qúa trình hình thành và phát triển hệ thống tổ chức ban thống nhất trung ương trong cuộc kháng chiến chống mỹ cứu nước (1954 1973) - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

PHAN THỊ XUÂN YẾN

QÚA TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
HỆ THỐNG TỔ CHỨC BAN THỐNG NHẤT
TRUNG ƯƠNG TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG
MỸ CỨU NƯỚC
(1954- 1973)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

THÀNH PHỐ HỔ CHÍ MINH, 2003



MỤC LỤC
MỤC LỤC .................................................................................................................... 3
DẪN LUẬN .................................................................................................................. 5
1.Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu .....................................................................5
2.Lịch sử nghiên cứu đề tài ................................................................................................7
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ...................................................................................9
4.Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu ...................................................................9
5.Bố cục của luận văn.......................................................................................................10

CHƯƠNG 1: QÚA TRÌNH HÌNH THÀNH HỆ THỐNG TỔ CHỨC BAN
THỐNG NHẤT TRƯNG ƯƠNG (1954 - 1960) ..................................................... 11
1.1. Bối cảnh lịch sử ......................................................................................................... 11
1.2. Từ "Ban đón tiếp" (tháng 8/1954)... .........................................................................15
1.3. Đến "Ban Quan hệ Bắc - Nam" – “Ban miền Nam” (tháng 6/1955).....................21

quân đội cả nước trong suốt 21 năm (1954-1975), dưới sự lãnh đạo tài tình và khoa học của
Đảng Cộng sản Việt Nam. Thành công của Đảng ta trong cuộc kháng chiến trường kỳ ấy, là
đã lãnh đạo nhân dân ta ở cả hai miền Nam - Bắc, tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến
lược ở hai miền đất nước, nhưng có mối quan hệ mật thiết, gắn bó, tác động qua lại lẫn
nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển, cùng nhằm một mục tiêu chung của cách mạng là bảo
vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, tiến tới hòa bình thống nhất Tổ quốc. Dưới ngọn cờ của
Đảng, toàn dân ta từ Nam chí Bắc đã đoàn kết thống nhất, nêu cao ý chí quyết tâm "Không
có gì qúy hơn độc lập tự do", từng bước đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới
của đế quốc Mỹ, gạt bỏ những cản trở trên con đường hòa bình thống nhất đất nước. Qua
trình đó cũng là qúa trình cách mạng miền Nam phát huy vai trò "quyết định trực tiếp" đối
với sự nghiệp giải phóng miền Nam, cách mạng miền Bắc đóng vai trò "quyết định nhất"
đối với sự phát triển của cách mạng cả nước cũng như đối với sự nghiệp thống nhất nước
nhà.
Để giúp Trung ương lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn cách mạng miền Nam, Ban Thống
nhất đã được thành lập mà tiền thân của nó là Ban Quan hệ Bắc-Nam thành lập tháng 6 năm
1955 theo Nghị định 550-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Cũng từ đó cho đến khi kết thúc
thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Ban Thống nhất Trung ương đã có những
đóng góp vô cùng to lớn góp phần làm nên chiến thắng vang dội của dân tộc ta. Cụ thể:
- Đã giúp Trung ương theo dõi tình hình các mặt của miền Nam. Phối hợp với các cơ
quan liên quan đề xuất các chủ trương, biện pháp, chính sách để chỉ đạo cách mạng miền
Nam về đấu tranh chính trị, ngoai giao, xây dựng cơ sở, xây dựng vùng giải phóng đưa cách
mạng miền Nam đến thắng lợi.
- Đã giúp các địa phương miền Nam từng bước tăng cường lực lượng cách mạng, tổ
chức công tác tuyên truyền, xuất bản các tờ báo, xây dựng các đài phát thanh...

5


- Tổ chức đường giao liên Bắc Nam từ đầu năm 1955 đảm bảo việc vận chuyển thư từ
sách báo, tài liệu, đưa đón cán bộ... thông suốt từ sau tập kết đến lúc giải phóng miền Nam.



trách nhiệm của mỗi người trong tiến trình đi lên cùng đất nước, âu đó cũng là một việc làm
cần thiết của người nghiên cứu và giảng dạy lịch sử.

2.Lịch sử nghiên cứu đề tài
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của các
nhà khoa học trong và ngoài nước, từ nhiều góc độ khác nhau để phân tích, lý giải về cách
thức tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân, cũng như về qua trình đấu tranh cho sự nghiệp
thống nhất nước nhà của nhân dân ta trong thời kỳ lịch sử vẻ vang và độc đáo 1954-1975.
Từ năm 1976 Viện Sử học thuộc ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam đã xuất bản cuốn
Nước Việt Nam là một, Dân tộc Việt Nam là một (Nhà xuất bản Khoa học xã hội H.1976)
gồm nhiều bài nghiên cứu của các nhà khoa học trong nước về đề tài thống nhất đất nước.
Sau đó là sự xuất hiện nhiều bộ sách của các tác giả trong nước về lịch sử cuộc kháng chiến
thần thánh của dân tộc cho sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà, mới nhất là bộ 9 tập
Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 của Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
được xuất bản từ năm 1996 đến nay (Tập I, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia H. 1996). Tác
giả Phạm Đức Quy gần đây có cuốn Bí mật về sức mạnh huyền thoai của chiến tranh nhân
dân Việt Nam (Nhà xuất bản Mũi Cà Mau 2001) để nói về một số đặc điểm của chiến tranh
nhân dân trong chống Mỹ cứu nước.
Sách nước ngoài đã được dịch sang tiếng Việt như Những bí mật của cuộc chiến tranh
Việt Nam của Philíp Davitson (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia H.1995), Nhìn lại qua khứ,
tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam của Mắc Namara (Nhà xuất bản Chính trị Quốc
gia H.1995), Cuộc chiến tranh chống Mỹ của nhân dân Việt Nam của Trương Lợi Hoa (Nhà
xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh 1998)... Những sách tham khảo này không nói gì nhiều
đến ý chí và nguyện vọng thống nhất đất nước của nhân dân ta, nhưng họ đã đề cập đến
cuộc chiến đấu phối hợp của hai miền Nam - Bắc Việt Nam để bảo vệ miền Bắc, giải phóng
miền Nam tiến tới thông nhất Tổ quốc năm 1976.
Năm 1995 nhân kỷ niệm 20 năm giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc, báo Quân
đội nhân dân ra Đặc san Sự kiện và nhân chứng số tháng 2/1995 đăng một loạt bài viết của

phương pháp cách mạng phong phú mà Đảng đã vận dụng một cách linh hoạt trong qúa
trình đấu tranh thống nhất đất nước.
Như vậy nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống Mỹ nói chung và về sự nghiệp đấu
tranh thống nhất đất nước của nhân dân ta nói riêng đã có khá nhiều công trình, với những
góc độ phân tích lý giải khác nhau, với nhiều nguồn tư liệu phong phú khác nhau. Tuy
nhiên, vẫn còn thiếu những công trình có tính chất chuyên biệt về Ban Thống nhất Trung
ương, cũng như về hệ thống tổ chức của Ban Thống nhất nói riêng. Vì vậy luận văn này

8


muốn hướng đến một đề tài còn chưa có người đi trước, chắn chắn sẽ có nhiều khó khăn và
phức tạp khi thực hiện.

3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn là hệ thống tổ chức của Ban Thống
nhất Trung ương từ khi có các tổ chức tiền thân và qua trình hình thành Ban Thống nhất với
bộ máy tổ chức ban đầu những năm sau Hiệp định Genève (1954), đến khi hệ thống tổ chức
này đã phát triển hoàn chỉnh sau Hiệp định Paris (1973).
Hệ thống tổ chức này bao gồm Ban Thống nhất Trung ương và các bộ phận chức năng
(Vụ, Ban, Cục trực thuộc Ban), cũng như Ủy ban Thống nhất (trong một thời gian dài là
danh nghĩa thứ hai của Ban Thống nhất Trung ương, trước khi tách ra thành cơ quan độc lập
trực thuộc Chính phủ). Hệ thống này chỉ có ở cấp Trung ương nhưng có quy mô rộng lớn
trên nhiều tỉnh miền Bắc, trước hết là ở Hà Nội.
Để có thể thấy được sự hình thành, phát triển của hệ thống tổ chức trên đây, luận văn
cũng đề cập đến một số lĩnh vực hoạt động chủ yếu của Ban .Thống nhất và một số bộ phận
chức năng của Ban, cùng Ủy ban Thống nhất của Chính phủ, nhằm làm rõ hơn chức năng,
nhiệm vụ của hệ thống tổ chức Ban Thống nhất trong thực tế cuộc kháng chiến.

4.Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu

5.Bố cục của luận văn
Luận văn ngoai Dẫn luận và Tài liệu tham khảo, có 3 chương nội dung và phần Kết
luận. Các chương của luận văn gồm:
Chương một - Qua trình hình thành hệ thống tổ chức Ban Thống nhất Trung ương
(1954- 1960)
Chương hai - Ban Thống nhất Trung ương xây dựng, phát triển hệ thống tổ chức
những năm 1961 - 1968
Chương ba - Ban Thống nhất Trung ương tiếp tục phát triển, hoàn thiện hệ thống tổ
chức những năm 1969 - 1973
Phụ lục của luận văn là một phần tài liệu được sử dụng trong các chương và ảnh các
nhân chứng cung cấp tài liệu - những người đã công tác tại Ban Thống nhất Trung ương
trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước

10


CHƯƠNG 1: QÚA TRÌNH HÌNH THÀNH HỆ THỐNG TỔ CHỨC
BAN THỐNG NHẤT TRƯNG ƯƠNG (1954 - 1960)

1.1. Bối cảnh lịch sử
Ngày 08/05/1954, một ngày sau khi quân Pháp thất bại ở Điện Biên Phủ, Hội nghị
Genève về chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương khai mạc. Trải qua 8 phiên họp toàn thể và
23 phiên họp hẹp rất căng thẳng và phức tạp, với thiện chí và cố gắng của phái đoàn ta do cố
Thủ tướng Phạm Văn Đồng dẫn đầu, ngày 20/07/1954 Hiệp định Genève về đình chỉ chiến
sự ở Việt Nam được ký kết.
Điều 1, Chương I của Hiệp định quy định: "Một giới tuyến quân sự tạm thời sẽ được
quy định rõ, để lực lượng của hai bên, sau khi rút lui, sẽ tập hợp ở bên này và bên kia giới
tuyến ấy: Lực lượng Quân đội nhân dân Việt Nam ở phía Bắc giới tuyến, Lực lượng Quân
đội Liên hiệp Pháp ở phía Nam giới tuyến".
Điều 2 Chương I của Hiệp định quy định: "Kỳ hạn cần thiết để thực hiện việc di

- Về kinh tế: Mỹ giúp cho miền Nam phát triển nền kinh tế theo con đường tư bản chủ
nghĩa, nhưng trước hết phải phụ thuộc vào viện trợ của nước ngoài và trong quỹ đạo của
Mỹ, phục vụ cho chiến tranh xâm lược thực dân mới của Mỹ.
- Về văn hóa: Mỹ cho phát triển ở miền Nam nền văn hóa thực dân mới trên tất cả các
lĩnh vực giáo dục, văn hóa văn nghệ, văn hóa xã hội và tư tưởng; trong đó rất chú trọng du
nhập lối sống thực dụng, đề cao văn hóa Mỹ và ra sức tuyên truyền chống cộng.
Được sự hỗ trợ và giúp đỡ toàn diện của Mỹ, chính quyền Ngô Đình Diệm đã xây
dựng miền Nam thành một "quốc gia" của "thế giới tự do", có một đạo quân cảnh sát lớn
mạnh để chống phá cách mạng, chống cộng sản. Diệm còn cho thành lập "Đảng cần lao
nhân vị", phong trào "Cách mạng quốc gia", "Thanh niên cộng hòa", "Phụ nữ liên đới"...,
làm lực lượng hậu thuẫn về chính trị - xã hội cho việc cai trị ở miền Nam. Ngày 4/3/1956,
Diệm tổ chức bầu "Quốc hội" riêng rẽ và ngày 26/10/1956 cho công bố cái gọi là "Hiến
pháp Việt Nam Cộng hòa"... Đồng thời chúng thẳng tay đàn áp những phong trào đấu tranh
của quần chúng đòi hiệp thương với miền Bắc, gây nên các cuộc tàn sát đẫm máu ở miền
Nam bằng những thủ đoạn vô cùng dã man.
Về phía cách mạng Việt Nam, cuộc chuyển quân tập kết đã làm thay đổi tình hình so
sánh lực lượng giữa ta và địch, từ thế "cài răng lược" trên phạm vi toàn quốc, chuyển thành
thế "tập trung" ở hai miền đất nước. Lực lượng cách mạng đang phát triển đều với nhiều
thuận lợi trên phạm vi toàn cục, nay tập trung về phía Bắc vĩ tuyến 17 (miền Bắc), thế và
lực cách mạng được tăng cường mạnh nhất ở đây, nhưng lại vô cùng bất lợi ở phía Nam vĩ
tuyến 17 (miền Nam).

13


Đế quốc Pháp rất ngoan cố, gây cho ta nhiều khó khăn trong qua trình thi hành Hiệp
định Genève, nhưng do nhân dân ta kiên quyết đấu tranh, đến ngày 16/05/1955, toàn bộ
quân viễn chinh Pháp đã buộc phải rút khỏi miền Bắc Việt Nam. Ta đã tiếp quản toàn bộ
những khu vực quân Pháp rút đi bao gồm cả vùng nông thôn, khu công nghiệp, các thị xã và
thành phố đúng thời hạn.

trong những năm 1954 - 1960, Đảng ta đã phải nêu cao tinh thần độc lập tự chủ, phát huy
cao độ sự sáng tạo linh hoạt, từng bước tìm ra đáp số đúng cho bài toán khó trong bối cảnh
trong nước và quốc tế vô cùng phức tạp do phải đương đầu trực tiếp với đế quốc Mỹ, tên đế
quốc đầu sỏ với nhiều thủ đoạn xảo quyệt; tất cả nhằm thực hiện cho được mục tiêu chiến
lược: giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Sự
nghiệp thống nhất đất nước đòi hỏi Đảng ta phải trải qua nhiều giai đoạn, thực hiện trên
nhiều lĩnh vực với những chủ trương, biện pháp thích hợp. Qua trình hình thành, phát triển
hệ thống tổ chức của Ban Thống nhất Trung ương từ sau Hiệp định Genève đến khi cuộc
kháng chiến chống Mỹ cứu nước giành được thắng lợi quyết định, trải qua nhiều bước với
những vai trò chức năng nhiệm vụ cụ thể khác nhau, nhưng đã góp phần quan trọng vào
thắng lợi chung của cả dân tộc trong cuộc kháng chiến trường kỳ mà oanh liệt này.

1.2. Từ "Ban đón tiếp" (tháng 8/1954)...
Công việc trước mắt đặt ra cho toàn Đảng, toàn dân ta ở cả hai miền Nam - Bắc sau
Hiệp định Genève 1954 về Việt Nam là thực hiện chuyển quân tập kết lực lượng quân-dânchính-đảng của ta ở miền Nam ra Bắc theo quy định của Hiệp định. ở miền Nam, lực lượng
tập kết của ta sẽ có 4 điểm tập trung là:
- Miền Tây Nam bộ ở Cà Mau.
- Miền Trung Nam bộ ở Đồng Tháp Mười
- Miền Đông Nam bộ ở Hàm Tân - Xuyên Mộc
- Cả vùng Trung bộ ở Qui Nhơn
Yêu cầu của việc chuyển quân tập kết của ta là phải tổ chức đón tiếp thật chu đáo bộ
đội, thương binh, cán bộ và đồng bào miền Nam tập kết ra Bắc. Bởi vì "Việc đón tiếp, phân
phối công tác, tìm nơi tạm ở và công ăn việc làm cho số người nói trên là rất trọng yếu, có
ảnh hưởng và tác dụng chính trị rất lớn không những đối với tinh thần tư tưởng của những
người ra ngoài này, mà còn có ảnh hưởng rất lớn đối với tinh thần đồng bào miền Nam ở
trong kia; do đó sẽ ảnh hưởng rất lớn đối với việc tổng tuyển cử thống nhất toàn quốc sau
này" [52:259].
Trong Chỉ thị ngày 31/8/1954 của Ban Bí thư Về việc đón tiếp bộ đội, thương binh,
một số cán bộ và đồng bào miền Nam ra Bắc, Đảng ta nêu rõ: "Số bộ đội, thương binh,
15

Nam di cư ra Bắc.
- Phương châm giải quyết công tác cho gia đình miền Nam nói chung là hướng họ vào
công tác lao động sản xuất, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, đồng thời hướng dẫn họ phát
triển chăn nuôi, thủ công nghiệp và nghề phụ trong gia đình. Đối với những gia đình cán bộ
thật sự thiếu khả năng sản xuất nông nghiệp, cần bối trí một cách thích hợp vào các công tác
lao động sản xuất trong các cơ sở công thương nghiệp quốc doanh.
- Giải quyết công tác gia đình miền Nam, căn bản là dựa vào tinh thần tự lực cánh
sinh, sản xuất tiết kiệm, kết hợp với sự tương trợ giữa chị em miền Nam và sự giúp đỡ của
đồng bào miền bắc là chính; sự giúp đỡ của Chính phủ chỉ thực hiện trong lúc đầu và trong
trường hợp cần thiết mà thôi.
- Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng ở địa phương và các ngành đối với gia
đình miền Nam: chú trọng giáo dục tư tưởng tự lực cánh sinh và tinh thần đoàn kết Bắc
Nam cho các gia đình miền Nam; làm cho các ngành, nhất là Nông hội, Phụ nữ thấy rõ trách
nhiệm của mình; đồng thời chú ý kiểm tra, đôn đốc, giúp đỡ, làm cho các gia đình miền
Nam tạo được cơ sở làm ăn vững chắc và tiến bộ trong công tác [52:631-633]

20


1.3. Đến "Ban Quan hệ Bắc - Nam" – “Ban miền Nam” (tháng 6/1955).
Song song với công việc tổ chức đón tiếp cán bộ, gia đình cán bộ và đồng bào miền
Nam tập kết ra miền Bắc, Đảng ta đẩy mạnh cuộc vận động lập lại quan hệ giữa hai miền
Nam - Bắc, Đảng ta coi đây là một bước đầu của cuộc vận động thống nhất sau đình chiến.
Một mặt cần dùng lý lẽ vạch rõ việc lập lại quan hệ giữa hai miền là rất cần thiết cho đời
sống của các tầng lớp nhân dân, cho việc củng cố hoa bình, thực hiện thống nhất. Đồng thời
cũng cần dựa vào pháp lý mà vạch rõ việc ấy là thích hợp với tinh thần nghị quyết của Hội
nghị Genève. Mặt khác phải đánh vào tình cảm dân tộc, tình cảm gia đình để thúc đẩy cuộc
đấu tranh. Việc lập lại quan hệ giữa hai miền sẽ có một tác dụng rất lớn đối với việc thúc
đẩy họp Hội nghị hiệp thương. Đồng thời nó cũng là một yêu cầu bức thiết của các tầng lớp
nhân dân. Để chỉ đạo cuộc vận động này, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra chỉ thị 04CT/TW ngày 29/01/1955 Về việc gây một cuộc vận động lập lại quan hệ giữa hai miền

gia đình miền Nam, nhi đồng... hiện công tác ở các Bộ, ngành Trung ương, các khu, tỉnh, xí
nghiệp, công nông trường, đang sản xuất ở các nơi, đang học tập ở các trướng trong nước và
ngoài nước, kể cả danh sách số tập kết, số ra sau ngày tập kết và trước ngày đình chiến.
- Theo dõi sự phân phối thuyên chuyển, nắm cho được địa chỉ từng người một, hiện
đang công tác và sản xuất, tương đối đáp ứng được nhu cầu về tin tức hoặc các việc cần
thiết khác. Trực tiếp theo dõi một số thành phần khác như: thân sĩ, trí thức, tôn giáo cán bộ
trung cấp trở lên, chiến sĩ thi đua trong kháng chiến và chiến sĩ thi đua công nông trường, cơ
quan, từ ngày hòa bình lập lại, để phục vụ cho việc thực hiện chính sách.
- Theo dõi số cán bộ được đào tạo nghiệp vụ từ trung cấp trở lên trong và ngoài nước.
- Theo dõi tình hình đau ốm chết chóc (mồ mả, tài sản, sổ vàng...)
- Theo dõi tình hình khen thưởng, kỷ luật, đề bạt... của anh chị em miền Nam.
- Lập thống kê số lượng, phân loại, phân tích, trình độ phát hiện tình hình, phục vụ tài
liệu cho Phông chính sách nghiên cứu.
- Đôn đốc các Phông, các bộ phận theo dõi miền Nam ở các Bộ, ngành, các khu, tỉnh
cung cấp kịp thời số liệu danh sách cán bộ miền Nam thuyên chuyển... "[11:1]
Ngay sau khi ra đời, Ban Quan hệ Bắc - Nam (Ban miền Nam) tập trung vào nhiệm vụ
giúp Trung ương theo dõi và chỉ đạo tình hình mọi mặt của miền Nam, chỉ đạo phong trào
đấu tranh đòi Chính quyền miền Nam thi hành Hiệp định Genève. lập lại quan hệ bình
thường Bắc- Nam, tiến tới tổng tuyển cử thống nhất hai miền, chống các chiến dịch "tố
cộng", "diệt cộng", đàn áp khủng bố những người kháng chiến cũ của bè lũ Mỹ-Diệm.
Ngày 16/5/1955 toán lính Pháp cuối cùng rút khỏi đảo Cát Bà, miền Bắc được hoàn
toàn giải phóng. Ta nhanh chóng tiếp quản toàn bộ nhưng khu vực quân Pháp rút đi bao
gồm vùng nông thôn, khu công nghiệp, các thị xã và thành phố đúng thời hạn. Tình hình
chính trị- xã hội trên toàn miền Bắc đã nhanh chóng ổn định. Miền Bắc đước hoàn toàn giải
phóng là một thắng lợi to lớn của cuộc kháng chiến của dân tộc ta, nó tạo ra cơ sở vững
chắc cho cuộc đấu tranh để tiến tới xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân
chủ và hòa bình.
Tuy nhiên, miền Bắc phải chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh và chế độ thực dân
phong kiến. Kinh tế miền Bắc vốn đã lạc hậu lại bị chiến tranh tàn phá nên càng tiêu điều.
24

- Đưa vào cơ quan nhà nước từ TW đến địa phương:

16.000 người

Và làm nhiều công việc khác, nhất là tham gia vào các ngành kinh tế chiếm trên 2/3.
số còn lại dà yếu thì đưa đi an dưỡng trên 2.000 người và tổ chức trường học cho 14.000 các
cháu học văn hóa [44:8].
Để nhằm nâng cao lòng tin tưởng của số anh chị em miền Nam tập kết ra miền Bắc đối
với sự nghiệp cách mạng, đối với Đảng, nâng cao tinh thần đoàn kết Bắc - Nam và tạo sự
hăng say phấn khởi trong công tác của anh chị em miền Nam, Ban chấp hành Trung ương
đã ra Chỉ thị 35/CT-TW ngày 10/7/1956 về việc Chấp hành chính sách đối với cán bộ và
đồng bào miền Nam tập kết ra miền Bắc. Chỉ thị nêu rõ: "Số cán bộ và đồng bào miền
Nam tập kết ra Bắc khoảng trên 18 vạn người. Một số đã nhận công tác ở các cơ quan, trên
15 nghìn người phục vụ ở các công trường, gần 8 nghìn người tự túc ở nông thôn, và gần 4
nghìn thương binh. Anh chị em nói chung đều cố gắng, nhiều người đã lập thành tích mới
trong việc góp phần củng cố miền Bắc".

25


Trích đoạn Phát triển hệ thống tổ chức trước yêu cầu nhiệm vụ mới của cách mạng những Hoàn chỉnh hệ thống tổ chức trong những năm 1972-1973
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status