Sự hỗ trợ của phụ huynh trong thực hiện nhiệm vụ học tập ở nhà .......... 59
2.3.5. Phối hợp liên ngành trong tổ chức thực hiện CTS. .................................. 60
2.3.6. Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ CTS ........................... 61
2.4. Khảo nghiệm về mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp tổ
chức can thiệp sớm cho tkt ................................................................................. 61

CHƯƠNG 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .............................................. 64
3.1. Kết luận.......................................................................................................... 64
3.2. Kiến nghị: ...................................................................................................... 65
3.2.1. Đối với Sở GD-ĐT và Trung tâm Hỗ trợ Giáo dục Hòa nhập cho người
khuyết tật ............................................................................................................ 65
3.2.2. Đối với các Trường Sư phạm .................................................................. 66
3.2.3. Đối với các trường chuyên biệt ................................................................ 67
3.2.4. Đối với phụ huynh: .................................................................................. 67

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 68

2

và can thiệp kịp thời trẻ càng có cơ hội phát triển ngôn ngữ, nhận thức, giao
3


tiếp…để có thể hòa nhập vào cộng đồng xã hội tốt hơn, so với trẻ được phát
hiện và can thiệp muộn.
Thực tiễn nghiên cứu cho thấy, công tác tổ chức thực hiện còn nhiều
hạn chế, ở một số địa phương, công tác CTS cho trẻ khiếm thính vẫn chưa
được triển khai rộng rãi và hiệu quả chưa cao. Nhiều trẻ khiếm thính chưa
được phát hiện sớm, nội dung CTS tại gia đình chưa được chú trọng và phụ
huynh chưa nhận thức được tầm quan trọng của công tác CTS, chưa có kiến
thức về tật điếc của con mình. Đa số trẻ khiếm thính còn gặp nhiều khó khăn
trong cuộc sống, sinh hoạt và học tập; hơn nữa, chưa có tài liệu đúc kết kinh
nghiệm tìm ra những điểm mạnh và hạn chế của công tác CTS tại thành phố
Hồ Chí Minh nhằm mang lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho trẻ khiếm thính. Vì
những lí do trên chúng tôi chọn “Tìm hiểu thực trạng công tác Can Thiệp
sớm cho trẻ Khiếm thính tại một số trường chuyên biệt Thành phố Hồ
Chí Minh” làm đề tài nghiên cứu nhằm ghi nhận những thành tựu đạt được,
tìm hiểu những khó khăn và đề xuất những kiến nghị để góp phần đẩy mạnh
công tác CTS cho trẻ khiếm thính tại thành phố Hồ Chí Minh.
2. Mục đích nghiên cứu
Đánh giá thực trạng công tác CTS cho trẻ khiếm thính tại một số
trường chuyên biệt Thành phố Hồ Chí Minh
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình thực hiện công tác CTS cho trẻ khiếm thính tại một số trường
chuyên biệt Thành phố Hồ Chí Minh
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng công tác CTS cho trẻ khiếm thính tại một số trường chuyên
biệt Thành phố Hồ Chí Minh

và đang tham gia chương trình CTS
7.2.3. Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
5


Lấy ý kiến cán bộ quản lý trong lĩnh vực can thiệp sớm.
7.2.4. Phương pháp thống kê toán học
Xử lý các số liệu thu được từ điều tra bằng thống kê toán học.

6


CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.1.1. Can thiệp sớm (CTS) ở ngoài nước

Lĩnh vực CTS được hình thành từ rất nhiều quan điểm khác nhau trên
cơ sở đóng góp của 4 ngành: Giáo dục mầm non, các dịch vụ y tế cho bà mẹ
và trẻ em, giáo dục đặc biệt và những thành tựu nghiên cứu về sự phát triển
của trẻ nhỏ. Lĩnh vực này bắt đầu, từ khi có sự công nhận rằng: thời kì thơ ấu
là thời kì đặc biệt quan trọng trong cuộc đời mỗi người.[25]
Ngay từ thế kĩ 17,18 vai trò người mẹ, đã được các nhà Triết học châu
Âu khẳng định là nhân tố giáo dục thích hợp nhất, cho trẻ trong vòng 6 năm
đầu tiên của cuộc sống (Aris 1962, Comenius 1592 -1670), trong giai đoạn
này trẻ tự giác, học hỏi tất cả những sự việc, tình huống phát sinh trong gia
đình [Eller 1956], cùng lúc Loke (1632 -1704) cũng đã công bố quan điểm
rằng: “nhận thức của trẻ nhỏ như một tấm bảng trắng, để trên đó những trải
nghiệm cuộc sống sẽ được viết lên”.[25]
Vận dụng những lí thuyết trên, công tác Can thiệp sớm bắt đầu được
triển khai từ thập niên 60 tại nước Mỹ, mục đích của chương trình là tạo cơ


Đầu những năm 90 của thế kỉ XX, học hỏi những kinh nghiệm của các
nước có nhiều thành công trong chương trình CTS và nhận được sự giúp đỡ
tận tình của các chuyên gia Australia, Hà Lan… Chương trình CTS tại Việt
Nam được thử nghiệm ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh vào năm 1993.
Lúc đầu chương trình mới bắt đầu với số lượng nhỏ, dần dần số em tham gia
vào chương trình tăng lên và mở rộng ra các tỉnh khác ở cả ba miền Bắc,
Trung, Nam.
Ở nước ta, CTS cho trẻ khiếm thính vẫn còn là một lĩnh vực non trẻ,
mới được triển khai và chưa được đồng bộ, những tài liệu, sách báo về CTS
còn hạn chế. Các kiến thức về CTS cho trẻ khiếm thính chủ yếu được tiếp
nhận từ nước ngoài và thực hiện CTS dựa trên kinh nghiệm thực tế ít ỏi. Đã
có một số các công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề CTS cho trẻ khiếm
thính như Luận án Tiến sĩ khoa học GD của Nguyễn Thị Hoàng Yến (2001)
đề cập tới “các biện pháp tổ chức GDHN nhằm chuẩn bị cho trẻ khiếm thính
8


vào lớp 1”. Luận văn Thạc sĩ Khoa học QLGD của Hoàng Kim Phượng
(2003) đưa ra “một số biện pháp quản lí GDHN cho TKT của hiệu trưởng các
trường mầm non dạy hòa nhập ở Hà Nội”, đề tài “Biên soạn tài liệu hướng
dẫn Giáo viên và phụ huynh có con khiếm thính, dưới 6 tuổi tham gia chương
trình CTS” của Huỳnh Thị Thanh Bình (2000) nhằm xây dựng tài liệu, phục
vụ chương trình CTS…
1.2. Một số khái niệm công cụ
1.2.1. Khái niệm can thiệp sớm

Can thiệp sớm là việc trợ giúp nhằm vào tất cả trẻ em có nguy cơ bị
điếc, là quá trình bao gồm toàn bộ từ phát hiện, chẩn đoán sớm cho đến lúc trẻ
đến tuổi đi học tiểu học. CTS liên quan đến trẻ, cha mẹ, gia đình và cả mạng

• Không có bệnh lí nội khoa, vì khi lắp đặt người điếc phải trải qua một
cuộc phẩu thuật dài 4 – 5 tiếng đồng hồ.
Trước khi Cấy điện cực ốc tai, cần phải đưọc xem xét và kiểm tra
những điều kiện có liên quan đến sức khoẻ của trẻ, liên hệ với nhà thính học,
chuyên gia can thiệp sớm để được tư vấn trước khi đưa ra quyết định.

10


1.2.4. Thính lực đồ

Thính lực đồ là biểu đồ ghi lại kết quả, kiểm tra thính lực do nhà thính
học ghi lại, độ lớn (cường độ) âm thanh mà trẻ bắt đầu nghe được ở mỗi cao
độ (tần số) được đo. Hay nói cách khác thính lực đồ cho ta biết cường độ âm
thanh nhỏ nhất mà trẻ nghe được ở mỗi tần số còn gọi là ngưỡng nghe.
Ví dụ: nói thầm 30 dB, nói thường 60 dB, tiếng xe tải chạy 85 dB, tiếng
máy bay 120 dB, tiếng máy bay phản lực 140 dB.
• Giá trị của năng lượng âm thanh trong 1 đơn vị được diễn tả bằng dB
(decibels)
• Tần số: Số chu kì trong 1 giây ( tính bằng Herzt)

Møc ®é ®iÕc dùa trªn kÕt qu¶ ®o søc nghe.

1.2.5. Hướng dẫn phụ huynh (HDPH)

Hướng dẫn phụ huynh là sự hỗ trợ và cung cấp những thông tin, cho gia
đình trẻ khiếm thính. Mục đích chính của công tác hướng dẫn phụ huynh là
cung cấp những kiến thức về tâm sinh lí, tật điếc…của trẻ khiếm thính, đưa ra
những lời khuyên và biện pháp can thiệp thích hợp với từng trẻ, hỗ trợ phụ
huynh và gia đình trẻ về mặt tình cảm.

thầm.
12


Mức 2: Điếc vừa (từ 41 – 70 dB)

Trẻ có thể nghe được những âm thanh
to, đặc biệt không nghe được tiếng nói
chuyện bình thường.

Mức 3: Điếc nặng (từ 71 – 90 dB)

Trẻ chỉ nghe được tiếng nói to, sát tai.

Mức 4: Điếc sâu (trên 90 dB)

Trẻ hầu như không nghe được, trừ một
số âm thanh thật to như tiếng sấm, tiếng
trống.

Trung bình trong 1.000 trẻ sinh ra thì có 2 trẻ bị điếc bẩm sinh từ nặng
đến nhẹ và có thêm 2 trẻ điếc mắc phải (điếc sau khi sinh). Một trẻ bị giảm
sức nghe có thể ở một trong ba trường hợp sau: Mức độ giảm sức nghe 2 bên
tai như nhau; Mức độ giảm sức nghe 2 bên tai khác nhau; Một tai bị giảm sức
nghe, 1 tai bình thường. Việc đánh giá đúng mức độ giảm sức nghe là một
trong những yếu tố quan trọng quyết định thành công của công tác CTS.
Ngoài ra, việc phân loại điếc còn dựa vào vị trí tổn thương của cơ quan thính
giác.
1.2.6.1. Điếc dẫn truyền


Sự phát triển tâm lý, thể chất của trẻ khiếm thính cũng như mọi trẻ,
được hình thành và phát triển trong điều kiện xã hội mang tính lịch sử cụ thể,
các em đều là sản phẩm của hoàn cảnh xã hội. Các em cũng có năng lực, nhu
cầu và cần được giúp đỡ để có cơ hội tham gia cộng đồng. Khuyết tật thính
giác ảnh hưởng nặng nề đến sự phát triển tâm sinh lý và nhân cách của trẻ
khiếm thính.
1.3.1. Đặc điểm về cảm giác và tri giác ở trẻ khiếm thính (TKT)

Khả năng cảm giác và tri giác của TKT cũng có những đặc điểm chung,
quy luật chung như mọi trẻ em. Trẻ nhận thức được hình dáng, kích thước,
màu sắc, mùi vị,… của mọi sự vật, hiện tượng xung quanh, thậm chí ở các em
một số cảm giác, tri giác có những biểu hiện khá tinh vi, nhạy bén. Trong khi
đó, một số cảm giác, tri giác có hạn chế, thiếu hụt như: cảm giác nghe, cảm
giác vận động.

15


1.3.1.1.Cảm giác và Tri giác nghe

Cảm giác là quá trình nhận thức cảm tính, phản ánh một cách riêng lẻ,
từng thuộc tính bên ngoài của sự vật hiện tượng, khi sự vật hiện tượng đang
trực tiếp tác động vào giác quan của con người.
Tri giác là một quá trình tâm lý, phản ánh một cách trọn vẹn dưới hình
thức hình tượng, những sự vật hoặc hiện tượng khách quan đang trực tiếp tác
động vào con người. Tri giác định hướng cho hoạt động của con người. Nhờ
có tri giác mà con người có cách xử sự thích hợp, phản ứng nhạy bén. Tri giác
cung cấp thông tin cho trí nhớ, tư duy, ngôn ngữ và là nguồn gốc của kinh
nghiệm.
Trẻ nhỏ ngay từ khi còn nằm trong bụng mẹ tuần thứ 32, đã có thể cảm


I.M. Xôlôviép, Ph.A. Rau đã chỉ ra việc mất sức nghe, không những sẽ
ảnh hưởng xấu đến cảm giác vận động của bộ máy phát âm, mà còn ảnh
hưởng đến cảm giác vận động của bộ máy hô hấp.
V.I. Phleri, N.M. Lagốpxki, Ph.A. Rau chú ý đến những đặc điểm của
cảm giác vận động ở những TKT, đã chỉ ra sự phối hợp phần nào của các
động tác ở TKT, những bước đi của trẻ không khéo léo, vụng về.
Cảm giác vận động có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc tiếp
nhận ngôn ngữ của TKT. Cảm giác vận động là phương thức duy nhất giúp
TKT tự kiểm tra sự phát âm, dựa trên cảm giác rung nhận được từ hoạt động
của bộ máy phát âm. Ngôn ngữ hình miệng, ngôn ngữ cử chỉ điệu bộ của
TKT hình thành trên cơ sở cảm giác vận động và tri giác nhìn.
1.3.1.4. Cảm giác xúc giác

Cảm giác xúc giác bao gồm cảm giác tiếp xúc đụng chạm, cảm giác da,
cảm giác vận động. Cảm giác xúc giác biểu hiện khá tập trung ở đầu ngón tay
và lưỡi, trẻ khiếm thính sau quá trình luyện tập và giáo dục mới có thể sử
dụng trong việc làm quen với khách thể mới.
Cảm giác xúc giác rung ở TKT đặc biệt phát triển. Đây là cơ sở chính
để TKT cảm nhận về thế giới xung quanh. Trẻ tri giác được nhịp điệu ngôn
ngữ, trọng âm, cũng như nguyên âm thông qua cảm giác rung.

17


Nắm được đặc điểm cảm giác và tri giác của TKT, các nhà giáo dục
sẽ có cơ sở, để vận dụng những phương pháp giáo dục phù hợp đối với những
trẻ này.
1.3.2. Đặc điểm phát triển ngôn ngữ ở trẻ khiếm thính


tiếp nhận nhờ quan sát bằng mắt.
Đối với trẻ điếc muộn, còn giữ được ngôn ngữ hình thành, nhà giáo dục
cần giữ gìn và tiếp tục phát triển ngôn ngữ đã có ở chúng, đặc biệt chú ý dạy
cách nói đúng, đọc đúng theo hình miệng, tăng cường giao tiếp bằng ngôn
ngữ nói. Riêng đối với trẻ điếc nặng, có nhiều hạn chế đáng kể về phát âm,
vốn từ, ngữ, thường sai ngữ pháp, câu cụt, từ thiếu con chữ, việc rèn luyện
cấu trúc ngữ pháp là vấn đề đặc biệt quan tâm.
1.3.2.1. Đặc điểm ngôn ngữ nói của trẻ khiếm thính

Không nghe được hoặc không nghe rõ tiếng nói của những người xung
quanh, không biết cách sử dụng cách ngắt quãng luồng khí, cách thở khi phát
âm. Vì thế, dạy phát âm là một kỹ năng rất quan trọng để hình thành ngôn
ngữ nói cho TKT. Cơ sở của sự hình thành ngôn ngữ nói cho TKT là cảm
giác, thị giác và cảm giác vận động.
Sức nghe còn lại, có vai trò đáng kể trong sự hình thành ngôn ngữ nói
ở TKT, có thể sử dụng được sự nhạy cảm của da và cảm giác xúc giác rung để
kiểm tra phát âm của ngôn ngữ nói.
Sự hình thành tiếng nói của TKT chỉ có thể diễn ra trong những điều
kiện giáo dục phù hợp, dưới sự hướng dẫn của giáo viên và các nhà ngôn ngữ
trị liệu.
1.3.2.2. Đặc điểm ngôn ngữ viết ở trẻ khiếm thính

Theo quan điểm tâm lý học: Ngôn ngữ viết là một dạng ngôn ngữ phức
tạp và khó hơn ngôn ngữ nói. Chữ cái là phương tiện thể hiện ngôn ngữ viết.
Việc tiếp thu ngôn ngữ viết dựa vào việc nắm cấu trúc ngữ pháp và biết phân
tích, tổng hợp âm thanh. Ngôn ngữ viết có thể hình thành và phát triển trên cơ
sở ngôn ngữ nói và ngược lại, ngôn ngữ viết góp phần hoàn thiện ngôn ngữ
nói.

19

Là cách tiếp nhận tiếng nói bằng thị giác, thông qua những chuyển
động của cơ quan phát âm khi nói, chủ yếu là chuyển động của môi biểu hiện
trên nét mặt giúp TKT tiếp thu ngôn ngữ một cách dễ dàng hơn.

20


1.3.3. Đặc điểm trí nhớ trẻ khiếm thính

Trí nhớ là sự phản ánh những kinh nghiệm đã trải qua của con người,
dưới hình thức biểu tượng. Trí nhớ có vai trò quan trọng vì nhờ có ghi nhớ mà
con người có thể tích lũy được kinh nghiệm, và có thể ứng dụng kinh nghiệm
vào các hoạt động thực tiễn. Trí nhớ có hai loại là ghi nhớ không chủ định
(không định trước cho mình nhiệm vụ phải ghi nhớ) và ghi nhớ có chủ định
(định trước cho mình mục đích ghi nhớ). Khi ghi nhớ có chủ định con người
cần nỗ lực ý chí

.

TKT thể hiện ghi nhớ không chủ định, về vị trí của đối tượng không
thua kém gì so với trẻ nghe. Khả năng ghi nhớ tư liệu bằng lời nói của TKT
kém. Khả năng ghi nhớ từ, cấu trúc ngữ pháp cũng khác trẻ nghe. Giữa TKT
và trẻ nghe có sự khác biệt rất ít trong việc ghi nhớ những từ trong phạm vi
bằng mắt.
1.3.4. Đặc điểm tưởng tượng của trẻ khiếm thính

Tưởng tượng là một quá trình tâm lý, phản ánh những cái chưa từng có
trong kinh nghiệm của cá nhân, bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên
cơ sở những biểu tượng đã có. Nếu không có tưởng tượng thì con người
không thể vượt qua được giới hạn trực quan của kinh nghiệm, cảm tính để đi

1.3.5.1. Các loại tư duy của trẻ khiếm thính

Tư duy trực quan hành động ở TKT, có sự liên kết trực tiếp với tri giác
nhìn. TKT có khả năng tiến hành các thao tác thuận nghịch, trong tư duy hành
động trực quan (biết được sự thay đổi hình thái khi lật ngược sự vật). Tuy
nhiên, khả năng đó chỉ thể hiện khi gặp các bài toán đơn giản, còn các bài
toán trực quan nhưng phức tạp thì trẻ có những khó khăn khi giải quyết.
Tư duy trực quan hình tượng là sự diễn đạt bằng hình tượng được TKT
tri giác với nội dung sự vật theo nghĩa đen của nó.
Tư duy trừu tượng: TKT tiếp thu ngôn ngữ muộn lại thiếu ngôn ngữ,
thiếu sự giáo dục đặc biệt, thiếu sự hình thành những khái niệm nên không thể
có tư duy trừu tượng. Vì thế nó tụt hậu đáng kể so với trẻ nghe rõ trong việc
hình thành tư duy trừu tượng.

22


1.3.5.2. Các thao tác tư duy

Các thao tác phân tích – tổng hợp: TKT thường gặp nhiều khó khăn,
hạn chế trong việc phân tích tổng hợp, điều đó là do mức độ phát triển không
hoàn thiện về ngôn ngữ. TKT khó phân chia một đối tượng thành các bộ
phận, các chi tiết, các mối quan hệ giúp cho việc nhận thức sâu sắc đối tượng.
Vì vậy, mà khả năng tổng hợp, bao quát các bộ phận, các chi tiết của một đối
tượng sau khi được phân tích ra thành một chỉnh thể mới ở TKT gặp nhiều
khó khăn.
Thao tác so sánh: TKT thường nói nhiều đến sự khác nhau hơn là sự
giống nhau. Thao tác trừu tượng hóa, khái quát hóa: TKT gặp nhiều khó khăn
trong những thao tác này, chúng thường chú ý nhiều đến những điểm không
quan trọng hơn là những điểm chính. [17]


Đối tượng giúp đỡ, hỗ trợ và tác động của chương trình CTS là trẻ
khiếm thính từ 0 - 6 tuổi và gia đình. Riêng các lớp mẫu giáo, ngoài các đối
tượng trên chương trình còn hỗ trợ cho cả giáo viên những kĩ năng dạy học
cho trẻ khiếm thính.
1.4.3. Mục đích can thiệp sớm

CTS nhằm giúp trẻ khiếm thính bình thường hóa cuộc sống. Mục tiêu
cơ bản là phát triển tối đa sức nghe còn lại của trẻ khiếm thính, phát triển khả
năng giao tiếp để trẻ có cuộc sống càng bình thường càng tốt.
1.4.4. Nội dung can thiệp sớm
1.4.4.1. Can thiệp về thính học cho trẻ khiếm thính

Đối với trẻ khiếm thính, nếu càng được phát hiện và chẩn đoán sớm,
chỉ định đeo máy trợ thính thì trẻ càng có cơ hội học nghe nói, càng có nhiều
cơ hội hiểu và vận dụng ngôn ngữ nói trong giao tiếp.
- Phát hiện TKT không chỉ bằng cách quan sát các dấu hiệu khác
thường, chương trình khám sàng lọc tật khiếm thính mà còn sử dụng các
phương pháp đo sao cho phù hợp với độ tuổi của trẻ.
- Chẩn đoán: tập hợp những phương pháp đo khám nhằm mục đích xác
định mức độ, loại điếc cũng như nguyên nhân gây điếc. Kết quả chẩn đoán là
cơ sở chỉ định đeo máy trợ thính, cấy điện cực ốc tai…, xây dựng kế hoạch
giáo dục trẻ khiếm thính.
24


Trích đoạn Những vấn đề chung về khảo sỏt xuất một số biện phỏp can thiệp sớm cho tkt tại Thành phố Hồ Chớ Khảo nghiệm về mức độ cần thiết và tớnh khả thi của cỏc biện phỏp tổ Đối với Sở GD-ĐT và Trung tõm Hỗ trợ Giỏo dục Hũa nhập cho ngườ Đối với phụ huynh:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status