BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Thu Huyền
PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CỦA
CÔNG NHÂN SÀI GÒN
(1954 – 1975)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Thành phố Hồ Chí Minh – 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Thu Huyền
PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CỦA
CÔNG NHÂN SÀI GÒN
(1954 – 1975)
Chuyên ngành : Lịch Sử Việt Nam
Mã số
: 66 22 02 13
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
Xin chân thành cảm ơn.
Học viên thực hiện
Nguyễn Thị Thu Huyền
2
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................ 1
LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................. 2
MỤC LỤC .................................................................................................................... 3
MỞ ĐẦU....................................................................................................................... 5
1. Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu ................................................................... 5
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................................. 6
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................................. 9
4. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu ................................................................. 9
5. Đóng góp của luận văn ................................................................................................. 10
6. Bố cục của luận văn ...................................................................................................... 10
CHƯƠNG 1: PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CỦA CÔNG NHÂN SÀI GÒN –
CHỢ LỚN TRƯỚC 1954 ......................................................................................... 12
1.1. Tình hình kinh tế xã hội ............................................................................................ 12
1.1.1. Tình hình kinh tế ...................................................................................................12
1.1.2. Tình hình xã hội ....................................................................................................13
1.2. Đội ngũ công nhân Sài Gòn – Chợ Lớn và một số phong trào đấu tranh ............ 14
1.2.1. Đội ngũ công nhân Sài Gòn – Chợ Lớn ...............................................................14
1.2.2. Một số phong trào đấu tranh của công nhân Sài Gòn – Chợ Lớn trước năm 1954
.........................................................................................................................................17
nhân Sài Gòn ...................................................................................................................87
3.3. Các phong trào đấu tranh của công nhân Sài Gòn 1968-1975 .............................. 89
3.3.1. Đấu tranh vì dân sinh dân chủ ..............................................................................89
3.3.2. Đấu tranh chống Mỹ và chiến tranh xâm lược ...................................................108
3.3.3. Đóng góp của phong trào công nhân trong Tổng tấn công nổi dậy 1975...........113
3.4. Một vài đặc điểm phong trào công nhân Sài Gòn 1968-1975 .............................. 115
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 117
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 122
PHỤ LỤC ................................................................................................................. 133
4
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu
1.1. Lý do chọn đề tài
Trong tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam, kể từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng
lập Ðảng Cộng sản Việt Nam, giai cấp công nhân (GCCN) đã thể hiện được vai trò tiên
phong trong cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa. Giai cấp công
nhân Việt Nam đã và đang là lực lượng xã hội đi đầu trong công cuộc đấu tranh giải phóng
dân tộc và xây dựng đất nước. Trong điều kiện hiện nay, Việt Nam phải xây dựng đội ngũ
giai cấp công nhân vững mạnh, có lập trường cách mạng để đáp ứng yêu cầu công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, mở cửa, hội nhập với các nền kinh tế thế giới. Cùng với các giai cấp, giai
tầng xã hội khác trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, GCCN đã có đóng góp to lớn vào quá
trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Việc tiếp tục nghiên cứu, tổng kết thực tiễn,
phát triển lý luận về GCCN là vấn đề vừa có ý nghĩa khoa học và thực tiễn góp phần nâng
cao bồi dưỡng trình độ chính trị, ý thức giai cấp, tính dân tộc cho công nhân, đồng thời tăng
cường sự lãnh đạo của Ðảng, phát huy vai trò công đoàn và các tổ chức chính trị - xã hội
khác trong xây dựng GCCN. Trong đó, việc xem xét, tham khảo những thành tựu, hạn chế
phong trào đấu tranh yêu nước của nhân dân Sài Gòn.
Nghiên cứu về phong trào đấu tranh của công nhân Sài Gòn sẽ góp phần cung cấp
thêm những tư liệu mới bổ sung vào việc nghiên cứu phong trào công nhân Sài Gòn, tìm
hiểu thêm về nội dung, đặc điểm tính chất đường lối, qua đó nhận thức đầy đủ hơn về lịch
sử cận – hiện đại Việt Nam.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu và tác phẩm tổng kết về lịch sử
đấu tranh của giai cấp công nhân Việt Nam nói chung cũng như công nhân Sài Gòn nói
riêng. Trong đó có thể nêu ra một số công trình nghiên cứu chủ yếu đã công bố liên quan
đến đề tài:
Viết về phong trào công nhân có thể kể đến tác phẩm tiêu biểu như: Một vài vấn đề
về Đảng và giai cấp công nhân Việt Nam của GS Hoàng Quốc Việt, NXB Lao động, 1960;
Các tác công trình nghiên cứu của GS. Trần Văn Giàu như: Giai cấp công nhân Việt Nam:
sự hình thành và sự phát triển của nó từ giai cấp tự mình đến giai đoạn cho mình, NXB Sự
thật, Hà Nội 1961; Giai cấp công nhân Việt Nam: từ Đảng Cộng sản thành lập đến cách
mạng thành công tập 1: 1930-1935 và tập 2: 1936-1939, NXB Sử học, 1962; Giai cấp công
nhân Việt Nam: từ Đảng Cộng sản thành lập đến cách mạng thành công tập 3: 1939-1945,
NXB Sử học, 1963…
Ngoài ra còn có một số công trình viết về mảng đề tài giai cấp công nhân Việt Nam,
có liên quan tới cuộc các mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam như: Ngô Văn Hòa,
6
Dương Kinh Quốc (1979), Giai cấp công nhân Việt Nam những năm trước khi thành lập
Đảng, NXB Khoa học xã hội; Cao Văn Biền (1979), Giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ
1939-1936, NXB Khoa học xã hội; Cao Văn Biền (1979), Giai cấp công nhân Việt Nam
thời kỳ 1936-1939, NXB Khoa học xã hội; Nguyễn Hữu Hợp, Phạm Quang Toàn (1987),
Giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ 1945-1954, NXB Khoa học xã hội; Nguyễn Công
Bình (1974), Một số vấn đề về lịch sử giai cấp công nhân Việt Nam, NXB Lao động; Vũ
Gòn qua phong trào đấu tranh của công nhân Sài Gòn chống lại âm mưu, thủ đoạn của Mỹ ngụy. Đây là một trong những công trình nghiên cứu về phong trào công nhân Sài Gòn và
miền Nam dưới thời Mỹ - ngụy mà tác giả đã sưu tầm được nhiều tư liệu có giá trị.
Công nhân Sài Gòn – Chợ Lớn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc của Ban chấp
hành Liên đoàn lao động Thành phố Hồ Chí Minh, NXB Lao động, 1993 đã dựng lại bức
tranh của giai cấp công nhân thành phố trước kia trong kháng chiến chống thực dân Pháp
xâm lược và quá trình phát triển của đội ngũ công nhân ở Sài Gòn.
Các luận văn tốt nghiệp của Học viện Quốc gia Hành chính trước 1975: Nguyễn
Khắc Duyên (1969), Hậu quả của đình công; Vũ Công Hùng (1969), Chính sách lao động
của chính quyền; Thái Bình Dân (1972), Vấn đề thất nghiệp tại Việt Nam Cộng hòa (từ thập
niên 60); Nguyễn Mạnh Hùng (1969), Hiện tình nghiệp đoàn công nhân tại Việt Nam; Phạm
Thị Vân (1973), Kỹ nghệ dệt trong nền kinh tế Việt Nam; Nguyễn Thị Kim Nhung (1972),
Thỏa ước xí nghiệp điện lực Việt Nam,… đã cung cấp thêm những tư liệu quý về tình hình
kinh tế, chính sách của chính quyền Việt Nam cộng hòa đối với phong trào công nhân Sài
Gòn.
Ngoài ra còn có thể kể tới nhiều tác phẩm sử học khác viết về Sài Gòn – Thành phố
Hồ Chí Minh có đề cập đến phong trào công nhân như: Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí
Minh tập 1: lịch sử, NXB TP Hồ Chí Minh 1987; Lịch sử Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt
Nam TP HCM tập 1: 1930-1954 và tập 2: 1954-1975, NXB TP Hồ Chí Minh 1994, Lịch sử
Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định kháng chiến, NXB TP Hồ Chí Minh 1994… Đây là những
công trình có quy mô lớn phản ánh bao quát các hoạt động đấu tranh chính trị, vũ trang…
của mọi tầng lớp nhân dân thành phố dưới sự lãnh đạo của Đảng. Vì vậy, trong các công
trình này, phong trào đấu tranh của công nhân chỉ được đề cập sơ lược qua việc điểm một số
sự kiện tiêu biểu.
Sài Gòn – TP Hồ Chí Minh 300 năm hình thành và phát triển 1698-1998 của Đoàn
Thanh Hương, Hồ Hữu Nhựt khái quát về lịch sử Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh cũng
như phong trào đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân.
Tất cả những công trình và những bài viết của các tác giả đi trước đã phản ánh nhiều
mặt gián tiếp hay trực tiếp đề cập tới phong trào công nhân Sài Gòn từ 1954 đến 1975. Dù
8
4. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn tài liệu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi dựa vào nguồn tài liệu lưu trữ và nguồn
tài liệu tham khảo từ các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học và sử học.
9
Nguồn tài liệu gốc của luận văn được khai thác từ Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II,
gồm các tài liệu của chính quyền Sài Gòn có liên quan đến các phong trào đấu tranh của
công nhân, nghiệp đoàn đấu tranh chống lại chính quyền Sài Gòn trong giai đoạn từ 1954
đến 1975.
Nguồn tài liệu là kết quả của các công trình nghiên cứu bao gồm: sách, báo, tạp chí,
các luận văn tốt nghiệp của Học viện Quốc gia hành chính hiện có tại Thư viện Tổng hợp
Thành phố Hồ Chí Minh có liên quan đến các phong trào đấu tranh cách mạng ở Sài Gòn
giai đoạn 1954-1975.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng là phương pháp lịch sử và
phương pháp logic, và các phương pháp nghiên cứu liên ngành như thống kê, tổng hợp.
Luận văn cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống như phân tích và tổng
hợp, phương pháp so sánh trong việc trình bày những nguyên nhân, diễn biến cũng như vị
trí vai trò của phong trào đấu tranh của công nhân thành phố Sài Gòn từ 1954 đến 1975.
5. Đóng góp của luận văn
Trên cơ sở hệ thống tư liệu, tiếp thu có chọn lọc những công trình nghiên cứu, luận
văn trình bày một cách có hệ thống phong trào đấu tranh của công nhân Sài Gòn trong cuộc
kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Luận văn có những đóng góp khiêm tốn như sau:
Thứ nhất, luận văn góp phần phục dựng lại một cách chân thực và khách quan phong
trào đấu tranh của giai cấp công nhân Sài Gòn trong giai đoạn 1954-1975.
Thứ hai, luận văn bước đầu đã rút ra những đặc điểm, vị trí, vai trò phong trào đấu
tranh của công nhân Sài Gòn trong các phong trào yêu nước ở miền Nam Việt Nam trong
một đông đúc. Các ngành nghề thủ công tuy có những bước phát triển nhất định, do chính
sách lạc hậu của triều Nguyễn chưa có điều kiện chuyển thành những ngành công nghiệp tư
bản chủ nghĩa. Nền kinh tế Việt Nam một nước nông nghiệp lạc hậu, tự túc, tự cấp.
Tháng 2-1861, quân viễn chinh Pháp đặt ách thống trị của chúng ở Gia Định. Năm
1897, Pôn Du-me chính thức nhậm chức toàn quyền Đông Dương, thực hiện chương trình
khai thác thuộc địa trên quy mô lớn cũng từ đó giai cấp công nhân nước ta nhanh chóng
hình thành và phát triển. Riêng tại Nam Kỳ, bên cạnh công cuộc khai thác đồn điền cao su
miền Đông, các ngành công nghiệp thương mại và giao thông vận tải cũng phát triển mạnh,
chủ yếu là Sài Gòn – Chợ Lớn. Để phục vụ công cuộc cai trị trước mắt và sinh hoạt của giới
viên chức thực dân Pháp đã cho xây dựng những nhà máy công nghiệp như xưởng Ba Son,
cảng, nhà máy đèn, nhà máy bia, bưu điện Sài Gòn, nhà máy kéo sợi… Rồi người Pháp,
người Hoa kiều mở nhà máy xay lúa, lò đường công nghiệp, lò gạch… Về giao thông Pháp
huy động đào kinh chợ Gạo và thành lập công ty đường sông Nam Kỳ (1881). Pháp cho mở
đường sắt Sài Gòn – Mỹ Tho dài 71 km, làm đường xe điện từ Sài Gòn – Chợ Lớn, Sài Gòn
– Gò Vấp, thành lập công ty điện Đông Dương (1890)... Về xuất cảng, hướng chính khai
thác của Pháp vẫn là xuất cảng gạo và nông sản ở Nam Kỳ…
12
Các cơ sở công nghiệp các nhà máy mới được thành lập trong các ngành công nghiệp
như: đường, đồ uống, thuốc lá, xay xát, xà bông, công ty nước và điện Đông Dương. Năm
1951 tại Sài Gòn – Chợ Lớn có 21.909 cơ sở kinh doanh có thẻ môn bài. Từ năm 1954 đến
1955 ở Chợ Lớn có 70% cơ sở kinh doanh của người Hoa. Năm 1954 có 32057 xí nghiệp
của người Việt và 11.084 xí nghiệp của người Hoa (xí nghiệp người Việt có vốn của người
Hoa đến 70%).
Đến năm 1954, thủ công nghiệp trên địa bàn thành phố vẫn còn ở mức cá nhân gia
đình. Thường tiểu chủ sử dụng vài ba chục công nhân sản xuất theo sự phân phối hoặc đem
hàng về nhà làm. Nghề thủ công phát triển khá mạnh ở thành phố: sơn mài, khảm xà cừ,
kim hoàn, điêu khắc, sản xuất đường đen, đường phèn, đường phổi, đan, thêu, dệt, da, may
thương, tiểu chủ… Văn hóa tư sản Pháp thâm nhập vào xã hội Sài Gòn đã bước đầu phá vỡ
những lối sống, những phong tục tập quán cổ truyền của nhân dân ta. Mức độ đô thị hóa
nhanh chưa từng có ở Việt Nam, đó là một hiện tượng độc đáo của thành phố Sài Gòn –
Chợ Lớn. Sự gia tăng dân số thành phố Sài Gòn được ghi nhận: khoảng 248.000 người (năm
1913) lên 347.000 người (1926), lên 540.000 người (1938) vượt quá dự kiến đồ án phát
triển thành phố Sài Gòn của Pháp (đồ án COFFYN). Chỉ trong 10 năm, dân số Sài Gòn –
Chợ Lớn đã tăng gấp 3 lần. Năm 1943: 498.100 người chiếm 9% dân số Nam Kỳ, 1953:
1.614.200 người chiếm 27% dân số Nam Kỳ trong 10 năm đó dân số của cả Nam Kỳ cũng
chỉ tăng lên 426.700 người (1943: 5.577.800 người, 1953: 6.004.500 người) [146, 21].
Về thành phần dân cư, thời điểm năm 1953, ngoài người Việt chiếm 73% dân số, tại khu
vực Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định còn có 443.114 người Hoa, chiếm gần nửa người gốc
Hoa tại miền Nam, cư ngụ chủ yếu tại thành phố Sài Gòn – Chợ Lớn [146, 22], người di cư
từ châu Âu đến (18.339 người) phần lớn cư ngụ tại thành phố Sài Gòn – Chợ Lớn và tỉnh lỵ
Gia Định [146, 22]. Ngoài ra còn có khoảng 10.000 người thuộc các dân tộc Khmer Nam
Bộ, Lào, Chăm, Stiêng và một số dân tộc thiểu số khác. Nhìn chung các cộng đồng dân cư
này cư ngụ đan xen, sống hòa đồng, cởi mở không phân biệt nguồn gốc.
1.2. Đội ngũ công nhân Sài Gòn – Chợ Lớn và một số phong trào đấu tranh
1.2.1. Đội ngũ công nhân Sài Gòn – Chợ Lớn
Từ đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp tiến hành các cuộc khai thác thuộc địa trên quy mô
lớn, giai cấp tư sản Pháp đầu tư mạnh vào các ngành công thương nghiệp, tạo ra sự nhảy vọt
cả về số lượng và chất lượng của đội ngũ công nhân Sài Gòn.
Năm 1900, ở Sài Gòn có 2.000 công nhân làm việc khá tập trung của xưởng Ba Son
và 2.000 công nhân làm việc ở các cơ sở khai thác thuộc địa của Pháp.
Theo tài liệu cũ của Pháp về dân số, năm 1928 Sài Gòn có 125.000 người, Chợ Lớn
có 192.000 người, tổng cộng là 317.000 người thì số lượng công nhân chiếm tỷ lệ khoảng
7%, tức là trên 25.000 người. Đó là một tỷ lệ khá cao lúc bấy giờ so với các thành thị khác
14
Cùng với phong trào đấu tranh yêu nước của nông dân, trí thức, phong trào đấu tranh
của giai cấp công nhân thành phố Sài Gòn đã diễn ra sôi động. Từ những hình thức lãn
15
công, bỏ việc, làm đơn tố cáo, phá hoại máy móc, vật tư tiến lên những hình thức đình công,
bãi công tập thể. Tiêu biểu là cuộc bãi công của công nhân nhà máy Ba Son, cuộc đấu tranh
của học sinh trường Bá Nghệ năm 1912, cuộc đình công của 40.000 lao động đào kinh Đô
(Chợ Lớn). Ngày 8-3-1920, công nhân và thủy thủ 5 chiếc tàu đậu ở bến Sài Gòn bãi công
đòi phụ cấp đắt đỏ nêu cao khẩu hiệu: “Vạn tuế tổng công hội”, “Vạn tuế sự giải phóng
người lao động bởi tay người lao động”. Tháng 11-1922, cũng tại Chợ Lớn đã diễn ra cuộc
bãi công của 600 thợ nhuộm. Nét mới ở cuộc đấu tranh này là sự tập hợp đông đảo thợ
nhuộm của nhiều cơ sở nhuộm trên đất Sài Gòn - Chợ Lớn. Trong tác phẩm “Bản án chế độ
thực dân Pháp”, Nguyễn Ái Quốc đã ca ngợi phong trào đấu tranh của công nhân Sài Gòn –
Chợ Lớn và kêu gọi giai cấp cần lao hãy ghi nhớ lấy dấu hiệu đấu tranh của thời đại. Những
cuộc đấu tranh yêu nước của giai cấp công nhân và nhân dân Sài Gòn tuy còn mang yếu tố
tự phát và chưa đi đến thắng lợi sau cùng, nhưng đó là mảnh đất thuận lợi để chủ nghĩa
Mác-Lênin nảy nở sau này.
Năm 1920, Tôn Đức Thắng bí mật thành lập Công hội với mục đích đấu tranh bảo vệ
quyền lợi của công nhân, tổ chức tương trợ cứu giúp anh em công nhân, tổ chức tương trợ
cứu giúp anh em công nhân khi gặp khó khăn. Tổ chức công hội đã có cơ sở ở Nhà đèn Sài
Gòn, Chợ Quán, xí nghiệp Ba Son, F.A.C.I… Từ 1920 đến 1925, Công hội đã có 300 hội
viên và tổ chức thắng lợi cuộc đấu tranh của 1.000 công nhân Ba Son vào tháng 8-1925.
Mục đích cuộc bãi công của công nhân Ba Son là làm chậm việc sửa chữa chiếc tàu Misơlê
(Michelet) mà thực dân Pháp dùng chở lính sang đàn áp phong trào cách mạng Trung Quốc.
Ngày 4-8-1925, cuộc bãi công nổ ra với yêu sách "tăng 20% lương, đưa số thợ bị đuổi trở
lại làm việc và giữ lệ nghỉ 30 phút vào ngày lãnh lương". Để đảm bảo thắng lợi, ban lãnh
đạo Công hội đã vận động công nhân, viên chức trong thành phố ủng hộ vật chất và tinh
thần cho công nhân Ba Son. Sau 8 ngày đấu tranh, cuộc bãi công đã giành được thắng lợi.
Ngày 12-8 công nhân trở lại làm việc, nhưng tiếp lục lãn công làm chậm việc sửa chữa tàu
phong trào đấu tranh của công nhân vẫn duy trì ở mức độ cao. Các cuộc đấu tranh rầm rộ
dưới các khẩu hiệu: Phản đối đánh đập, cúp lương – ngày làm 8 giờ - công nông binh liên
hợp lại – vô sản giai cấp toàn thế giới liên hợp lại – nổ ra… Nổi bật nhất là các cuộc bãi
công của công nhân hãng dầu Xô-cô-ny Nhà Bè (1-2-1930), của công nhân làm đường ở
đường Cantinat và Espagne 14-4-1930, của 300 công nhân xe lửa Dĩ An và của 600 công
nhân hãng dầu Nhà Bè 16-3, công nhân Ba Son 21-4-1930; nhà máy đèn Chợ Lớn… Cuộc
bãi công 27-4-1930 của công nhân Đề pô xe lửa Dĩ An bãi công có rải truyền đơn, treo cờ
đỏ búa liềm và lần đầu tiên hô những khẩu hiệu: “công nông binh liên hiệp lại”, “thi hành
luật làm 8 giờ”, tăng lương, không được đánh đập, không được cúp lương… Cuộc bãi công
này kéo dài đến ngày 1-5 và cùng với những cuộc bãi công khác đã biến ngày 1-5 thành
ngày biểu dương lực lượng của quần chúng công nông ở thành phố chính thức kỷ niệm ngày
17
Quốc tế lao động lần đầu tiên ở Sài Gòn – Chợ Lớn - Gia Định [44, 9]. Cuộc đấu tranh ngày
1-5-1930 là một bước ngoặt của cao trào cách mạng 30-31, từ thành thị đến nông thôn khắp
3 miền Bắc, Trung, Nam đều có cờ đỏ búa liềm, truyền đơn, mít tinh xuất hiện, biểu tình,
tuần hành thị uy nổ ra khắp nơi. Tại Sài Gòn và Nam Kỳ các cuộc đấu tranh đều có sự lãnh
đạo của chi bộ Đảng như cuộc biểu tình của hàng vạn nông dân Gia Định, Chợ Lớn, cuộc
bãi công của công nhân hãng rượu Bình Tây, hãng cưa Gia Ty…
Tháng 1-1931, Thường vụ Trung ương Đảng đã họp cùng Xứ ủy Nam Kỳ, trực tiếp
lãnh đạo phong trào đấu tranh của công nhân thành phố. Các cuộc bãi công, biểu tình, rải
truyền đơn, treo cờ đỏ búa liềm đã nổ ra. Nổi bật nhất là cuộc mít tinh kỷ niệm một năm
khởi nghĩa Yên Bái của công nhân hãng dầu Nhà Bè ngày 8-2-1931 do Tổng Công hội đỏ
Sài Gòn – Chợ Lớn tổ chức, đấu tranh đòi tăng lương, trả lương đúng hạn và không được vô
cớ đuổi thợ. Cuộc bãi công được nông dân ngoại thành tổ chức mít tinh quyên tiền ủng hộ
[74, 9-10].
Được ban Công vận trực tiếp chỉ đạo, Tổng Công hội đỏ Nam Kỳ liên tiếp tổ chức 5
cuộc bãi công lớn ở 3 hãng dầu Standard Oil, Texaco và Pháp Á. Nông dân ngoại thành Hóc
Môn, Bà Điểm và các nơi khác mit tinh, hội họp tỏ tình đoàn kết với công nhân tranh đấu.
nghiệp công nghiệp hiện đại mà là 13 xưởng thủ công (mỗi xưởng mướn vài chục thợ), vì
vậy cuộc bãi công có ý nghĩa như một cuộc tổng bãi công của toàn ngành dệt khăn, nói lên
sự trưởng thành về ý thức giác ngộ quyền lợi giai cấp và trình độ tổ chức, kỷ luật của công
nhân Sài Gòn nói chung.
Liên tiếp sau đó là những cuộc đấu tranh ở nhiều nhà in Ardin, nhà in Công Luận ở
Sài Gòn và công nhân xe kéo Sài Gòn và Gia Định. Năm 1932, 500 công nhân hãng dầu
Texaco đấu tranh khá quyết liệt, chống cúp phạt, đuổi người vô cớ… làm giới chủ phải
nhượng bộ. Cuộc đấu tranh này được tạp chí Búa Liềm của Đảng đưa tin và biểu dương.
Tiểu thương thành phố cũng tham gia đấu tranh dưới hình thức bãi thị ở các chợ Đa Kao, Bà
Chiểu, Chợ Lớn chống tăng tiền chỗ…
Trong hai năm 1934-1935, mặc dù Thực dân Pháp đang ra sức đàn áp khủng bố
phong trào cách mạng, ở Đông Dương có 60 cuộc đấu tranh công nhân thì có đến 40 cuộc
đấu tranh nổ ra ở Sài Gòn – Chợ Lớn [27,10]. Nhiều cuộc bãi công và tổng bãi công liên
tiếp nổ ra ở sân bay Tân Sơn Nhất, ngành giao thông vận tải, các hãng buôn, các xưởng
đường, xưởng nhuộm ở Gia Định, các lò gạch, công nhân bốc vác, hãng dầu Nhà Bè…
Phong trào công nhân thành phố Sài Gòn thực sự trở thành một trong những trung tâm đấu
tranh tiêu biểu của Nam Bộ và cả nước. Đặc điểm của phong trào công nhân lúc này là vừa
có bãi công lớn vừa có tổng bãi công, mở đầu bằng cuộc tổng bãi công của 12 nhà máy xay
của Hoa kiều ở Chợ Lớn (5-1934). Những cuộc đấu tranh này đã kết thúc một thời kỳ làm
quen và tập sự với phương pháp đấu tranh mới và mở ra cao trào mới cho Sài Gòn.
19
Cũng trong thời kỳ này, Sài Gòn là nơi duy nhất tiến hành đấu tranh hợp pháp trên
báo chí và nghị trường, gây ảnh hưởng cách mạng sâu rộng trong quần chúng. Đại biểu giai
cấp công nhân ra tranh cử “Hội đồng quản hạt Nam Kỳ” 2-1935 và “Hội đồng thành phố” 51935 đã giành được số phiếu rất cao [74, 10]. Hai đại biểu cộng sản (Nguyễn Văn Tạo và
Dương Bạch Mai) được đắc cử trong các Hội đồng thành phố được hàng vạn công nhân ủng
hộ bằng các cuộc bãi công đồng loạt: Xưởng xà phòng Trương Văn Bền, nhà in Ác-đanh,
Đê-cua Ca-bô, công xưởng thành phố, và nhất là cuộc tổng bãi công xe thổ mộ Sài Gòn Chợ Lớn - Gia Định. Các cuộc diễn thuyết về biện chứng pháp ở trụ sở Hội S.A.M.I.P.C,
tranh đấu cho các quyền tự do dân chủ như tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do nghiệp
đoàn, nam nữ bình đẳng, tăng lương, bớt giờ làm… công nhân Sài Gòn vừa đấu tranh đòi
dân sinh dân chủ, vừa hưởng ứng lời kêu gọi tổ chức vận động tiến tới Đông Dương đại hội.
Khắp nơi thành lập các ủy ban hành động, tổ chức mít tinh diễn thuyết, tập hợp nguyện
vọng, yêu cầu của nhân dân để chuẩn bị cho Ủy ban điều tra nghị viện Pháp sắp sang Đông
Dương. Chỉ một thời gian ngắn, ở Nam Bộ đã tổ chức được 600 ủy ban hành động mạnh
nhất ở Sài Gòn – Chợ Lớn thành lập được 31 ủy ban được tổ chức trong các nhà máy, cơ sở
công nghiệp như: thuốc lá Cofat, rượu Bình Tây, xăng dầu Nhà Bè, cảng; trong các ngành
đường sắt, xe điện, các nhà in, trong thợ thủ công, học sinh, tiểu thương… Hội họp mít tinh
mở ra liên tiếp không chỉ ở trung tâm thành phố mà còn ở nhiều nhà máy, xí nghiệp, trường
học vùng nông thôn ngoại thành. Phong trào công nhân lên mạnh với những khẩu hiệu đấu
tranh như ngày làm 8 giờ, tuần lễ làm 40 giờ, định tiền lương tối thiểu, nữ công nhân nghỉ
đẻ có lương và không bị sa thải sau khi sanh đẻ.. Phong trào công nhân thúc đẩy nông dân
hội họp mít tinh đưa yêu sách đòi giảm thuế, cấm cho vay nặng lãi; tiểu thương đòi giảm
thuế chợ, bỏ phạt vạ, tiểu chủ đòi giảm thuế môn bài; học sinh đòi mở thêm trường học…
Năm 1936, phong trào tổng bãi công với quy mô lớn dồn dập nổ ra ở hầu hết các xí
nghiệp, công nhân Sài Gòn đã đóng vai trò tích cực, nòng cốt với lực lượng đông đảo tại
những cuộc đấu tranh sau: cuộc tổng bãi công của công nhân 8 xưởng đường và 8 xưởng
nhuộm ở Gia Định, 5 lò gạch ở Chợ Lớn, của 4000 công nhân làm trên 350 ghe chài chở lúa
gạo, của công nhân Ba Son, công nhân nước mắm, thương khẩu, xà bông và Sở vệ sinh [74;
11], ngày 20-5 công nhân hãng dầu Texaco Nhà Bè bãi công đòi tăng lương; Ngày 27-9
công nhân xà bông Trương Văn Bền bãi công lần thứ nhất; Ngày 5-10 công nhân nhà máy
xay Nguyễn Thành Liên đòi tăng lương; Ngày 5-11 tất cả công nhân lò nhuộm, trại cưa, anh
em đánh xe thổ mộ Bà Điểm, Bà Quẹo, Quán Tre, Chợ Cầu, Trung Chánh đình nghiệp đòi
thả Dương Bạch Mai và Nguyễn Văn Tạo; Ngày 10-11, 100 công nhân lò gạch ở Chợ Lớn
bãi công đòi tăng lương; Ngày 9-12, 100 công nhân thương khẩu Sài Gòn đình công đòi
tăng lương; Ngày 12-12, 600 thợ nhuộm Gia Định và thợ giặt Sài Gòn đình công đòi tăng
lương, giảm giờ làm, nghỉ chủ nhật và không vô cớ đuổi thợ; Ngày 16-12 công nhân xà
21
nhân và quần chúng lao động với những người cộng sản, với Đảng Cộng sản. Phong trào ái
hữu ở Sài Gòn phát triển mau lẹ trong công nhân công nghiệp, trong xí nghiệp nhà máy Ba
Son, Faci, Simac… Thực chất là phong trào đòi tự do nghiệp đoàn cho thấy trình độ chính
trị của công nhân làm thất bại âm mưu của bọn thực dân.
22
Để góp phần đấu tranh công khai trên báo chí, ngày 22-7-1938, tờ Dân chúng với
danh nghĩa là cơ quan của lao động và quần chúng ở Đông Dương, nhưng thực chất là cơ
quan Trung ương của Đảng. Tiếp theo các tờ Mới của Thanh niên, Lao động của công nhân
và một số tờ báo khác. Với nội dung tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng, vạch trần
chế độ thực dân phong kiến thối nát, phản động, kêu gọi công nông đấu tranh bảo vệ quyền
lợi chính đáng của mình và tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lênin. Hàng loạt cuốn sách công
khai giới thiệu chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, giới thiệu về Liên Xô được phát hành
rộng rãi.
Bước sang những năm 1938-1939, phong trào công nhân Sài Gòn có phần lắng
xuống các cuộc đấu tranh tiêu biểu như cuộc tổng bãi công ngày 29-2-1938 của 5.500 công
nhân chuyên chở trên 450 thuyền và xà lan chở hàng từ Chợ Lớn ra Cảng Sài Gòn, 200 nữ
công nhân làm tại 5 công ty xuất nhập khẩu Sài Gòn đình công, công nhân hãng Cotab
(MIC) bãi công đòi giảm giờ làm (1939)…
Trong 4 năm 1936-1939, Sài Gòn – Chợ Lớn có tất cả 111 cuộc bãi công, đây là con
số kỷ lục so với những thời kỳ trước. Phong trào công nhân đã biết lợi dụng thế hợp pháp,
tận dụng những hình thức công khai hợp pháp, nửa hợp pháp như ủy ban hành động, tập
hợp thảo luận dân nguyện đòi tự do nghiệp đoàn, đòi ái hữu, tiếng nói trên báo chí, mit tinh
biểu tình… Hòa cùng phong trào quần chúng công khai phát triển rầm rộ ở Sài Gòn, đội ngũ
công nhân lao động đã trưởng thành thêm một bước.
Tháng 9-1939, chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ. Cuối năm 1939 chính quyền Thực
dân Pháp ở Đông Dương ra mặt phát xít hóa trắng trợn, cấm đoán hoàn toàn các hoạt động
nghiệp đoàn và ái hữu. Kế đó, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ (23-11-1940) thất bại, bị dìm trong
máu, phong trào công nhân càng gặp nhiều khó khăn. Năm 1941, phát xít Nhật đổ bộ vào