ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
DIỆP KIỀU TRANG
VAI TRÒ CỦA NÔNG DÂN BẠC LIÊU TRONG
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Hà Nội - 2011
0
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................ 1
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài ................................................... 4
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn .......................................... 7
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn ........................................... 7
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn ............................. 8
6. Đóng góp mới của luận văn ........................................................................... 8
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn .................................................... 8
8. Kết cấu của luận văn ..................................................................................... 9
Chương 1. NÔNG DÂN VÀ VAI TRÒ CỦA NÔNG DÂN TRONG XÂY
DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở VIỆT NAM ........................................................ 10
1.1. Nông dân và nông thôn mới ở Việt Nam ................................................. 10
1.1.1. Nông dân và những đặc điểm nông dân Việt Nam ............................... 10
1.1.2. Những đặc điểm của nông thôn và nông thôn mới ở Việt Nam ................ 25
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một nước nông nghiệp, nông dân chiếm đa số trong dân cư
(trước cách mạng Tháng Tám năm 1945, nông dân chiếm hơn 90% dân số, hiện nay
nông dân còn chiếm hơn 70% dân số cả nước). Ở mọi giai đoạn cách mạng, Đảng ta
luôn khẳng định vai trò, tầm quan trọng to lớn có ý nghĩa chiến lược của nông
nghiệp, nông dân và nông thôn. Trong những năm vừa qua, cùng với sự đổi mới
chung của đất nước, nông nghiệp, nông thôn nước ta đã đạt được những thành tựu
quan trọng, đời sống của nông dân được cải thiện nhiều, bộ mặt nông thôn đã có
những biến đổi sâu sắc. Trong quá trình đó, thực hiện chủ trương của Đảng về phát
triển nông thôn, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã phối hợp với các địa
phương tiến hành xây dựng thí điểm một số mô hình nông thôn mới ở quy mô xã,
thôn, ấp, bản trên phạm vi cả nước. Nhưng do nhận thức chưa thống nhất, chỉ đạo,
đầu tư còn phân tán, cho nên kết quả đạt được còn hạn chế. Đối chiếu với yêu cầu,
mục tiêu xây dựng giai cấp nông dân, phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn
mới trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo chủ trương của
Đảng, Nhà nước ta thì việc xây dựng nông thôn mới hiện nay còn rất nhiều vấn đề
đặt ra cần được giải quyết.
Nghị quyết Đại hội X của Đảng đã đề ra nhiệm vụ “Thực hiện chương trình
xây dựng nông thôn mới. Xây dựng các làng, xã, ấp, bản có cuộc sống no đủ, văn
minh, môi trường lành mạnh”[38;tr.90]. Triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội X,
tại Hội nghị lần thứ bảy, Ban Chấp hành Trung ương (khóa X) đã ra Nghị quyết số
26-NQ/TƯ “Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn” đề ra mục tiêu “Xây dựng nông
thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức
tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ,
đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân
trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn
dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường”[39;tr.126]. Vì vậy, phát triển nông
1
nghèo giảm rõ rệt; cơ sở hạ tầng từng bước hoàn chỉnh, trình độ dân trí được nâng
lên, kể cả vùng sâu, vùng xa. Đảng bộ, chính quyền cấp xã đã năng động hơn, bộ
máy chính quyền được củng cố, kiện toàn; trình độ quản lý của cán bộ được nâng
lên thể hiện qua việc điều hành các hoạt động xã hội, thực hiện hoàn thành các chỉ tiêu
kinh tế - xã hội của địa phương; cán bộ xã nhận thức đúng đắn trách nhiệm và hoàn
thành tốt nhiệm vụ được giao. Nhân dân bước đầu có ý thức, tự nguyện thực hiện các
nghĩa vụ và tích cực đóng góp xây dựng nông thôn mới. Các mặt văn hóa, xã hội đã có
sự chuyển biến tích cực; các chính sách đảm bảo an sinh xã hội được thực hiện; các
chương trình mục tiêu quốc gia về y tế, giáo dục, giảm nghèo và việc làm được thực
hiện có hiệu quả; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo.
Tuy nhiên, vai trò của nông dân trong xây dựng nông thôn mới ở Bạc Liêu
đang đặt ra những vấn đề cấp bách cần phải giải quyết như công tác tuyên truyền,
vận động nhân dân về chủ trương xây dựng nông thôn mới của các cấp chính quyền
địa phương còn yếu và thiếu; một bộ phận cán bộ ở một số cấp, ngành còn mơ hồ
chưa nắm bắt được những chủ trương đường lối của Đảng, những chính sách phát
triển kinh tế - xã hội của địa phương. Việc xây dựng kế hoạch của các cấp, các
ngành thiếu phối hợp đồng bộ, thiếu sự gắn kết giữa nhiệm vụ chuyên môn của
ngành với nhiệm vụ xây dựng mô hình phát triển nông thôn mới, do đó chưa huy
động được các nguồn lực đầu tư vào nông thôn, nhất là lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ
tầng nông thôn. Sự đóng góp của các cấp, các ngành và người dân cả vật chất và
tinh thần vào xây dựng nông thôn mới còn nhiều hạn chế. Các tổ chức kinh tế tập
thể kiểu mới bước đầu được hình thành, song chưa phát huy tác dụng, kết quả hoạt
động chưa đủ sức thuyết phục và thu hút người dân tham gia. Kinh tế có bước tăng
trưởng, nhưng chưa thật vững chắc, chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế sẵn có,
giá trị sản xuất nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao. Sản xuất còn độc canh, mang
tính tự phát, việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất còn hạn chế, sức cạnh
tranh sản phẩm hàng hóa thấp, sản xuất chưa gắn với bảo vệ môi trường, ngành
nghề phi nông nghiệp chậm phát triển v.v… làm cản trở sự phát triển bền vững của
làm rõ vai trò của nông thôn và nông dân trong thời cận đại của Việt Nam.
- Các công trình nói về nông dân dưới góc độ tâm lý như “Đặc điểm tâm lý
nông dân đồng bằng Bắc Bộ và sự tác động của nó đối với quá trình công nghiệp
4
hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn vùng đồng bằng Bắc Bộ nước ta” của tác
giả Lê Kim Việt (Nxb CTQG, H.1998); “Quan hệ cộng đồng và cá nhân trong tâm
lý nông dân” của tác giả Đỗ Long (Nxb Khoa học xã hội, H.2000).
- Nghiên cứu về nông nghiệp, nông dân, nông thôn có các công trình như:
“Một số vấn đề về nông nghiệp, nông thôn, nông dân, Hội nông dân Việt Nam của
tác giả Vũ Ngọc Kỳ (Nxb Nông nghiệp, H.2005); “Nông nghiệp, nông dân, nông
thôn Việt Nam - Hôm nay và mai sau” của tác giả Đặng Kim Sơn (Nxb CTQG,
H.2008). Những công trình này đã khái quát một số nét về sự phát triển, những
đóng góp của nông nghiệp, nông thôn, nông dân và Hội nông dân Việt Nam trong
đấu tranh cách mạng và xây dựng đất nước.
- Nghiên cứu về CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn có các công trình đã
được công bố như: “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn - Một
số vấn đề lý luận và thực tiễn của tác giả Hồng Vinh (Nxb CTQG, H.1998); “Công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam - Con đường và bước
đi” của tác giả Nguyễn Kế Tuấn (Nxb CTQG, H.2006). Trong các công trình này,
các tác giả đã đề cập tới tính tất yếu, những nôị dung và những vấn đề đang đặt ra
trong CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn nước ta hiện nay.
- Dưới góc độ nghiên cứu về kinh tế - xã hội nông nghiệp, nông thôn có các
công trình như “Đổi mới kinh tế - xã hội nông thôn định hướng và những giải pháp
thực tiễn” của tác giả Lưu Văn Sùng (Tạp chí khoa học và dự báo tháng 6/1993);
“Phát triển toàn diện kinh tế - xã hội nông thôn, nông nghiệp Việt Nam” của tác giả
Chu Hữu Quý (Nxb CTQG, H.1996).
- Công trình nghiên cứu “Nông nghiệp, nông thôn trong giai đoạn CNH, HĐH”
do PTS Đặng Thọ Xương chủ biên; (Nxb CTQG, H.1997) đưa ra nhận xét đánh giá
- Nghiên cứu về vai trò của nông dân trong xây dựng nông thôn mới như
“Phát huy tiềm năng của nông dân tỉnh An Giang trong việc xây dựng nông thôn
mới hiện nay” của Trần Hùng Điệp (LV Thạc sĩ, H.1997). Công trình này đã phân
tích những tiềm năng của nông dân An Giang và những biện pháp phát huy những
tiềm năng đó trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN của tỉnh.
- Nghiên cứu về nông nghiệp, nông thôn Bạc Liêu có các công trình của Đào
Thị Bích Hồng như “Đảng bộ tỉnh Bạc Liêu lãnh đạo phát triển nông nghiệp, nông
thôn (1997 - 2003)” (LV Thạc sĩ, H.2005); “Đảng bộ tỉnh Bạc Liêu lãnh đạo phát
6
triển nông nghiệp, nông thôn (1997 - 2005)” (Tạp chí Lịch sử Đảng, số 3 - 2007,
tr.45 - 47); “Mấy vấn đề về nông nghiệp Bạc Liêu trong thời kỳ đổi mới” (Tuyển
tập báo cáo tóm tắt Hội thảo Quốc tế Việt Nam học lần thứ 3, Việt Nam hội nhập và
phát triển, Nxb Đại học Quốc gia, H.2008). Những công trình trên đã phân tích tình
hình phát triển nông nghiệp, nông thôn Bạc Liêu những năm qua và nêu lên những
vấn đề đặt ra, trên cơ sở đó bàn những biện pháp để phát huy những thành tựu và
khắc phục những yếu kém.
Ngoài các công trình nghiên cứu trên, còn có các bài viết, bài báo trên các tạp
chí đã tiếp cận từ các khía cạnh khác nhau, cũng như mức độ khác nhau có liên
quan đến vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn.
Như vậy cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về nông nghiệp,
nông dân, nông thôn dưới các góc độ khác nhau: lịch sử, kinh tế - xã hội, tổ chức
quản lý v.v... Những công trình đó giúp cho tác giả hiểu rõ thêm những vấn đề có
liên quan tới nông dân, nông thôn. Tuy nhiên, dưới góc độ chính trị - xã hội chưa có
công trình nào nghiên cứu về: Vai trò của nông dân Bạc Liêu trong xây dựng
nông thôn mới hiện nay. Vì vậy, công trình này là sự cố gắng của tác giả đem
những hiểu biết lý luận của mình vào nghiên cứu thực tiễn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp phương pháp phân tích và tổng hợp,
lôgíc và lịch sử.
6. Đóng góp mới của luận văn
- Luận văn làm rõ về đặc điểm nổi bật của người nông dân Bạc Liêu và
vai trò của nông dân Bạc Liêu trong quá trình xây dựng nông thôn mới của tỉnh
hiện nay.
- Luận văn nghiên cứu thực trạng vai trò nông dân Bạc Liêu trong xây dựng nông
thôn mới ở tỉnh, từ đó đề xuất một số giải pháp để nông dân Bạc Liêu có thể phát huy tốt
hơn nữa vai trò của mình trong xây dựng nông thôn mới.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa lý luận của luận văn
Luận văn là tài liệu tham khảo, nghiên cứu để giảng dạy những vấn đề
liên quan tới nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam nói chung, tỉnh Bạc
Liêu nói riêng.
8
Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Luận văn là nguồn tài liệu để nông dân, các cấp chính quyền địa phương
tham khảo nhằm phát huy tốt hơn nữa vai trò của bà con nông dân trong sự nghiệp
CNH, HĐH nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Bạc Liêu hiện nay.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Mục lục, luận văn gồm
2 chương 4 tiết.
9
Chương 1. NÔNG DÂN VÀ VAI TRÒ CỦA NÔNG DÂN TRONG XÂY
có tư liệu lao động, như vậy anh ta là tàn dư của một phương thức lỗi thời” [43;
tr.11-12]. Bản chất xã hội và địa vị của nông dân trong xã hội là do phương thức sản
xuất thống trị quy định và được thay đổi cùng với sự thay đổi của hình thái kinh tế xã hội và các giai đoạn phát triển của nó. Trong xã hội XHCN, nông dân bao gồm
những người sản xuất nông nghiệp phân tán và chủ yếu là những người sản xuất
nhỏ. Trong điều kiện của CNTB, nông dân là một tầng lớp tiểu tư hữu - sản xuất
hàng hóa, một bộ phận của tiểu tư sản, tất yếu ngày càng bị phân hóa. Nông dân
phân hóa thành ba nhóm khác nhau xét theo địa vị giai cấp của họ: tiểu nông (bần
nông, cố nông), trung nông và tư sản nông nghiệp. Việc tích tụ sản xuất TBCN và
việc tăng cường sự tước đoạt dẫn tới chỗ làm xói mòn tầng lớp trung nông. Một
mặt, số quần chúng vô sản và nửa vô sản không ngừng tăng lên ở nông thôn và mặt
khác, giai cấp tư sản được tăng cường.
Xét về bản chất kinh tế - xã hội, giai cấp nông dân dưới CNTB có tính hai mặt:
vừa là giai cấp những người lao động, vừa là giai cấp những người tư hữu.
Theo C.Mác, nông dân là những người tư hữu và sản xuất nhỏ. Họ là những
người chủ sở hữu những tư liệu sản xuất nhỏ lẻ, manh mún như đất đai, nông cụ và
do đó không thể có được nền kinh tế độc lập. Người nông dân “chỉ sống vì những
lợi ích riêng nhỏ nhặt của họ, vì cái khung cửi, vì mảnh vườn cỏn con của họ và
không biết gì đến phong trào mạnh mẽ đang lay động loài người ở bên ngoài xóm
làng của họ”[29; tr. 488]. Chính phương thức sản xuất manh mún đó đã trói buộc tư
duy của người nông dân trong giới hạn chật hẹp, phường hội, tạo nên tâm lý, cách
sống bảo thủ, cục bộ, phân tán, biệt lập. C.Mác viết: “mảnh đất cỏn con, người nông
dân và gia đình anh ta, cạnh kề một mảnh đất cỏn con khác, một nông dân khác và
một gia đình khác”[29; tr.515] cùng với nền kinh tế tự cung, tự cấp không làm cho
họ liên lạc với nhau mà lại làm họ cô lập với nhau. Vì vậy, “nông dân không bao
giờ vượt ra khỏi phạm vi những quan hệ địa phương gần nhất và khỏi cái chân trời
địa phương chật hẹp gắn liền với những quan hệ đó”[29; tr.188]. C.Mác cũng chỉ ra
nông dân vừa là người tư hữu, vừa là người lao động bị áp bức bóc lột nặng nề.
11
Quan điểm của V.I.Lênin về nông dân là sự kế thừa và phát triển quan điểm
của C.Mác và Ph. Ăngghen về nông dân trong điều kiện mới là CNTB chuyển sang
giai đoạn đế quốc chủ nghĩa và khẳng định về khả năng cách mạng to lớn của giai
cấp này trong tiến trình cách mạng XHCN.
Người cho rằng, nông dân (trung nông) là những người sản xuất hàng hóa
nhỏ, là những người tiểu tư hữu. Họ là giai cấp của thời kỳ gia trưởng, một giai cấp
do hàng chục, hàng trăm nô lệ tạo thành. Trong suốt hàng chục năm ấy, người nông
dân là một người tiểu chủ, lúc đầu phải phục vụ các giai cấp khác, rồi sau đó được
tự do và bình đẳng về hình thức, nhưng là người tư hữu, người sở hữu lương thực.
Nông dân vừa là những người lao động, vừa là những người tư hữu nhỏ. Mặc dù họ
khác nhau về trình độ, địa vị kinh tế và lợi ích nhưng có một điểm chung giữa các
tầng lớp thuộc nông dân, đó là họ đều sinh sống bằng cách làm thuê cho các giai
cấp bóc lột ở nông thôn, hoặc là họ tồn tại bằng chính lao động của bản thân mình
trên những điều kiện sẵn có của mình về tư liệu sản xuất, chứ không sống bằng việc
bóc lột lao động của người khác. Lao động đó có thể đủ đáp ứng nuôi sống gia đình
và nhu cầu sản xuất của họ. Thậm chí với trung nông, lao động đó có thể tạo ra sản
phẩm dư thừa để họ có thể tích lũy. Vì vậy, “Giai cấp đó, một mặt là người tư hữu,
mặt khác lại là người lao động”[44; tr.237]. Đặc điểm này đã được V.I.Lênin chỉ rõ
khi phân tích sự khác biệt giữa trung nông và bọn cu - lắc. Trung nông khác cu - lắc
ở chỗ là trung nông không bóc lột lao động của người khác. Còn bọn cu - lắc thì bóc
lột lao động của người khác. “Bần nông, những người nửa vô sản, chính là những
người phải chịu sự bóc lột đó; trung nông, chính là người không bóc lột ai, tự túc
được, lúa tạm đủ ăn”[45; tr.18].
V.I.Lênin cũng cho rằng, giai cấp nông dân không có hệ tư tưởng độc lập. Tư
tưởng của họ phụ thuộc vào hệ tư tưởng của giai cấp thống trị đương thời. Do chịu sự tác
động rất lớn của những điều kiện kinh tế - xã hội nên nông dân có tư tưởng dễ dao động,
mập mờ và thực tế. Họ chỉ sẵn sàng tin và đi theo giai cấp nào mang lại lợi ích cho họ,
nhưng cũng phải chờ cho tới khi nào họ nhận thức rõ ràng được lợi ích đó. Cho nên, nếu
Giai cấp nông dân bắt buộc phải đi theo giai cấp vô sản, ủng hộ giai cấp vô
sản tiến hành thắng lợi cuộc cách mạng XHCN. Trong Sơ thảo lần thứ nhất những
luận cương về vấn đề ruộng đất để trình bày tại Đại hội II Quốc tế Cộng sản,
14
V.I.Lênin đã khẳng định: “Đối với quần chúng lao động ở nông thôn, không có con
đường giải thoát nào khác ngoài sự liên minh với giai cấp vô sản chủ nghĩa và triệt
để ủng hộ cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp đó để lật đổ ách thống trị của bọn
địa chủ - bọn chiếm hữu nhiều ruộng đất và của giai cấp tư sản”[47; tr.207]. Hơn
nữa, trong xã hội áp bức, bóc lột, giai cấp nông dân là giai cấp bị áp bức một cách
ghê gớm, bị giam hãm và sinh hoạt trong những điều kiện vô cùng thấp kém. Vì
vậy, giai cấp nông dân chỉ có thể ủng hộ và đi theo con đường cách mạng do giai
cấp vô sản lãnh đạo nhằm diệt trừ bọn đại địa chủ và giai cấp tư sản. V.I.Lênin
khẳng định: “Do địa vị kinh tế của mình trong xã hội tư sản, nông dân nhất định
phải đi theo hoặc công nhân, hoặc giai cấp tư sản. Không có con đường trung
gian”[46; tr.438].
Như vậy, theo V.I.Lênin thì giai cấp nông dân là giai cấp được hình thành từ
rất lâu trong lịch sử. Họ là những người sinh sống và lao động ở nông thôn gắn với
các tư liệu sản xuất nhỏ lẻ, phân tán mà mình sở hữu. Trong các xã hội có áp bức,
bóc lột giai cấp, giai cấp nông dân là người bị chèn ép, bóc lột, do vậy, con đường
giải phóng của giai cấp nông dân chỉ có thể là đi theo giai cấp vô sản tiến hành cuộc
cách mạng XHCN để giành quyền lợi cho mình.
Xuất phát từ đặc điểm nước ta và phong trào nông dân tham gia các cuộc
khởi nghĩa của Trương Công Định, Thủ khoa Huân, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa
Thám để chống Pháp, Hồ Chí Minh đã tiếp thu và vận dụng sáng tạo học thuyết
Mác - Lênin về vấn đề nông dân và liên minh công nông vào điều kiện nước ta.
Vào năm 1925, trong cuốn Đường Kách Mệnh, Người viết: “Công nông là
gốc cách mệnh”, “Công nông là chủ cách mệnh”. Khi Đảng Cộng sản Việt Nam
được thành lập, trong Cương lĩnh đầu tiên do Người khởi thảo ghi rõ: “Đảng phải
Ở nước ta, nông dân là một giai cấp đông đảo nhất, đi theo cách mạng dưới sự
lãnh đạo của Đảng Cộng sản góp phần làm nên cuộc cách mạng Tháng Tám và giành
được thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.
Trong thời bình xây dựng đất nước, nông dân cũng là lực lượng đông đảo, thế nhưng
cũng đang là vấn đề vừa cơ bản, vừa cấp bách, kể cả huy động lực lượng cũng như
hưởng thụ những thành quả của đổi mới, xây dựng nông thôn mới, tăng trưởng kinh
16
tế và hội nhập kinh tế quốc tế. Vì vậy, Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung
ương khóa X khẳng định nông dân là chủ thể quan trọng của toàn bộ quá trình xây
dựng đất nước nói chung, phát triển nông nghiệp và nông thôn nói riêng.
Vấn đề nông dân hiểu theo nghĩa rộng là toàn bộ những nội dung liên quan
tới người nông dân trên tất cả các phương diện sống của họ để tồn tại và phát triển
một cách bền vững. Bởi vậy, vấn đề này cần được xác định trong mối quan hệ
tương tác với các nhân tố là nông nghiệp, nông thôn, công nghiệp hóa, đô thị hóa và
hội nhập kinh tế quốc tế và được đặt trong bối cảnh phát triển chung của đất nước,
của toàn cầu.
Trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta, Đảng ta xác định là phát triển
nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến và xây dựng nông thôn mới;
đẩy mạnh công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, mở rộng kinh tế
đối ngoại, phát triển kinh tế dịch vụ, xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng, xây dựng
nền công nghiệp nặng với bước đi thích hợp, trước hết là các ngành phục vụ trực
tiếp nông nghiệp, thực hiện chuyên môn hóa và liên kết kinh tế giữa các vùng, các
địa phương; xây dựng các trung tâm kinh tế của từng vùng, tạo điều kiện liên kết
công nghiệp với nông nghiệp, thành thị với nông thôn, phát triển giao lưu hàng
hóa… Xây dựng giai cấp nông dân về mọi mặt để xứng đáng là một lực lượng cơ
bản trong quá trình xây dựng nông thôn mới, góp phần đắc lực vào sự nghiệp CNH,
HĐH đất nước. Như vậy, theo đường lối lãnh đạo của Đảng, vấn đề nông dân đã
được đặt trong tầm nhìn bao quát và rất cơ bản.
tiếp theo, từ năm 938 Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán giành độc lập cho dân
tộc, cho đất nước; đến Nguyễn Huệ đại phá Mãn Thanh; hai lần đánh thắng đế quốc
Pháp và Mỹ dưới thời đại Hồ Chí Minh. Trong vòng 10 thế kỷ, Việt Nam 10 lần đại
thắng quân xâm lược bằng khát vọng tự do, độc lập. Trong đội quân chiến thắng
huy hoàng ấy mà nông dân là lực lượng chủ yếu. Đây là đặc điểm nổi bật mà nông
dân nhiều nước không có.
Truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam nói chung và của giai cấp
nông dân Việt Nam nói riêng đã được Hồ Chí Minh đúc kết: “Dân ta có một lòng
yêu nước nồng nàn. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi
18
khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô
cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ
bán nước và lũ cướp nước” [32, tr. 171].
Hai là giai cấp nông dân Việt Nam cần cù sáng tạo trong xây dựng đất nước.
Do sinh sống trong điều kiện thiên nhiên vừa ưu đãi vừa khắc nghiệt đã tạo
cho người nông dân Việt Nam đức tính cần cù, thông minh trong việc chống thiên
tai để tồn tại và phát triển. Đa số nhân dân Việt Nam mà nông dân là chủ yếu đã anh
dũng chế ngự thiên tai, cải tạo điều kiện sống. Từ đó đã không ngừng nâng cao từng
bước cuộc sống của con người, bảo vệ tính trường tồn và phát triển của dân tộc,
trong đó kỳ công lịch sử chinh phục thiên nhiên sớm nhất của nông dân Việt Nam
trước hết là hệ thống đê điều bảo vệ nơi cư trú, mùa màng, cây trồng và vật nuôi.
Cùng với hệ thống đê điều đồ sộ là hệ thống sông ngòi chằng chịt do thiên nhiên
và nhân dân tạo nên mang đặc điểm dân tộc, không chỉ có tác dụng ngăn dòng chống
lũ, chống úng phù hợp với thiên nhiên nhiệt đới, mà còn là một hệ thống giao thông
thủy, giao thông bộ rất thuận lợi cho việc đi lại trao đổi mua bán của nhân dân.
Thiên nhiên vừa ưu đãi vừa khắc nghiệt, đức tính cần cù, thông minh, dũng
cảm đã hun đúc nên ở người nông dân Việt Nam tư duy sản xuất giàu tính sáng tạo
thần đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau là cơ sở để người nông dân Việt Nam tiếp thu có chọn lọc
và Việt hóa các triết lý tôn giáo (Khổng giáo, Lão giáo, Phật giáo, Thiên Chúa giáo) từ
nước ngoài du nhập vào thành triết lý yêu nước Việt Nam, phục vụ cho sự nghiệp dựng
nước và giữ nước của người Việt Nam. Cũng trên tinh thần ấy mà người nông dân Việt
Nam đã tiếp thu các nền văn minh nhân loại (Trung Quốc, Ấn Độ v.v…) để cải tiến kỹ
thuật canh tác nông, lâm, ngư nghiệp, nâng cao chất lượng cuộc sống của mình.
Bốn là giai cấp nông dân Việt Nam có ý chí tự lực, tự cường, anh dũng, kiên
cường, bất khuất chống ngoại xâm và chống phong kiến.
Trải qua hàng nghìn năm chống ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập dân tộc và toàn
vẹn lãnh thổ, nông dân Việt Nam đã tham gia và chiến thắng các cuộc xâm lược của
các thế lực phong kiến phương Bắc để bảo vệ nền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ. Tuy
nhiên, dưới chế độ phong kiến, đời sống của người nông dân vô cùng cực khổ. Họ
không những phải chịu phu phen, tạp dịch, binh dịch mà còn bị các tập đoàn phong
kiến, địa chủ thống trị bóc lột nặng nề. Cũng như các giai cấp bóc lột khác, giai cấp
20
phong kiến địa chủ Việt Nam khi cần phải chống ngoại xâm hoặc địa vị của họ chưa ổn
định thì họ cũng biết “khoan thư sức dân”, nhưng khi đã giữ được địa vị thì họ lại vơ
vét của cải của nông dân, chiếm ruộng đất làm cho nông dân càng điêu đứng và từ đó
mâu thuẫn giữa nông dân với triều đình phong kiến nảy sinh.
Trong thế kỷ XVIII, chế độ phong kiến Việt Nam bước vào giai đoạn khủng
hoảng trầm trọng, nhân dân oán thán. Nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân nổ ra
liên tiếp và cao nhất là phong trào nông dân Tây Sơn (Bình Định, 1771) do ba anh
em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ khởi xướng đã phát triển trong cả nước
và giành được thắng lợi. Cuộc khởi nghĩa của nông dân Tây Sơn nổ ra vào những
năm cuối của chế độ phong kiến, buổi đầu thời kỳ lịch sử cận đại, sau cách mạng tư
sản Anh (1640), trước tuyên bố độc lập của nước Mỹ (1776) và Đại cách mạng tư
sản Pháp (1789). Trong bối cảnh đó, ta thấy phong trào nông dân Tây Sơn đã vượt
qua được một số hạn chế của khởi nghĩa nông dân thường thấy trong chế độ phong
Sự áp bức, bóc lột của chủ nghĩa đế quốc và tay sai của chúng khiến cho lòng căm
thù của dân tộc và của giai cấp quyện vào nhau. Do đó, tinh thần đấu tranh của dân
tộc và của giai cấp trong người công nhân và người nông dân không thể tách rời. Kẻ
thù áp bức dân tộc cũng là kẻ thù áp bức giai cấp.
Vì vậy, người công nhân và người nông dân Việt Nam không những có mối
quan hệ nhà - làng - nước mà còn có mối quan hệ huyết thống - họ tộc. Một gia đình
Việt Nam vừa có người nông dân vừa có người công nhân và người làm những
nghề khác cùng chung sống. Ở đây mối quan hệ huyết thống giữa người công nhân
và người nông dân quyện vào nhau, vừa là gia đình vừa là xã hội. Điều này đã tạo
tiền đề cho sự hình thành liên minh công - nông bền vững một cách tự nhiên giữa
công nhân và nông dân ở nước ta.
Từ khi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin về nước,
chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập Đảng Cộng sản ở Việt
Nam thì phong trào công nhân và phong trào nông dân gắn bó mật thiết, chặt chẽ
với nhau, phát triển nhanh chóng. Điều đặc biệt của phong trào nông dân Việt Nam
là không những sớm liên kết chiến đấu với phong trào công nhân, mà còn sớm tiếp
thu chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, góp phần hình thành nên Đảng
22