BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ TUYẾT NGA
KHUYNH HƯỚNG HIỆN THỰC CHỦ NGHĨA CỦA
MARGARET MITCHELL TRONG TÁC PHẨM “CUỐN
THEO CHIỀU GIÓ”
LUẬN ÁN THẠC SĨ VĂN HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2004
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy cô và
bạn bè. Tôi xin chân thành cám ơn.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với PGS. Lương Duy Trung, người đã
trực tiếp chỉ bảo, hướng dẫn tận tình, giúp tôi hoàn thành luận văn này.
Bình Dương, tháng 3 năm 2004.
Nguyễn Thị Tuyết Nga.
3
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................. 3
MỤC LỤC .................................................................................................................... 4
2.6. Nghệ thuật xây dựng bối cảnh ..................................................................................76
2.6.1. Trước chiến tranh: .................................................................................................77
2.6.2. Trong chiến tranh: .................................................................................................79
4
2.6.3. Sau chiến tranh: .....................................................................................................80
2.6.4. Thời kiến thiết: ......................................................................................................81
2.7. Hoàn cảnh điển hình ..................................................................................................83
2.7.1. Tâm trạng và sự chuẩn bị tham gia chiến tranh của những người miền Nam ......83
2.7.2. Diễn biến chiến tranh và hậu quả ..........................................................................85
2.7.3. Cảm nhận của các nhân vật trong truyện về chiến tranh .......................................86
2.7.4. So sánh với các tác phẩm viết về chiến tranh khác ...............................................87
CHƯƠNG 3: .............................................................................................................. 94
3.1. Ý nghĩa tiếp nhận .......................................................................................................94
3.2. Kết luận .......................................................................................................................97
PHẦN PHỤ LỤC ..................................................................................................... 102
SÁCH THAM KHẢO ............................................................................................. 105
5
DẪN NHẬP
1. Lý do chọn đề tài
Thế kỷ hai mươi đánh dấu một giai đoạn mới trong lịch sử văn chương Hoa Kỳ. Đó là
thời kỳ mà giới sáng tác vượt biên giới quốc gia để chinh phục những phần đất còn lại của thế
giới. Đây cũng là lức các nhà văn, nhà thơ, nhà biên kịch tài danh lỗi lạc đồng loát xuất hiện
trên văn đàn. Họ không những được đón nhận nồng nhiệt từ các độc giả trong nước mà còn
thuyết được một ngàn trang, xoàng xoàng, dầy cộm nhưng không hay mà cũng không
dở”, còn William thì mô tả nó như là một kiệt tác giải trí của quần chúng và nhất định không
phải là tác phẩm nghệ thuật (If it’s popular, it can’t be art). Ông Trần Hoàng nhận xét: “Mặc
dù CTCG còn nhiều thiếu sót về mặt quan điểm lịch sử và chính trị, mặc dù những sai lầm
nghiêm trọng trong nhận thức đối với bọn 3K, chúng ta không thể phủ nhận cống hiến của
MM (Margaret Mitchell) đối với kho tàng văn học thế giới”.
Riêng ở Việt Nam, dù xuất hiện và được yêu mến đã gần bốn mươi năm, nhưng chưa hề
có bất cứ một công trình chuyên luận nào mang tính chất khảo sát, phân tích, hay phê bình
toàn diện về tác phẩm này. Ngay cả những bài viết ngắn trên các tạp chí chuyên san về văn
nghệ cũng chỉ mang tính chất giới thiệu về tác phẩm hoặc tác giả hơn là phê bình phân tích tác
phẩm một cách có hệ thống. Chúng tôi cũng được biết rằng ở ngay nước Mỹ, các bài viết về
CTCG có thể lên đến con số hàng ngàn, hàng vạn, nhưng hầu hết lại nghiêng về phân tích bộ
phim và kỹ xảo điện ảnh hơn là về giá trị văn chương nghệ thuật của một tác phẩm văn học.
Người ta kinh ngạc về số lượng sách phát hành, về doanh thu của bộ phim, về sự đón nhận
vượt thời gian và không gian của con người dành cho CTCG, nhưng dường như ngần ấy
chuyện vẫn chưa đủ cho các vị Hàn lâm để mắt đến tác phẩm.
Những điều vừa trình bày đã gợi cho chúng tôi nhiều suy nghĩ và sự quan tâm đến
CTCG. Đâu là giá trị đích thực của tác phẩm này, và đâu là yếu tố đã làm nên sự thành công
vang dội của nó ? Nếu như đánh giá của một số người là đúng khi cho rằng tác phẩm chỉ đáp
ứng được nhu cầu giải trí của quần chúng phổ thông, bình dân, vậy liệu có sự phân chia tách
bạch giữa một tác phẩm văn học đích thực và một tác phẩm thuần túy giải trí ? Chúng ta biết
rằng mỗi tác phẩm văn học có đời sống lịch sử và số phận của nó. Có những tác phẩm hiển
hách một thời, rồi sau bị lãng quên. Có tác phẩm được tiếp nhận dè dặt lúc đầu, nhưng về sau
lại có vị trí vững vàng trong dòng trôi của các thế hệ và thời đại lịch sử. “Thống kê xã hội học
cho biết 80% ấn phẩm năm trước, năm sau đã bị bỏ quên, và cứ hai mươi năm, số ấn phẩm bị
quên là 99%. Dĩ nhiên số bị lãng quên cũng đã từng có vai trò lớn lao một thời trong đời sống
và trong văn học. Những số sống được nhờ chứng tỏ số phận chúng không phải chỉ do bạn
đọc định đoạt mà còn do phẩm chất bên trong của chúng” (Lý luận văn học, tập I - Phương
Lựu).
7
Trong quá trình nghiên cứu tác phẩm, chứng tôi đã vận dụng những quan điểm của
ngành lý luận phê bình hiện đại như thi pháp học, phong cách học, và đặc biệt là lý luận sáng
tác hiện thực chủ nghĩa của các nhà lý luận phê bình lỗi lạc trong và ngoài nước như Belinxki,
8
N. A. Gulaiep, Trần Đình Sử để phát hiện ra ý nghĩa tác phẩm theo những bình diện mới, góc
độ mới.
Vì vậy, từ chỗ chỉ để trả lời những thắc mắc cá nhân, chúng tôi đi đến ý định thực hiện
một công trình khảo sát tác phẩm có tính chuyên môn cao hơn, để tìm hiểu vì sao bằng đường
lối sáng tác hiện thực phổ biến, tác giả đã có thể đưa một bộ tiểu thuyết thành một tác phẩm
văn chương được yêu mến qua bao nhiêu thế hệ, bao nhiêu dân tộc khác nhau từ màu da, tiếng
nói, tín ngưỡng... đến như thế?
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Các tác phẩm văn học lớn trên thế giới luôn chứa đựng nhiều nội dung phong phú mà
người ta khó lòng khám phá trọn vẹn và trình bày đầy đủ được. Từ góc độ phán xét, từ bối
cảnh không gian thời gian khác nhau, các nhận định thường có nhiều sai biệt đáng kể và đôi
khi cũng dẫn đến những bất đồng tranh luận gay gắt giữa các nhà phê bình. Đối với một tác
phẩm xuất hiện đã gần bảy mươi năm nay và được đón đọc qua bao nhiêu thế hệ khác nhau
trên thế giới như CTCG nhưng cho tới nay vẫn chưa được sự đánh giá thống nhất từ các nhà
phê bình. Điều này cho thấy tính phức tạp và khó khăn trong việc đánh giá nhận định tác phẩm
này.
Vì vậy, chúng tôi không có tham vọng thực hiện một công trình nghiên cứu khảo luận có
tính toàn diện, đặc biệt trong tình trạng thiếu sót tư liệu tham khảo như hiện nay. Chúng tôi hy
vọng giới hạn phạm vi đề tài nghiên cứu ở phương diện chủ nghĩa hiện thực mà tác giả đã sử
dụng trong quá trình sáng tác. Từ đó để hiểu được những đặc trưng nghệ thuật và nhiệm vụ
nghệ thuật cụ thể mà nhà văn tự đặt ra cho mình. Chúng tôi cũng xem xét toàn bộ tác phẩm
bao gồm hệ thống các nhân vật, hệ thống các sự kiện, tình tiết cũng như các mối tương quan
của chi tiết tạo hình, biểu hiện, các tương quan về không gian và thời gian tạo nên bức tranh
sinh động về cuộc sống và tạo nên hiệu quả rung động sâu xa trong lòng người đọc lâu dài của
4. Robert Hughes, Myth and Gender in Gone With the Wind.
5. Many author, Literary history of the United States.
4. Phương pháp nghiên cứu
Từ việc phân tích các nhân vật, các mối quan hệ giữa các nhân vật, các yếu tố thời gian,
không gian trong tác phẩm, các mối liên kết giữa nhà văn với thời đại, giữa tác phẩm và người
tiếp nhận, ý nghĩa hiện thực của tác phẩm, so sánh tác phẩm với một số tác phẩm khác cùng
chủ đề, cùng thời đại nhằm làm nổi bật ý nghĩa về khuynh hướng hiện thực của Mitchell. Luận
văn xác định các phương pháp nghiên cứu sau:
• Phương pháp nghiên cứu tiểu sử tác giả
10
• Phương pháp phân tích
• Phương pháp so sánh đối chiếu
• Phương pháp tiếp cận thi pháp.
5. Mục đích nghiên cứu
Khảo sát tác phẩm "Cuốn theo chiều gió" của MM từ góc độ hiện thực, luận văn hướng
tới việc lý giải vì sao tác phẩm luôn hấp dẫn người đọc khắp hành tinh ở mọi thời đại? Ý nghĩa
hiện thực của tác phẩm đã đóng góp cho nhận thức của người đọc như thế nào? Chủ nghĩa
hiện thực Mỹ có ảnh hưởng đến nhiều quốc gia trên thế giới ra sao?Và ở Việt Nam, tác phẩm
được đón như thế nào?
6. Bố cục luận văn
Ngoài phần dẫn nhập, luận văn gồm có ba chương
CHƯƠNG 1: THỜI ĐẠI, TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM
1.1. Thời đại: Vài nét về bối cảnh lịch sử, xã hội Mỹ nửa sau thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX
1.1.1. Nạn kỳ thị chủng tộc và cuộc chiến tranh Nam - Bắc.
1.1.2. Các đặc điểm văn hóa và địa lý của vùng đất phía Nam nước Mỹ, bang Georgia.
1.1.3. Sơ lược về chủ nghĩa hiện thực phương Tây.
1.1.4. Chủ nghĩa hiện thực Mỹ
1.2. Tiểu sử tác giả:
b. Diễn tiến chiến tranh và hậu quả
c. Cảm nhận của các nhân vật trong truyện về chiến tranh.
d. So sánh với một vài tác phẩm viết về chiến tranh
CHƯƠNG 3
Ý nghĩa tiếp nhận.
Kết luận
12
7. Những đóng góp của luận văn
Luận văn cố gắng đi sâu vào phân tích các nhân vật, các sự kiện trong tác phẩm, tìm mối
liên kết giữa sự kiện lịch sử với sự kiện trong tác phẩm, giữa xây dựng nhân vật với nhân vật
điển hình trong phương pháp sáng tác hiện thực nhằm làm rõ khuynh hướng hiện thực của
Mitchell.
Luận văn cũng khái quát quá trình tiếp nhận, nêu ý nghĩa, giá trị đạo đức, giá trị thẩm mỹ
của tác phẩm.
13
CHƯƠNG 1: THỜI ĐẠI, TÁC GIẢ, TÁC PHẨM
1.1. Thời đại
Đầu thế kỷ XIX biên giới Mỹ mở rộng về phía Tây đến sông Mississippi và xa hơn. Năm
1828, Andrew Jackson, người vùng biên giới Tennessee, sinh ra trong một gia đình nghèo đã
đắc cử Tổng thống. Kỷ nguyên của Jackson dẫu đã đổi mới nhiều song số phận những người
nô lệ vẫn chưa thay đổi được bao nhiêu. Những từ từng được nhắc nhở đến nhiều nhất trong
Hiến pháp "mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng'' (all men are created equal) thực ra vô
nghĩa với 1,5 triệu người nô lệ lúc đó. Chiến tranh Mexico 1846-1848 đưa về cho Mỹ nhiều
vùng đất mới và vấn đề nới rộng tình trạng nô lệ được đề cập đến. Năm 1860 Abraham
Lincoln đắc cử Tổng thống. Ông tuyên bố phải bãi bỏ chế độ nô lệ và thống nhất đất nước.
tháng 5 năm 1863, dưới sự chỉ huy của tướng Lee, quân miền Nam đã đánh tan phần lớn quân
đội Liên minh ở Chancellorsville, Virginia và tiến về phía Bắc đến tận Gettysburg,
Pennsylvansia. Nhưhg càng đánh, chiến trận càng xoay chiều, quân miền Nam suy yếu dần.
Vào tháng 9 năm 1864, tướng miền Bắc là ông Wiiliam T. Sherman đã tiến quân về
Atlanta và chiếm được thành phố này. Sau đó, ông mở rộng chiến trường hướng ra phía biển
mà ngày đó vẫn gọi là "chiến dịch tiến quân về biển". Đây là một cuộc hành trình dài qua
những vùng "vườn không nhà trống" theo hướng Tây Nam tới Savannah. Sau đó, Sherman
quay về phương Bắc, kết hợp với tướng Grant khép chặt vòng vây, tiêu diệt quân của tướng
Lee.
Đến tháng 4-1865, Richmond quy hàng và ngày 9-4, tướng Lee đầu hàng tại
Appomattox. Kết thúc cuộc chiến tranh tương tàn đẫm máu : quân liên minh có 365.000 người
chết, 282.000 người bị thương. Con số thương vong của miền Nam không được biết chính xác
nhưng chắc chắn là không nhỏ, riêng trong trận đánh tại Gettysburg, binh sĩ đôi bên đã chết
6.000 người và bị thương đến 40.000 người khác
Vào những năm 1860, hầu hết người dân Mỹ sống trong những trang trại hay trong
những làng nhỏ. Nhưng đến khoảng trước năm 1919, nửa dân số đã tập trung vào khoảng 12
đô thị dẫn đến một vấn đề nhạy cảm về đô thị hóa và công nghiệp hóa. Sự nghèo đói, nhà ở
quá chật chội, điều kiện sống kém vệ sinh, lương thấp và những kìm hãm không phù hợp với
hoạt động kinh doanh đã đưa đến nhiều cuộc đấu tranh đòi quyền lợi của dân nghèo. Họ đa
phần là những người bỏ nông thôn ra thành thị để làm thuê và là dân nhập cư đến từ các quốc
gia khác. Số người này nhiều như thác đổ . Họ sẵn sàng chấp nhận làm công với giá lao động
rẻ mạt.
Nhiều vấn đề về đạo đức và xã hội phát sinh sau những phát triển như vậy đã tạo ra một
bức tranh xã hội Mỹ nhiều màu sắc, hỗn độn và rối ren trong những thập niên đầu của thế kỷ
XX
16
1.1.2. Vài nét về văn hóa và địa lý vùng đất phía Nam, bang Georgia
1.1.3. Bang Georgia(GA).
Diện tích:153.078km2. Thủ phủ là Atlanta. Dân số: 8.186.453 người. Là bang ở miền
Đông Nam, trước kia sống nhờ đồn điền bông và nô lệ da đen, bị tàn phá nặng nề sau cuộc nội
chiến. Bộ phim "Cuốn theo chiều gió" lấy nơi đây làm bối cảnh. Bang Georgia có các thành
phố lớn như: Augusta, Columbus, Savannah, Macon, Albany. Atlanta là địa điểm đóng đại
bản doanh của đài truyền hình CNN và hai tập đoàn nước giải khát lớn nhất thế giới là Pepsi
và Coca - cola. Atlanta cũng là nơi đã tổ chức Olympic mùa hè 1996. Georgia có trường Đại
học Emory và viện Công nghệ Georgia ( Georgia Institute of Technology) khá uy tín.
1.1.4. Khái quát về chủ nghĩa hiện thực phương Tây
Hình thành và phát triển đã trên một trăm năm, ngày nay phương pháp sáng tác hiện thực
chủ nghĩa đã khẳng định được những giá trị tiến bộ và ưu thế so với các phương pháp sáng tác
khác. Do đó nó được các tác giả lựa chọn như là phương pháp biểu hiện hiệu quả nhất các tư
tưởng và tình cảm. Những nhà nghiên cứu chuyên môn và giới phê bình văn học cũng đã xây
dựng nên một nền tảng lý luận vững vàng, đầy đủ cho phương pháp này. Vì vậy, trào lưu hiện
thực ngày nay không còn là chuyện mới mẻ, xa lạ. Trong phần này, chúng tôi chỉ xin nhắc lại
sơ lược đôi nét chính yếu về những đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa hiện thực đủ làm cơ sở
phục vụ cho việc tìm hiểu và phân tích tác phẩm CTCG.
Đối tượng sáng tác của các nhà văn hiện thực là mối mâu thuẫn giữa con người với con
người, giữa con người với xã hội, con người với tự nhiên. Miêu tả tính cách nhân vật trong các
tác phẩm hiện thực thường mang những nét tiêu biểu cho một lực lượng xã hội nhất định nào
đó. Các tính cách hình thành, hoạt động và phát triển luôn nằm trong những hoàn cảnh của
mâu thuẫn và đấu tranh giai cấp. Hoàn cảnh này qui định sự vận động, diễn biến của tính cách,
một sự vận động không cơ giới, mà theo logic nội tại của bản thân tính cách. Và thường được
gọi là hoàn cảnh điển hình.
Chính vì vậy mà các nghệ sĩ hiện thực chủ nghĩa thường phân tích khá sâu sắc, tinh vi
tâm lý nhân vật. Nhân vật được thể hiện với tất cả tính đa dạng, phong phú của đời sống nội
tâm, vừa là sản phẩm của hoàn cảnh, chịu sự chi phối của hoàn cảnh, vừa có tính độc lập bên
trong. Cảm xúc, suy nghĩ, cách xử sự của nhân vật phù hợp với đặc điểm trong tính cách xã
“... các tác phẩm minh xác và hùng biện đã vạch ra cho mọi người nhiều sự thật hơn tất cả
những nhà chính trị chuyên nghiệp, những nhà chính luận và đạo đức học gộp lại...”. Còn ở
các nhà văn hiện thực Pháp, ta nhận thấy ảnh hưởng của tinh thần khoa học, tính khách quan
trong sự quan sát thế giới xung quanh được đưa tới mức tối đa.
Bên kia bờ Đại Tây Dương, một nền văn học khác xuất hiện cũng thoát thai từ phong
trào hiện thực ở Âu châu. Hình thành và phát triển tuy có chậm hơn nhưng đã có nhiều đóng
19
góp quan trọng cho dòng văn học hiện thực. Đó chính là nền văn chương Hoa Kỳ. Phần sau
đây xin được dành để giới thiệu rõ thêm về nền văn học này.
1.1.5. Chủ nghĩa hiện thực mỹ
Do chủ nghĩa quốc gia hẹp hòi và lòng tự hào dân tộc, một số nhà văn học sử Mỹ thường
tuyên bố rằng nền văn chương của họ có tính độc lập riêng biệt nhưng trên thực tế, chỉ cần mở
một tạp chí văn nghệ nào đó của Mỹ vào khoảng năm 1850, người ta dễ dàng nhận thấy hầu
hết các bài viết là của các tác giả Anh nổi tiếng.Và chính các tạp chí Anh định kỳ lưu hành
trong nước Mỹ thời này đã đóng góp một phần không nhỏ trong việc định hướng sáng tác cho
các nhà văn hiện thực Mỹ.
Điều đáng lưu ý là đa số các nhà văn Hoa Kỳ trong thời kỳ đầu đã không có nền học vấn
chính thức như: De Forest, Howells, Eggleston, Mark Twain, và ngay cả Henry James. Tuy
nhiên, họ là những người đi nhiều, sống nhiều và học hỏi từ chính vốn sống của mình. Ông De
Forest sống sáu năm ở nước ngoài trước khi bắt đầu viết quyển tiểu thuyết đầu tay, với Howell
thời gian ấy là năm năm, còn James thì trải qua gần hết cuộc đời ở ngoai quốc. Như vậy, Chủ
nghĩa hiện thựcMỹ giai đoạn sơ khai (thế kỷ XVII, XVIII) có sự gắn bó chặt chẽ với khuynh
hướng hiện thực ở bên kia bờ Đại Tây Dương. Vì vậy cũng không lạ tại sao chủ nghĩa Siêu
nghiệm một thời gây sóng gió ở Anh đã để lại nhiều ảnh hưởng đến các nhà văn hiện thực Mỹ.
Họ cảm nhận một cách sâu xa sự bình đẳng của muôn vật và tính đồng nhất của con người
(feel in every nerve the equality of things and the unity of men). Họ thấy mọi sự vật trên đời
này đều có một ý nghĩa nào đó, muôn sự mà Thượng Đế đã sáng tạo đều đáng tôn quí (nothing
that God has made is contemptible ).
kể đến các nhà văn hoạt kê chuyên nghiệp như Josh Billings (1818 - 85) và Artemus Ward
(1834-67), Bret Harte (1836 - 1902), George Washington Cable (1844-1925), Joel Chandler
Harris (1848-1908), Sarah Orne Jewett (1849-1909), Mark Twain (1835-1910). Họ đã cố
gắng đưa vào văn chương Hoa Kỳ những sắc màu cuộc sống chân thực, ngôn ngữ địa phương,
cá tính và vô vàn ý tưởng mới mẻ
Nhà văn Mỹ đầu tiên xứng đáng mang danh nhà văn hiện thực chủ nghĩa là John
William De Forest. Đề tài của ông là cuộc nội chiến Mỹ, là người nô lệ được giải phóng và
nhiều khía cạnh khác của cuộc sống đương thời đã được ông mô tả hoàn toàn chân thực khách
quan. Tác phẩm đầu tay là “Lịch sử người da đỏ ở Connecticut từ buổi đầu được biết đến tới
năm 1850”. Tiểu thuyết hay nhất của ông viết về cuộc nội chiến Hoa Kỳ là quyển Miss
Ravenel’ Conversion from Seccesion to Loyalty (1867). Chiến tranh chưa khi nào được mô tả
chân thật đến như thế. Thay vì viết về những chàng trai lãng mạn hiệp sĩ kiểu miền Nam, ông
đã kể về cuộc chiến đấu đầy bùn đất, bẩn thỉu, bệnh hoan, mô tả sự ngu đần, thói quan liêu
21
hành chánh, tệ nạn hối lộ. Sự sợ hãi và hoảng loạn, nỗi đau đớn tột cùng của người lính ở các
bệnh viện dã chiến cũng được mô tả trong tác phẩm một cách chi tiết và sinh động. Các nhân
vật của ông thường được xây dựng trên nền tảng đan chéo giữa tính cách xấu tốt giống hệt như
ở ngoài đời. "Cuốn theo chiều gió" sau này cũng có ít nhiều điểm tương đồng như vậy.
Thế nhưng, nhà văn hiện thực nổi tiếng nhất và được công nhận đứng đầu trường phái
hiện thực ở nước Mỹ chính là William Dean Howells (1837-1920), vừa là một nhà văn
chuyên viết tiểu thuyết, vừa là chủ bút của một tờ tạp chí văn nghệ. Ông được xem là nhà lý
luận, là cây bút tiên phong mở đường cho văn học hiện thực Mỹ. Hoxvells kiên định ủng hộ
cho việc viết về đời sống thật của những người cùng khổ, nhất là phải nói lên sự thật về đời
sống ở Mỹ (above else to tell the truth about life in America). Ông cho rằng điều quan trọng
để xác định một nhà văn hiện thực không phải chỉ ở việc lựa chọn chất liệu sáng tác, mà là ở ý
đồ và cách xử lý của nhà văn đối với đề tài.
Trong tác phẩm "The rise of Silas Lapham", ông viết về giới doanh nhân Mỹ và những
điều kiện đạo đức xã hội để họ có thể tồn tại được. Ông tin rằng yếu tố quan trọng nhất của
cuồng nộ - 1929) và As I Lay Dying (Khi tôi hấp hối - 1930). Light in August (Anh sáng tháng
Tám - 1932) là tác phẩm viết về mối quan hệ phức tạp và tàn bạo giữa một người đàn bà da
trắng và một người đàn ông da đen; Và Absalom, Absalom (1936) có lẽ là cuốn sách hay nhất
của Faulkner viết về sự vươn lên của một người chủ trang trại.
Hầu hết các tiểu thuyết của Faulkner đều xây dựng nhân vật điển hình với nhiều dạng
khác nhau rất sắc nét và đồng thời nó cũng cùng nối kết với nhau để mở ra một câu chuyện
khác trong mối quan tâm rộng lớn hơn. Đề tài chính của Faulkner là truyền thống miền Nam,
gia đình, cộng đồng, đất đai, lịch sử quá khứ, chủng tộc, những đam mê, tham vọng và tình
yêu. Những vấn đề rất hiện thực của những thập niên đầu thế kỷ XX ở Mỹ.
Như vậy, chủ nghĩa hiện thực Mỹ ra đời chậm hơn so với Châu Ẩu nhưng nó có nhiều
sắc thái riêng. Có thể xem một nét riêng của văn học hiện thực Mỹ là sự góp mặt của
trào lưu văn học trào phúng xuất phát từ vùng biên cương xa xôi. Ở một nơi mà truyền thống
văn chương truyền miệng còn khá phổ biến và gần gũi. Những câu chuyện thường được kể
cho nhau nghe trong những ngôi nhà tồi tàn, những lều trại ở vùng mỏ hoặc trên những chiếc
tàu dập dềnh sông nước, hoặc quanh đống lửa trại của những chàng chăn bò có đời sống cách
biệt với những thú vui đô hội. Vì vậy, những câu chuyện kể thường được đơm đặt thêm để gây
hứng thú và khôi hài nhằm giảm bớt những nhọc nhằn trong cuộc mưu sinh của những người
miền viễn Tây.
Nhìn chung, vì là một quốc gia đa chủng tộc và có lãnh thổ bao la trải dài cả hai bờ đại
dương, và nhờ thường nêu cao tinh thần dân chủ và tự do cá nhân tuyệt đối, các nhà văn hiện
thực Mỹ có điều kiện thể hiện sự mới lạ trong cách viết, trong nội dung. Điểm đặc sắc của văn
23
học hiện thực phê phán Mỹ là đã phản ánh sinh động đời sống của người dân Mỹ ở nhiều địa
phương khác nhau, những nét riêng của các khu vực nhân văn và bối cảnh thiên nhiên đa
dạng, đã xây dựng điển hình của các giai cấp, các tầng lớp xã hội đang phân hóa trong thời kỳ
ổn định của chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh ở Mỹ. Phong cách thể hiện của một số nhà văn
hiện thực đã kết hợp chặt chẽ các yếu tố trữ tình, hiện thực và châm biếm.
Tuy chưa có tầm khái quát rộng lớn với khối lượng tác phẩm đồ sộ như văn học hiện
đi để thích nghi với đời sống mới.
Hãy thử hình dung nhân vật Scarlett trong "Cuốn theo chiều gió" là một người nào đó có
thật thì vào lúc này, bà ấy trạc tuổi trên sáu mươi, (cuối truyện, năm 1871, Scarlett chỉ mới 28
tuổi). Và như vậy với những gì còn lưu lại đậm nét trong ký ức về những năm tháng không thể
nào quên, những câu chuyện kể của họ ắt hẳn cũng ghi dấu ấn sâu sắc trong tâm hồn còn rất
đỗi thơ ngây trong sáng của cô bé MM, tạo nên nguồn cảm hứng sáng tạo rất sớm nơi
cô. "Trong năm mươi năm tới, khắp miền Nam sẽ có những phụ nữ ngoái nhìn lại những thời
đã qua và những người đã chết bằng con mắt chua xót, gợi lại những kỷ niệm đau đớn và vô
bổ, chịu đựng nghèo khó với niềm tự hào chua chát về những kỷ niệm ấy" (CTCG).
Gia đình MM sống trong một căn nhà khá xinh xắn ở đường Peachtree. Từ 1914-1918,
cô theo học tại trường chủng viện Washington, một loại trường tư dạy thiếu nữ cách thức giao
tiếp ứng xử trong xã hội thượng lưu. Một hôm, cô nói với mẹ rằng cô không thể hiểu được
môn toán và sẽ không đi học nữa. Bà Maybelle liền dắt cô con gái đến những ngôi nhà sụp đổ
hoang tàn, rồi nghiêm khắc giáo huấn con :
"Những cảnh này xảy ra trước đây và sẽ còn xảy ra nữa trong tương lai. Khi nó xảy ra,
mọi người mất đi tất cả và trở nên bình đẳng với nhau. Tất cả mọi người phải làm lại từ đầu
trong điều kiện chẳng có gì ngoài sức mạnh của đôi tay và sự khôn ngoan của khối óc.
Bà Maybelle mong muốn con gái phải có một nền học vấn trương lớp đủ để đương đầu
với những thực tế cam go của cuộc đời. Bà đã truyền cho con niềm tin rằng chỉ có học hành
mới là điều duy nhất bảo đảm cho một đời sống ổn định. Bà lái xe đưa con đi qua những làng
mạc Atlanta còn hằn vết tàn phá của chiến tranh. Bà nói với con rằng trong một thời đại tai
ương thảm khốc, những người có năng lực và ý chí mạnh mẽ mới có thể tồn tại và đạt được
thành công, còn những người yếu đuối và bất lực thì không thể làm được như vậy. Margaret
không bao giờ quên những điều mẹ dạy, cũng như cô không bao giờ quên những gì đã được
nghe hay đọc về cuộc nội chiến này. Ở tuổi mười lăm, cô viết trong nhật ký :
“Nếu mình mà là một đứa con trai, thế nào mình cũng sẽ ráng vào học ở trường quân sự
West Point Nếu mà được như vậy, ôi chà! mình sẽ là một chiến binh cừ khôi, chắc phải hấp
dẫn lắm”.
25