BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Tô Tuấn Đạt
HOẠT ĐỘNG PHÒNG THỦ
CỦA HỆ THỐNG ẤP CHIẾN LƯỢC
Ở MIỀN NAM VIỆT NAM THỜI MỸ - DIỆM
(1961 - 1965)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Thành phố Hồ Chí Minh – 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Tô Tuấn Đạt
HOẠT ĐỘNG PHÒNG THỦ
CỦA HỆ THỐNG ẤP CHIẾN LƯỢC
Ở MIỀN NAM VIỆT NAM THỜI MỸ - DIỆM
(1961 - 1965)
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số
: 60220313
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................. 1
MỤC LỤC .................................................................................................................... 2
MỞ ĐẦU....................................................................................................................... 4
1. Lí do chọn đề tài .............................................................................................................. 4
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................................. 5
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn .......................................................... 8
4. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu ................................................................. 8
5. Đóng góp của luận văn ................................................................................................... 9
6. Bố cục của luận văn ........................................................................................................ 9
CHƯƠNG 1: HOÀN CẢNH RA ĐỜIVÀ NHỮNG HIỂU BIẾT VỀ QUỐC
SÁCH ẤP CHIẾN LƯỢC CỦA MỸ - DIỆM Ở MIỀN NAM VIỆT NAM (1961 1965) ............................................................................................................................ 10
1.1. Bối cảnh lịch sử ở miền Nam Việt Nam trước năm 1961 ....................................... 10
1.2. Nguồn gốc, lí do ra đời và mục đích lập ấp chiến lược của Mỹ - Diệm tại miền
Nam Việt Nam ................................................................................................................... 16
1.2.1. Nguồn gốc ra đời ấp chiến lược và ấp chiến lược ở miền Nam Việt Nam ...........16
1.2.2. Lí do và mục đích thành lập ấp chiến lược ...........................................................20
1.3. Đặc tính của ấp chiến lược ở miền Nam Việt Nam và những công tác phải làm
khi xây dựng ấp chiến lược .............................................................................................. 24
1.3.1. Đặc tính của ấp chiến lược ....................................................................................24
1.3.2. Những công tác Mỹ - Diệm phải làm khi thực hiện ấp chiến lược ......................26
1.4. Những hiểu biết thêm về ấp chiến lược ở miền Nam Việt Nam ............................ 28
1.4.1. Khu vực ưu tiên lập ấp chiến lược ........................................................................28
1.4.2. Ấp chiến lược khác với khu trù mật, ấp chiến đấu ...............................................29
1.4.3. Tầm quan trọng của quốc sách ấp chiến lược đối với Việt Nam Cộng Hòa ........30
1.4.4. Tại sao ấp chiến lược được coi là quốc sách hàng đầu .........................................31
CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH TỔ CHỨC, THỰC HIỆN HOẠT ĐỘNG PHÒNG
THỦ CỦA HỆ THỐNG ẤP CHIẾN LƯỢC Ở MIỀN NAM VIỆT NAM THỜI
MỸ - DIỆM (1961-1965) ........................................................................................... 33
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Sau Hiệp định Geneve 1954, đế quốc Mỹ đã đưa Ngô Đình Diệm về nước làm
thủ tướng nhằm độc chiếm miền Nam bằng chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ. Âm
mưu xâm lược của Mỹ ở miền Nam là biến nơi đây thành thuộc địa kiểu mới và căn
cứ quân sự của Mỹ để tiến công miền Bắc và hệ thống xã hội chủ nghĩa, làm “con đê”
ngăn chặn chủ nghĩa xã hội, không cho phong trào cách mạng tràn xuống vùng Đông
Nam Á. Chế độ Ngô Đình Diệm ở miền Nam Việt Nam nhận được viện trợ của Mỹ
nên yên ổn được trên năm năm. Đến năm 1960, Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt
Nam ra đời và không ngừng phát triển, Nam Việt Nam trở thành 1 trong 10 khu vực
thử thách và là khu vực thử thách đầu tiên của chiến lược toàn cầu mới của Mỹ.
Đế quốc Mỹ nhận thấyphải tăng cường chiến tranh để chống lại phong trào giải
phóng dân tộc đang bùng lên mạnh mẽ. Ngày 29/4/1961 Hội đồng an ninh quốc gia
Mỹ phê duyệt kế hoạch chống nổi dậy. Kế đến nhiều phái đoàn nghiên cứu của Mỹ
lần lượtsang Việt Nam: Phái đoàn của Phó tổng thống Mỹ Johnson (5/1961), phái
đoàn của Tiến sĩ Staley thuộc Viện nghiên cứu Stanford (6/1961), phái đoàn của
Taylor và Rosow trong Bộ Quốc phòng Mỹ (10/1961)... Sau đó kế hoạch Staley Taylor ra đời. Kế họach này có tham vọng giải quyết chiến tranh Việt Nam qua 3 giai
đọan:
Giai đoạn 1 thực hiện từ giữa năm 1961, nội dung chủ yếu là bình định miền
Nam bằng biện pháp ấp chiến lược.
Giai đoạn 2 thực hiện từ đầu năm 1963, khôi phục kinh tế, tăng cường lực
lượng quân đội, hoàn thành công cuộc bình định.
Giai đoạn 3 thực hiện đến cuối năm 1965, phát triển kinh tế, ổn định miền
Nam và kết thúc chiến tranh.
Kế hoạch mở đầu và có ý nghĩa quyết định ở giai đoạn 1 là thực hiện cho được
quốc sách ấp chiến lược. Đó vừa là mục tiêu cơ bản, là biện pháp chiến lược, vừa là
kế sách trước mắt và lâu dài để giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam.
4
“Đối với nhóm cố vấn viện trợ quân sự Mỹ (MAAG) chương trình ấp chiến lược
nhấn mạnh nhiều hơn đến quân chính quy và hỏa lực, việc di dân cũng triệt để hơn.
Dân được đưa ra khỏi những “khu vực chết” mà về sau gọi là khu vực tự do bắn phá.
Cái chung của Diệm lẫn Mỹ là kiểm soát dân với hy vọng vô hiệu hóa ảnh hưởng của
Mặt trận dân tộc giải phóng, hoặc nếu không thì cũng làm cho Việt Nam Cộng Hòa
tiếp xúc với phần đông dân chúng, xóa bỏ cơ sở quần chúng của mặt trận” [53,tr.1112]. Tác phẩm có ảnh hưởng rộng rãi trên thế giới.
- Cuốn Cuộc chiến tranh dài ngày nhất của nước Mỹ của Giáo sư sử học
George C.Herring xuất bản tại Mỹ năm 1981, đã lên án giới cầm quyền Mỹ gây ra
cuộc chiến tranh xâm lược dài ngày nhất nước Mỹ. Trong chương 3: Hợp tác có mức
độ giữa Kenơdy và Diệm (1961-1963) sách viết: “Chương trình ấp chiến lược được
quảng cáo rùm beng cũng chỉ đem lại được kết quả chút ít. Về lý luận chương trình
này nhằm tránhviệc di dân ồ ạt khỏi nơi đất tổ thiêng liêng, một điểm yếu của chương
trình dinh điền lạc hậu trước đây” [35,tr.115].
- Cuốn: Defeating communist insurgency. The lessons of Malaysia and
Vietnam (Đánh bại sự nổi dậy của Cộng Sản. Bài học từ Malaysia và Việt Nam) của
Robert Thompson (chuyên gia có nhiều kinh nghiệm của chương trình bình định
chống nổi dậy được đánh giá là thành công ở Malaysia, được Mỹ - Diệm mời về miền
Nam Việt Nam làm chuyên gia cho quốc sách ấp chiến lược). Tháng 3 năm 1965, sau
thất bại ở Việt Nam. R.Thompson về nước và tháng 7 ông viết cuốn sách này. Ông đã
đi sâu trình bày mục đích, biện pháp và quá trình tiến hành chương trình lập ấp chiến
lược ở Malaysia và Việt Nam, rút ra những nguyên nhân thất bại của chương trình
này ở Việt Nam. Ông cho rằng “nguyên nhân dẫn đến thất bại của chương trình ấp
chiến lược ở Việt Nam chủ yếu là do vai trò của Ngô Đình Nhu - Người chịu trách
nhiệm chính thực hiện ấp chiến lược ở Việt Nam đã phạm phải những sai lầm nghiêm
trọng. Trong đó, sai lầm đầu tiên là do nôn nóng thúc ép thực hiện chương trình này,
Ngô Đình Nhu đã áp đặt kiểm soát chính trị từ trên xuống chứ không phải dành được
sự ủng hộ từ dân chúng; thứ hai là quá đề cao vai trò của thanh niên cộng hòa, gây
nên sự xung đột giữa hai thế hệ già trẻ trong cộng đồng; thứ ba là do không hiểu được
Tuy nhiên đến nay chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu từng yếu tố trong
kế hoạch lập ấp chiến lược ở miền Nam đặc biệt về:Hoạt động phòng thủ của hệ
thống ấp chiến lược ở miền Nam Việt Nam thời Mỹ - Diệm (1961-1965). Vì vậy, Hoạt
động phòng thủ của hệ thống ấp chiến lược ở miền Nam Việt Nam thời Mỹ - Diệm
7
(1961-1965) là một chủ đề khoa học cần được đi sâu nghiên cứu một cách có hệ
thống, toàn diện, đóng góp chonhững hiểu biết phong phú về chiến tranh cách mạng ở
miền Nam Việt Nam và Việt Nam nói chung trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Như tên đề tài đã nêu, đối tượng nghiên cứu của luận văn là: Hoạt động phòng
thủ của hệ thống ấp chiến lược ở miền Nam Việt Nam thời Mỹ - Diệm (1961-1965).
Không gian nghiên cứu của đề tài là miền Nam Việt Nam - nơi Mỹ - Diệm
thực hiện quốc sách ấp chiến lược của mình.
Thời gian nghiên cứu của đề tài giới hạn từ năm 1961-1965. Năm 1961 là mốc
Mỹ - Diệm chuyển từ chính sách tố cộng, diệt cộng sang chiến lược chiến tranh đặc
biệt, là giai đoạn triển khai quá trình thực hiện ấp chiến lược và hoạt động phòng thủ
ấp chiến lược ở miền Nam Việt Nam. Năm 1965 là mốc đánh dấu sự thất bại hoàn
toàn của chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ - Diệm đồng thời đánh dấu sự thất
bại của quốc sách ấp chiến lược cũng như hoạt động phòng thủ ấp chiến lược ở miền
Nam Việt Nam.
Với phạm vi và thời gian đã xác định, đề tài tập trung giải quyết các vấn đề
sau: Hoàn cảnh ra đời quốc sách ấp chiến lược và hoạt động phòng thủ của hệ thống
ấp chiến lược ở miền Nam Việt Nam thời Mỹ - Diệm (1961-1965) được thực hiện
như thế nào, kết quả của hoạt động phòng thủ ấp chiến lược của Mỹ - Diệm ở miền
Nam Việt Nam ra sao.
4. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn tài liệu phục vụ cho đề tài nghiên cứu gồm
- Tài liệu Trung tâm Lưu trữ quốc gia II. Đây là nguồn tài liệu chính vì chưa có
Nam Việt Nam thời Mỹ - Diệm (1961-1965).
9
CHƯƠNG 1: HOÀN CẢNH RA ĐỜIVÀ NHỮNG HIỂU BIẾT VỀ
QUỐC SÁCH ẤP CHIẾN LƯỢC CỦA MỸ - DIỆM Ở MIỀN NAM
VIỆT NAM (1961 - 1965)
1.1. Bối cảnh lịch sử ở miền Nam Việt Nam trước năm 1961
Trong khoảng thời gian từ sau Hiệp định Giơnevơ (1954) đến những năm cuối
thập kỷ 50 của thế kỷ XX, cuộc chiến tranh lạnh giữa phe xã hội chủ nghĩa và phe đế
quốc chủ nghĩa diễn ra gay gắt trên toàn cầu.
Về phía Mỹ, trong đại chiến thế giới lần thứ hai, Mỹ không những ít bị thiệt
hại mà còn giàu thêm, kinh tế phát triển, sản lượng công nghiệp Mỹ chiếm 56% sản
lượng thế giới tư bản, sản lượng nông nghiệp gấp hai lần sản lượng của Anh - Pháp Tây Đức - Ý - Nhật cộng lại. Về quân sự, lục quân Mỹ từ hàng thứ 17 trước chiến
tranh đã vươn lên hàng đầu, hải quân và không quân cũng bỏ xa các nước tư bản
khác. Đặc biệt Mỹ độc quyền vũ khí hạt nhân cho đến 1949, khi Liên Xô thử thành
công vũ khí hạt nhân của mình.
Năm 1953, Eisenhower lên làm tổng thống nước Mỹ. Ngay khi lên cầm quyền,
ông đã khẳng định tham vọng làm bá chủ thế giới của Mỹ “Định mệnh đặt lên đất
nước chúng ta trách nhiệm lãnh đạo thế giới tự do”[39].
Đối với Việt Nam, từ đầu thế kỷ XX, Mỹ đã có ý đồ xâm lược. Từ sau năm
1953, tập đoàn Eisenhower - Nixon lên nắm quyền Nhà Trắng, đã chống lại xu hướng
của Pháp muốn giải quyết chiến tranh thông qua thương lượng với Việt Nam Dân
Chủ Cộng Hòa. Vì vậy, trong cuộc họp Hội đồng an ninh quốc gia ngày 8 tháng 1
năm1954 Tổng thống Mỹ Eisenhower nhấn mạnh: “Mỹ không được quên những lợi
ích quan trọng của mình ở khu vực này (Đông Dương)...” “Đông dương như con đê
đang bị rò rỉ và giải pháp tốt nhất là mó tay vào hơn là cả con đê bị cuốn trôi”[35,
tr.31].
Sau khi thất bại trong việc ngăn chặn ký kết hiệp định Giơnevơ, Mỹ đã lên kế
Dụ số 47 trừng phạt những tội phạm chống lại nền an ninh quốc gia, theo đó “mọi
hành động được thực hiện cho bất cứ tổ chức Cộng sản nào đều có thể bị xử tử hình”
[83, tr.33]. Không những thế, Hiếp pháp Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1956) ở điều 7
ghi rõ: “Những hành vi có mục đích phổ biến hoặc thực hiện một cách trực tiếp hay
gián tiếp chủ nghĩa Cộng sản dưới mọi hình thức đều trái với các nguyên tắc ghi
trong hiến pháp” [53, tr.33].
11
Từ giữa những năm 1956, Diệm khởi đầu giai đoạn 2 của chiến dịch tố cộng,
diệt cộng; một mặt Diệm tăng quy mô các chiến dịch càn quét của quân đội chính quy
vào các căn cứ cũ, mặt khác siết chặt các biện pháp kiềm kẹp ở cơ sở, phát hiện Cộng
sản nằm vùng, phối hợp toàn diện các mặt quân sự, hành chính, mật vụ cảnh sát,
nhằm mục đích diệt tận gốc lực lượng cách mạng, bình định nông thôn [35, tr.40].
Tuy nhiên, chúng càng đàn áp thì phong trào đấu tranh của nhân dân đòi thi
hành Hiệp định Giơnevơ, đòi các quyền dân sinh, dân chủ, chống cải cách điền địa
càng nổ ra sôi nỗi mạnh mẽ.Các cơ sở cách mạng đã vận động quần chúng nông thôn
kéo ra thành thị đòi hiệp thương tổng tuyển cử, thống nhất đất nước kết hợp với yêu
sách đòi cải thiện dân sinh, dân chủ. Phong trào đấu tranh gắn với phát triển các
nghiệp đoàn, tăng cường đoàn kết các giới công nhân.
Để chống lại cuộc bầu cử Quốc hội lập hiến của chính phủ Diệm và đòi Hiệp
thương tổng tuyển cử, toàn Nam Bộ phát động cuộc đấu tranh thống nhất từ ngày 20
tháng 10 năm 1955 đến 26 tháng 2 năm 1956. Cuộc đấu tranh diễn ra với nhiều hình
thức phong phú như biểu tình, bãi công, bãi thị.
Trước tình hình đó, Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã tăng cường đàn áp, khủng
bố các cuộc đấu tranh của quần chúng nhân dân. Dân chúng bị đe dọa về tính mạng,
bị cướp đoạt ruộng đất và tài sản; cán bộ, đảng viên, du kích bị truy, lùng bắt giết và
phải điều lắng (chuyển sang vùng khác hoạt động), hoặc mất liên lạc hoạt động. Lực
lượng cách mạng và phong trào cách mạng đứng trước tình trạng bị tổn thất nghiêm
trọng và bị đẩy lùi xuống mức gần như thoái trào.
với đấu tranh vũ trang nhằm đánh bại âm mưu của Mỹ - Diệm.
Tháng 11 năm 1959, xứ Ủy Nam Bộ họp Hội nghị đề ra chủ trương thực hiện
tinh thần Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng, trong đó tập trung vào những công
việc khẩn cấp như:
- Đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng để đẩy Mỹ - Diệm
vào thế bị động và cô lập hơn nữa.
- Đẩy mạnh hoạt động vũ trang tuyên truyền, nhằm thiết thực hỗ trợ phong trào
đấu tranh chính trị của quần chúng.
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục quần chúng để nâng cao ý thức
căm thù và quyết tâm cách mạng trong cuộc đấu tranh đánh đổ ách thống trị của Mỹ Diệm.
13
- Không ngừng củng cố, mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất chống Mỹ Diệm.
- Xúc tiến việc đẩy mạnh công tác binh vận [105, tr.184].
Ngay sau khi có chủ trương của Xứ ủy, cuộc “Đồng Khởi” ở Bến Tre đã nổ ra.
Ngày 17 tháng 1 năm 1960, dưới sự lãnh đạo của tỉnh ủy Bến Tre, 3 xã Định Thủy,
Phước Hiệp và Bình Khánh của huyện Mỏ Cày đã tiến hành khởi nghĩa. Từ Mỏ Cày,
phong trào nhanh chóng lan ra toàn tỉnh. Đến cuối tháng 1 năm 1960, gần 59 xã của
Bến Tre được giải phóng. Từ Bến Tre phong trào như tức nước vỡ bờ lan rộng khắp
miền Nam. Tính đến cuối năm 1960, tại các tỉnh ở Nam Bộ có 600/1.298 xã được
giải phóng, ở các tỉnh ven biển miền Trung có 904 trong tổng số 3.829 thôn được giải
phóng, còn ở Tây Nguyên có tới 3.200 trong tổng số 5.721 thôn được giải phóng [53,
tr.44].
Thắng lợi của phong trào “Đồng Khởi” đã giáng một đòn nặng nề vào chính
quyền tay sai Ngô Đình Diệm, chứng tỏ chiến tranh đơn phương của Mỹ - Diệm hoàn
toàn thất bại. Mặt khác, đánh dấu một bước phát triển nhảy vọt của cách mạng miền
Nam từ thế giữ gìn sang thế tấn công, từ đấu tranh chính trị sang đấu tranh kết hợp
giữa chính trị với vũ trang.
- Dành lại vùng nông thôn đông dân, nhất là vùng Đồng Bằng sông Cửu Long
và các tỉnh vành đai Sài Gòn
- Ra sức ngăn chặn biên giới, phong tỏa vùng biển, cắt mọi chi viện từ Bắc vào
Nam, bóp chết phong trào quần chúng cách mạng dành thắng lợi trong thời gian ngắn
[53, tr.46].
Biện pháp chính của chiến tranh đặc biệt là hành quân càn quét của quân đội
kết hợp với bình định gom dân lập ấp chiến lược của lực lượng bảo an, dân vệ ở các
địa phương để làm nhiệm vụ bình định, khống chế ấp chiến lược.
Mỹ cho rằng, muốn thiết lập chủ nghĩa thực dân mới ở các nước nông nghiệp
thì trước hết phải tranh thủ được trái tim, khối óc của nông dân, tách nông dân ra khỏi
lực lượng cách mạng, giành quyền thống trị trên toàn bộ nhân dân (chủ yếu là nông
dân) và lãnh thổ nước đó (phần lớn là nông thôn). Như vậy, nông thôn là địa bàn Mỹ
- Diệm tập trung đánh phá dai dẳng nhất, ác liệt nhất, khó khăn và tốn kém nhất để
thực hiện cho kỳ được chương trình lập ấp chiến lược.
15
1.2. Nguồn gốc, lí do ra đời và mục đích lập ấp chiến lược của Mỹ - Diệm tại
miền Nam Việt Nam
1.2.1. Nguồn gốc ra đời ấp chiến lược và ấp chiến lược ở miền Nam Việt Nam
1.2.1.1. Nguồn gốc ra đời ấp chiến lược
Ấp chiến lược ra đời từ những năm 40 và 50 khi đế quốc Mỹ và Anh áp dụng
để chống quân nổi loạn ở Philipin và Malaysia.
Ở Malaysia, tháng 4 năm 1950 trung tướng người Anh là Harold Briggs được
cử làm Tổng tư lệnh phụ trách chiến dịch bài trừ Cộng sản. Kế hoạch Griggs gồm hai
nội dung chính, trong đó nội dung thứ nhất được coi là chính sách thiết lập những
khu làng mới nhằm cắt đứt mối quan hệ giữa nhân dân với Cộng sản. Theo kế hoạch
này, thực dân Anh đã thiết lập những khu làng mới, bao bọc bằng dây thép gai, do
chiến lược hơn là các làng mới của Malaysia” [38, tr.39].
Từ những kinh nghiệm đó, Mỹ - Diệm tiến hành xây dựng các ấp chiến lược ở
miền Nam Việt Nam. Ấp chiến lược cũng là những trại tập trung dân như làng mới
nhưng với một hệ thống quy mô hơn, kỹ thuật cấu trúc, tổ chức hoạt động phòng thủ,
bố phòng kiên cố, phức tạp và đa dạng hơn, bằng những thủ đoạn chính trị, tâm lý
tinh vi thâm độc với những phương tiện chiến tranh hiện đại.
1.2.1.2. Ấp chiến lược ở miền Nam Việt Nam
Từ cuối năm 1960, với sự ra đời của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam
Việt Nam, cách mạng miền Nam đã có những bước chuyển mới. Chiến tranh du kích
xuất hiện ở nhiều địa phương với lực lượng đông đảo hàng vạn người đấu tranh
chống khủng bố, gom dân, dồn làng ngày càng tăng, đã làm tan rã và tê liệt chính
quyền Mỹ - Diệm trong một vùng rộng lớn nông thôn và rừng núi.
Trước thất bại liên tiếp của chính sách tố cộng, dinh điền, trù mật; để cứu vãn
tình thế, nhiều tướng tá và phái đoàn quân sự Mỹ, Anh, Mã Lai..., đã liên tục đến
miền Nam nghiên cứu tình hình và bàn kế hoạch đối phó. Theo cái gọi là Dự án tăng
cường quân sự của Mỹ, một chính sách mới được ra đời, chính sách ấp chiến lược
được chúng coi là quốc sách, một công cuộc đại quy mô quyết định sự tồn vong của
chúng.
Để thực hiện kế hoạch này, Mỹ đưa nhiều cố vấn, chuyên viên, phương tiện,
dụng cụ xây dựng ấp chiến lược đến miền Nam, cùng với Diệm vạch kế hoạch xây
dựng ấp chiến lược và huấn luyện cho quân đội Diệm về chiến tranh rừng núi, cách
17
đánh du kích. Theo sự chỉ đạo của Mỹ, Diệm đã thành lập một Ủy ban chính phủ đặc
trách ấp chiến lược gồm các bộ trưởng phụ tá quốc phòng, nội vụ, công dân vụ, cải
tiến nông thôn, giáo dục và cả tổng tham mưu trưởng, đứng đầu là Ngô Đình Nhu.
Bên cạnh đó có thêm một cơ quan đặc biệt phụ trách ấp chiến lược gọi là Ủy ban ấp
chiến lược của Mỹ, trực tiếp hoạt động tận cơ sở, đôn đốc và chỉ huy việc thực hiện
dân vào các ấp chiến lược, chúng muốn tách nhân dân ra khỏi lực lượng vũ trang
cách mạng để dễ dàng tranh thủ và bóc lột nhân dân, bắt lính, cô lập lực lượng vũ
trang cách mạng, phá sạch tất cả những nơi lực lượng vũ trang cách mạng có thể làm
chỗ dựa để hoạt động. Đồng thời, ngăn cách các vùng biên giới không cho lực lượng
vũ trang cách mạng có thể từ ngoài vào và từ trong ra để tiêu diệt.
Để thực hiện kế hoạch này, Mỹ - Diệm đã chủ trương dùng các chất độc hóa
học nhằm tạo thành một vùng đất hoang vắng, lập một vành đai trắng chạy dài từ giới
tuyến 17 dọc theo biên giới Việt - Lào, Việt - Campuchia. Bằng những cuộc hành
quân lớn chúng dự định lập 17.000 ấp chiến lược và chúng gọi đó là cái để “bổ sung
cho các khu trù mật, một yếu tố quyết định thắng lợi trong chiến tranh du kích, vì có
quy dân lập ấp như vậy, chính quyền mới nắm được dân, không cho dân tiếp xúc với
Cộng sản” [5, tr.5].
Do quan niệm về ấp chiến lược như vậy, nên tính chất toàn diện của kế hoạch
này rất được Mỹ - Diệm đề cao. Chính Ngô Đình Nhu, người phụ trách kế hoạch ấp
chiến lược cũng đã xác nhận: ấp chiến lược có một giá trị rất lớn về cả ba mặt chính
trị, kinh tế, quân sự, nó là “một chiến trận ở nông thôn, ngoài chiến trận thuần tuý
của quân đội” [5, tr.5]. Như vậy rõ ràng ấp chiến lược là một công cụ nhằm đánh vào
nhân dân miền Nam, chủ yếu đánh vào nông dân miền Nam để dành lại khối nhân lực
và vật lực vô tận đã mất ở nông thôn, phục vụ cho mục đích xâm lược của chúng.
1.2.1.3. Nhận định về vai trò của ấp chiến lược
Mỹ - Diệm nhận định, “mục đích tối hậu của quốc gia Việt Nam là xây dựng
một mẫu người mới trong xã hội mới. Nói cách khác, cách mạng Việt Nam nhằm kiến
tạo một nền văn minh mới trên căn bản của quan niệm mới về giá trị con người. Vì
vậy, quá trình đấu tranh đã vượt qua giai đoạn thứ nhất mà thành quả là phá vỡ các
cơ cấu chế độ cũ, thiết lập một chế độ mới. Đó là giai đoạn cách mạng chính trị, kinh
tế để cải tạo khung cảnh của xã hội, của quốc gia. Khung cảnh của chế độ bao gồm
các cơ cấu hoạt động chính trị (hiến pháp, chính phủ, quốc hội, luật lệ...), cơ cấu
chính quyền địa phương và cơ cấu hoạt động kinh tế. Cách mạng xã hội nhằm cải tạo
19
kích, tập kích theo lối tứ khoái nhất mạn (một chậm bốn nhanh) buộc địch phải lộ
diện ứng chiến trong những hoàn cảch bất lợi cho địch” [75, tr.4].
20
Với ý nghĩa chiến lược về chính trị, “chúng cho rằng từ trước đến nay đồng
bào xã, ấp chỉ biết chế độ dân chủ qua báo chí, qua đài phát thanh hoặc qua các hoạt
động của nghị trường. Bây giờ có ấp chiến lược, đồng bào xã, ấp sẽ được hưởng thụ
trực tiếp các biện pháp dân chủ, sẽ được quyền bầu cử đại diện để làm việc xã, việc
ấp hoặc tham gia ý kiến vào các chương trình, kế hoạch công tác hữu ích cho xã ấp”
[75, tr.4].
Với ý nghĩa chiến lược về kinh tế xã hội” chúng nêu cao các khẩu hiệu tôn
trọng nhân vị, cộng đồng, đồng tiến. Với tổ chức ấp chiến lược, đồng bào nông thôn
sẽ thấy rõ các khẩu hiệu đó được thể hiện ở các quy định bổn phận cũng như quyền
lợi của mọi người dân xã, ấp trong tinh thần công bình xã hội” [75, tr.4].
1.2.2.1. Lí do thành lập ấp chiến lược
Theo tài liệu lưu trữ củaViệt Nam Cộng Hòa hiện bảo quản tại Trung tâm Lưu
trữ quốc gia II có nhan đề Kế hoạch xây dựng ấp chiến lược thì trong chương trình
cách mạng cứu quốc và kiến quốc, Mỹ - Diệm thấy Việt Nam phải đương đầu với
một cuộc chiến tranh trên hai mặt trận: Mặt trận chống tình trạng chậm tiến và mặt
trận chống Cộng sản phá hoại.
Để thoát khỏi tình trạng chậm tiến, chính quyền Sài Gòn đã thực hiện nhiều
chương trình kế hoạch công tác lớn như mở mang dinh điền, cải cách điền địa, xây
dựng công - kỹ nghệ, chỉnh trang đô thị, lập khu trù mật, cải tiến hệ thống đường sá,
cầu cống... nhằm đem lại những lợi ích lớn lao cho cộng đồng. Tuy nhiên, trên mặt
trận chống Cộng sản phá hoại, Việt Nam Cộng Hòa gặp những khó khăn và những
vấn đề mới. Vì vậy chúng hy vọng với những thắng lợi của chúng về mọi mặt, Cộng
sản không còn hy vọng dùng kế hoạch quấy rối, phá hoại để ngăn cản sự trưởng
thành của chế độ Việt Nam Cộng Hòa.
“- Có nhiều chương trình công tác sau khi hoàn thành, nhân dân chưa được
hưởng đã bị Cộng sản phá hoại.
- Nhân dân không phát huy được khả năng xây dựng xóm làng vì bị kiềm tỏa,
ngăn cản.
- Những phương tiện, quyền lợi do chính phủ đem đến cho nhân dân, bị Cộng
sản cướp đoạt, phá hoại như đốt máy cày, cướp tiền cho vay nông tín...
- Tài sản của nhân dân đã bị cướp đoạt một cách trắng trợn dưới nhiều hình
thức lạc quyên, thu thuế, mua chịu” [50, tr.6].
22
Theo chúng lí do thành lập ấp chiến lược là để chiến thắng cả hai mặt trận
chống Cộng sản phá hoại và chống tình trạng chậm tiến, Mỹ - Diệm chủ trương hoàn
thành cuộc cách mạng nhân vị đến tận xã, thôn trong khuôn khổ cộng đồng, đồng
tiến.
Muốn vậy, theo chúng phải “tổ chức thôn ấp thật chu đáo, kiến tạo cơ sở hành
chính tại nông thôn thật vững chắc, quyết tâm bảo vệ chế độ, sống chết với Cộng sản
và có đủ khả năng giáo dục tổ chức, lãnh đạo nhân dân tiêu diệt Cộng sản ở chính
địa phương mình” [50, tr.6].
Ngoài ra, Việt Nam Cộng Hòa cho rằng “tiến vào nông thôn còn để kiện toàn
hạ tầng cơ sở cách mạng, xây dựng chế độ từ đơn vị nhỏ nhất của quốc gia. Dùng
ngay những phương tiện kết hợp với khả năng của mỗi người dân để xây dựng bảo vệ
và phát triển những thắng lợi của cách mạng” [50, tr.6].
Từ đó, Mỹ - Diệm cho thực hiện các mục tiêu cách mạng ngay tại nơi mà
người dân cư ngụ và sinh hoạt thật sự. Tạo điều kiện cho nông dân phát huy các khả
năng tiềm tàng, tận dụng mọi sáng kiến của nhân dân trong công cuộc xây dựng một
xã hội mới, trong đó mọi người có cơ hội đồng đều để phát huy trong tự do, thịnh
vượng. Thực hiện phương châm làm thật nhiều, tiến thật nhanh, nhưng không gây
nhiều xáo trộn đến sinh hoạt cố hữu của gia đình và cá nhân. Phá tan những cảm nghĩ