1
Lời mở đầu
Đề ti nghiên cứu ny đợc tiến hnh ở phạm vi nghiên cứu cấp cơ sở trong năm
2005 tại Viện Nghiên cứu chiến lợc v chính sách KH&CN. Khởi nguồn cho
nghiên cứu đợc bắt đầu từ những tò mò cá nhân khi thấy một số nh nghiên cứu
nớc ngoi nói đến cái gọi l lý thuyết đổi mới. Bên cạnh các thuật ngữ chuyên
môn khác thờng gặp hơn nh đổi mới, cách tiếp cận hệ thống đổi mới, hệ
thống đổi mới quốc gia/ngnh/công ty/vùng v ton cầu thì khái niệm lý thuyết
đổi mới dờng nh đề cập đến một lý thuyết lm cơ sở cho sự hình thnh, phát
triển v ứng dụng các cách tiếp cận v thuật ngữ liên quan đến đổi mới. Nếu đúng
l nh vậy thì bên cạnh việc du nhập, ứng dụng cách tiếp cận hệ thống đổi mới
trong học thuật v quản lý, ở Việt Nam, không thể không tìm hiểu sâu hơn cơ sở lý
thuyết nằm sau v bên dới các cách tiếp cận v khuôn khổ phân tích về đổi mới.
Bởi vì nếu không nh vậy, các ứng dụng cách tiếp cận v các khái niệm đổi mới ở
Việt Nam sẽ khó có thể lâu di v hữu ích. V đổi mới l gì cho đến nay vẫn còn l
điều bí ẩn v các chính phủ, từng tổ chức v viện nghiên cứu vẫn còn cần phải học
về đổi mới để cho đổi mới có thể diễn ra v mang lại lợi ích cho xã hội.
Lý do thứ hai cũng xuất phát từ những đánh giá chính thức gần đây của Đảng v
Chính phủ cho rằng cơ chế quản lý KH&CN ở nớc ta trong thời gian qua chậm
đợc đổi mới, vẫn còn mang nặng tính hnh chính, bao cấp trong khi nền kinh tế
đã từ bỏ cơ chế cũ, chuyển mạnh sang thị trờng. Những khó khăn, lúng túng v
quanh co trong đổi mới cơ chế quản lý KH&CN trong thời gian qua theo chúng tôi
bên cạnh nhiều nguyên nhân khác, có thể có nguyên nhân từ chỗ thiếu những căn
cứ lý thuyết phù hợp lm cơ sở cho định hớng v thiết kế các giải pháp tổng thể
với những bớc đi phù hợp ở từng giai đoạn cho đổi mới cơ chế quản lý KH&CN.
Nhìn chung về cơ bản cho đến nay, việc tổ chức, quản lý (trong đó có đánh giá v
dự báo công nghệ) hoạt động KH&CN ở nớc ta vẫn dựa trên mô hình tổ chức,
quản lý KH&CN kiểu truyền thống, chuyên môn hoá v tuyến tính. Có nhiều đặc
thờng l không bao giờ đợc kiểm chứng nh trong các khoa học tự nhiên do tính
chất khác biệt của các hiện tợng xã hội v lịch sử. Trong báo cáo nghiên cứu ny,
chúng tôi cũng sẽ sử dụng thuật ngữ lý thuyết nh l một cách tiếp cận mới m
không phải l một định lý chặt chẽ nh trong các khoa học tự nhiên. Trong thực tế,
thuật ngữ lý thuyết trong khoa học xã hội có thể đợc định nghĩa lỏng hơn
thuật ngữ lý thuyết so với các khoa học tự nhiên. Một cách khác nữa, chặt chẽ
hơn đôi chút chúng tôi cũng có thể sẽ sử dụng thuật ngữ cách tiếp cận lý thuyết
nếu nh có ai đó đòi hỏi cách hiểu gần với khái niệm lỹ thuyết trong toán học
cũng nh trong các khoa học tự nhiên. Việc sử dụng thuật ngữ lý thuyết đổi mới
trong thực tế có thể mang tính quy ớc không nhất thiết phải đồng nhất v phổ
biến. Vấn đề quan trọng hơn theo chúng tôi đó chính l nội hm của cái gọi l lý
thuyết đổi mới.
II- Innovation - Đổi mới l gì?
Mặc dù tầm quan trọng của đổi mới ngy cng tăng trong thế giới ngy nay nhng
vẫn thật sự khó khăn để hiểu đợc đổi mới l gì , lm thế no để định nghĩa đợc
đổi mới một cách khách quan trong chừng mực có thể [5,4]. Nguyên nhân l do có
quá nhiều cách tiếp cận (rộng hay hẹp) v mục đích khác nhau của các tổ chức, cá
nhân đa ra định nghĩa dẫn đến quá nhiều định nghĩa khác nhau về đổi mới.
Những năm gần đây ở Việt Nam thuật ngữ Hệ thống đổi mới quốc gia- National
Innovation System đã đợc giới nghiên cứu v quản lý quan tâm nghiên cứu v
bớc đầu tìm cách vận dụng trong quản lý KH&CN1. Tuy nhiên do đây l thuật
1
Thí dụ các đề ti nghiên cứu: Nguyễn Nữ Hoi Vân (1994) Bản chất của đổi mới công nghệ- Các
vấn đề lý thuyết, Đề ti cấp Viện, Viện Chiến lợc v Chính sách KH&CN; Nguyễn Mạnh Quân
(1997), Hệ thống đổi mới quốc gia: Một cách tiếp cận gắn KH&CN với Kinh tế, Xã hội, Tạp chí
Hoạt động Khoa học, 11-1997; Nguyễn mạnh Quân (2005) Quản lý đổi mới v đổi mới quản lý
khoa học; Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, N.6-2005.
hoạch hoá tập trung v trở thnh tiêu chuẩn chung trong mô hình tổ chức hoạt
động KH&CN.
Đặc điểm chủ yếu của quan niệm v tổ chức hoạt động KH&CN truyền thống ny
l chuyên môn hoá, bên cạnh nhau, tuần tự của các hoạt động trong chuỗi R&D
theo một chiều duy nhất đi từ nghiên cứu cơ bản đến phát triển công nghệ rồi đa
vo ứng dụng trong sản xuất. Mô hình tuyến tính ny vẫn tồn tại, ít nhất trong t
duy, quan niệm của nhiều nh khoa học, công nghệ v cả giới quản lý, lãnh đạo tại
nhiều tổ chức v quốc gia, nhất l ở các nớc đang chuyển đổi do ảnh hởng của
mô hình kế hoạch hoá tập trung kiểu Liên Xô trớc đây.
Chuyên môn hoá các hoạt động R&D một mặt đã mang lại năng suất cao nhng
mặt khác cũng dẫn đến những tách biệt thái quá v gây khó khăn cho liên kết các
hoạt động R&D với nhu cầu v đòi hỏi của thị trờng, thậm chí vợt ra khỏi khả
năng điều phối của các chủ thể quản lý; Quan trọng hơn, quan niệm v tổ chức
chuyên môn hoá thái quá v hoạt động điều phối quản lý mang tính chất can thiệp
4
của các chủ thể quản lý đã lm biến dạng v cản trở quan hệ tự tổ chức, tự liên kết
của các tác nhân R&D , sản xuất, trao đổi v tiêu dùng các kết quả của hoạt động
R&D.
Quan niệm v tổ chức hoạt động R&D theo cách tuần tự v một chiều đã dẫn đến
những sai lầm trong chiến lợc v chính sách đầu t phát triển KH&CN tại một số
quôc gia đang phát triển dnh quá nhiều nguồn lực cho nghiên cứu khoa học, coi
nhẹ các hoạt động chuyển giao, ứng dụng v phát triển công nghệ. Hệ quả khác
của quan niệm tuần tự, một chiều trong tổ chức hoạt động KH&CN l chỉ chú
trọng phía cung, lấy các tổ chức KH&CN v các nh KH&CN lm đối tợng chính
để đầu t, thậm chí bỏ qua khía cạnh nhu cầu, không quan tâm đến doanh nghiệp
v doanh nhân l những chủ thể ứng dụng các kết quả do hoạt động R&D tạo ra.
Quan niệm v mô hình tổ chức hoạt động KH&CN theo kiểu chuyên môn hoá v
J.Schumpeter l ngời đầu tiên đã nêu lên tầm quan trọng của đổi mới v phân biệt
những ý nghĩa mới của khái niệm innovation so với khái niệm sáng chế
(invention) [2]. Theo đó, sáng chế thờng chỉ l một ý tởng, một mô hình hoặc l
một bản vẽ sơ bộ về một sản phẩm hoặc một quy trình sản xuất sản phẩm mới.
Sáng chế không phải lúc no cũng đợc công nhận để cấp bằng v thờng rất ít khi
tạo ra những sản phẩm/quy trình mới thị trờng chấp nhận. Trong khi đó, đổi mới
l khái niệm mô tả quá trình tạo ra sáng chế v các hoạt động thử nghiệm, chế tạo,
sản xuất để biến sáng chế từ chỗ chỉ l những ý tởng, những bản vẽ trở thnh
những sản phẩm v dịch vụ mới đợc mua bán trên thị trờng, đợc thị trờng
chấp nhận. Cách hiểu ny về đổi mới nhấn mạnh mục đích cuối cùng của đổi mới
l đa ra sản phẩm mới, dịch vụ mới đợc ngời sử dụng chấp nhận, trong khi sáng
chế công nghệ chỉ đợc xem nh l phơng tiện, l một trong số nhiều điều kiện
cần để tạo ra sản phẩm mới, dịch vụ mới. Cách hiểu ny về sau đã trở nên khá phổ
biến trong nhiều nghiên cứu về đổi mới. Đó l quá trình "chuyển một ý tởng
thnh sản phẩm mới hoặc hon thiện sản phẩm để tiêu thụ trên thị trờng, thnh
một quy trình có thể áp dụng trong công nghiệp, hoặc một cách tiếp cận mới
trong các dịch vụ xã hội"[Nelson, 4]
Tổ chức OECD, trong OSLO Manual đa ra định nghĩa rất rõ rng về đổi mới,
theo đó, mặc dù: các đổi mới sản phẩm hay quy trình công nghệ bao gồm hng
loạt các hoạt động nghiên cứu khoa học, công nghệ tổ chức, ti chính v thơng
mai, nhng các sản phẩm hay quy trình công nghệ mới chỉ đợc coi l đợc thực
hiện nếu nh đã đợc thị trờng chấp nhận hoặc đợc sử dụng trong quá trình sản
xuất [13]. Hoặc theo quan điểm của các nh quản lý khu vực t nhân, đổi mới có
thể đợc định nghĩa nh l: quá trình phát triển v sáng tạo ra những sản phẩm v
dịch vụ mới hoặc đợc cải tiến trên quan điểm của ngời tiêu dùng [11]. Nh vậy
có hai điểm đáng lu ý trong quan niệm về đổi mới:
Thứ nhất: sản phẩm của quá trình đổi mới luôn định hớng mục đích thoả mãn nhu
cầu ngời tiêu dùng chứ không phải để thoả mãn trí tò mò của ngời tiến hnh đổi
mới, hay l chỉ để lm thí nghiệm.
Thứ hai: đổi mới không phải l một hay một vi công đoạn nhất định m l ton bộ
cấp chỉ một trong những đầu vo cho các quá trình kinh tế-xã hội, một quan niệm
đó l hệ thống bao gồm nhiều loại hoạt động R&D, KH&CN v ngoi KH&CN
cùng phối hợp với nhau để tạo ra những sản phẩm v dịch vụ mới đợc chấp nhận
trên thị trờng v trong xã hội [8].
Cần nhấn mạnh một sự khác biệt ở đây l những hoạt động sau R&D ny trong
quan niệm trớc đây đợc coi l nằm ngoi phạm vi quản lý v đối tợng tác động
của các chính sách R&D. Tuy nhiên trong hoạt động đổi mới, các hoạt động sau v
ngoi R&D (thiết kế, chế tạo, ứng dụng v sử dụng các kết quả R&D, các hoạt
động học hỏi, cải tiến tổ chức, quản lý, đo tạo) có liên quan chặt chẽ với hoạt
động R&D v thậm chí còn trở nên quan trọng hơn bản thân các hoạt động R&D
một khi để tạo ra sản phẩm mới ngời ta có thể mua sáng chế, thiết kế trên thị
trờng m không nhất thiết phải tiến hnh nghiên cứu v phát triển công nghệ. Ơ
đây, các hoạt động R&D truyền thống đợc đặt trong khuôn khổ rộng hơn bao
gồm tòan bộ các hoạt động có liên quan gắn kết với nó trong quá trình tạo ra sản
phẩm v dịch vụ mới. Thực chất, về phạm vi, đổi mới l khái niệm bao gồm một
tổng thể các hoạt động R&D v liên quan với R&D m không chỉ bao gồm riêng
hoạt động R&D. Nói ngắn gọn, đổi mới bao gồm các hoạt động R&D v ngoi
R&D; hoặc bao gồm đổi mới công nghệ v ngoi công nghệ nếu nh lấy công
nghệ l trung tâm của hoạt động đổi mới. Chính vì thế ngời ta thờng phân biệt
hai loại đổi mới chủ yếu l đổi mới công nghệ (phơng pháp) v đổi mới ngoi
công nghệ (trong đó có đổi mới sản phẩm, đổi mới tổ chức, v.v.)
7
Điểm mới về chất trong khái niệm đổi mới l một cái nhìn tổng thể, hệ thống,
không chia cắt chu trình nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, thơng mại
hoá công nghệ, sản xuất v tiêu thụ sản phẩm sản xuất ra trên thị trờng thnh các
phân đoạn riêng rẽ. Với cách nhìn nhận nh vậy, đổi mới l một đối tợng quản lý
hiện thực v ton vẹn hơn so với công nghệ hay l phát triển công nghệ. Bởi vì xét
chuẩn kỹ thuật, các luật chơi chi phối hnh vi của các hãng, công ty (luật
chống độc quyền, luật kế toán) v thiết chế xã hội nh hệ thống giá trị ,
8
phong tục, tập quán xã hội, thói quen v hnh vi văn hoá ứng xử; đặc biệt l
cơ chế thị trờng, quan hệ cung cầu.
(4) Các chính sách (policies): công nghiệp, thơng mại, khoa học , công
nghệ, ti chính, tiền tệ, môi trờng,v.v... Cách tiếp cận ny thực chất l
đem hỗn hợp hai phạm trù lớn từ trớc đến nay vẫn đợc xem xét riêng rẽ
nhau, đó l chính sách R&D với chính sách công nghiệp trong một phạm
trù chung l chính sách đổi mới3
(5) Tơng tác (interactions) giữa các yếu tố, tổ chức, thiết chế v chính
sách. Các yếu tố, các loại hoạt động, các tổ chức, thiết chế v chính sách
theo Lundvall (1992) kết nối với nhau trong qúa trình học hỏi (learning) m
về thực chất l quá trình phổ biến, lan toả các tri thức chung (general
knowledge) v tri thức đặc thù (specific knowledge) khắp các tổ chức bên
trong v bên ngoi một hệ thống đổi mới. Đổi mới l kết quả của những
tơng tác hết sức phức tạp giữa các hoạt động nghiên cứu, thiết kế, chế tạo,
sản xuất v thơng mại hoá diễn ra trong một mạng lới bao gồm nhiều lọai
tổ chức thiết chế khác nhau [3].
Các hệ thống đổi mới có thể đợc phân tích theo nhiều phạm vi: phạm vi ngnh,
liên ngnh, các công ty, vùng, quốc gia v phạm vi ton cầu. Trong số đó, các hệ
thống đổi mới quốc gia, hệ thống đổi mới ngnh v hệ thống đổi mới của các tổ
chức l những khuôn khổ trong thực tế hay đợc phân tích hơn cả.
Hệ thống đổi mới công ty
Luận đề khá phổ biến v mang tính cơ sở m nhiều nghiên cứu về đổi mới ở các
công ty cho thấy l: các công ty không đổi mới một cách cô lập, riêng rẽ m tuỳ
thuộc v liên thuộc lẫn nhau trong quá trình đổi mới [1,5]. Các nghiên cứu về đổi
chức mối quan hệ giữa công ty mẹ v các công ty con, tổ chức sản xuất trong nớc
v ở nớc ngoi, tổ chức sản xuất một sản phẩm v nhóm sản phẩm có liên quan
với nhau, tổ chức mối quan hệ giữa các hoạt động R&D v các hoạt động sản xuất,
kinh doanh của công ty, tổ chức quá trình lu chuyển tri thức v lao động của công
ty cả bên trong v với bên ngoi. Rõ rng đó l những khía cạnh nằm trong khái
niệm hệ thống đổi mới quốc gia. Cần phải nói rằng phơng thức tổ chức mới của
doanh nghiệp v ảnh hởng của chúng đến các hệ thống đổi mới quốc gia trong
bối cảnh ton cầu hoá l một điểm mấu chốt. Điều ny phù hợp với quan niệm coi
doanh nghiệp l trung tâm trong các hệ thống đổi mới quốc gia.
Hệ thống đổi mới ngnh v liên ngnh
Một số nghiên cứu đã lm sáng tỏ các quá trình đổi mới nội bộ ngnh, phân tích
vai trò của chi tiêu m ngnh đầu t cho R&D, phân tích đổi mới theo các giai
đoạn trong vòng sống của ngnh, phát hiện những khác biệt về thời điểm tiến hnh
đổi mới giữa các tổ chức, các công ty v công ty trong nội bộ ngnh, đánh giá tác
động của đổi mới đến sự tồn tại v phát triển của các tổ chức trong ngnh [10].
Hệ thống đổi mới liên ngnh trong thực tế thờng tồn tại dới dạng các chùm đổi
mới (clusters of innovation). Theo đó, một chùm đổi mới bao gồm mạng lới các
cơ sở sản xuất của các công ty thuộc nhiều ngnh công nghiệp khác nhau, phụ
thuộc chặt chẽ lẫn nhau, liên kết với nhau trong một chu trình tạo ra các giá trị gia
tăng. Đôi khi, các chùm đổi mới còn tồn tại dới dạng các liên minh chiến lợc
giữa các đại học, viện nghiên cứu, các tổ chức dịch vụ thâm dụng tri thức nh ti
chính, ngân hng, các tổ chức môi giới trung gian v khách hng. Khái niệm chùm
đổi mới không chỉ bao gồm các liên kết theo chiều ngang, theo đó các công ty hoạt
động trong cùng một thị trờng về cùng một sản phẩm cuối cùng v thuộc về cùng
một nhóm ngnh công nghiệp, hợp tác với nhau trong một vi lĩnh vực nh tiến
hnh các hoạt động R&D chung, tiến hnh các hoạt động trình diễn chung, phối
hợp cùng tiếp thị một loại sản phẩm no đó. Các chùm đổi mới còn có thể bao gồm
mạng lới các kết hợp liên ngnh, đa phơng, theo cả chiều dọc v chiều ngang để
bổ sung chức năng cho nhau trong chuỗi giá trị [13].
trong đó so sánh các hệ thống đổi mới quốc gia của 14 nớc4.
Trên thực tế đã hình thnh nhiều trờng phái khác nhau nghiên cứu về các hệ
thống đổi mới, trong đó có trờng phái Mỹ, Châu Âu v Bắc Âu. Các nớc Bắc Âu
4
Thí dụ, theo R.Nelson: ở Mỹ không có một cơ quan duy nhát no chịu trách nhiệm theo dõi v
quản lý hệ thống đổi mới quốc gia một cách tổng thể, thay vo đó có rất nhiều tổ chức, nhiều thiết
chế đa nguyên đợc thnh lập rồi biến đổi thông qua quá trình tự tiến hoá [9]. Trong khi đó, hệ
thống đổi mới Nhật Bản lại có những khác biệt trong quá trình bắt kịp. Nổi lên ở Nhật Bản l vai
trò của các cơ quan của Chính phủ nh STA, MITI trong sử dụng các dự báo công nghệ để đa ra
những chiều hớng lớn trong phát triển kinh tế v tiến bộ công nghệ từ đó giúp các công ty, các
công ty có đủ niềm tin để xây dựng những tầm nhìn v đầu t di hạn cho R&D, phát triển phần
mềm, đổi mới trang thiết bị, đo tạo nhân lực.[5]
11
gần nh l nơi trớc tiên đề xuất v ứng dụng các phân tích về hệ thống đổi mới
quốc gia trong quản lý KH&CN. Theo Eerola [23], khái niệm hệ thống đổi mới
quốc gia đợc đa vo chính sách công nghệ Phần Lan năm 1990 trong một báo
cáo của Hội đồng Chính sách Khoa học v Công nghệ, sớm hơn các nớc Châu Âu
khác.
Cho đến nay tồn tại rất nhiều quan niệm ít nhiều khác nhau về khái niệm hệ thống
đổi mới quốc gia. Tuy nhiên về cơ bản, nhiều nghiên cứu đề cập đến thực chất đó
l một tập hợp các tổ chức, thiết chế hoạt động trong nhiều lĩnh vực chuyên môn
khác nhau (từ nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, doanh nghiệp, các tổ
chức t vấn, dịch vụ KH&CN, các tổ chức tín dụng, ngân hng, các cơ quan lm
chính sách, các tổ chức đo tạo, v.v. ) của một quốc gia có quan hệ tơng tác với
nhau trong quá trình tạo ra những ngnh, sản phẩm v dịch vụ thể hiện những lợi
thế v năng lực cạnh tranh của quốc gia.
II-4 Tính đa dạng
Hoạt động đổi mới so với hoạt động R&D truyền thống, chuyên môn hóa đa dạng
v phong phú hơn, Nó có thể diễn ra ở các tổ chức R&D v ngoi R&D. Nó có thể
diễn ra ở tất cả các loại doanh nghiệp với quy mô khác nhau từ các tập đon đến
các công ty vừa v nhỏ. Hoạt động đổi mới cũng có thể diễn ra khắp các vùng, các
khu vực từ công nghệ cao đến các công nghệ truyền thống, không phải chỉ ở trong
công nghệ thông tin hay công nghệ sinh học. Xét về mức độ mới ngời ta cũng
phân biệt các đổi mới cơ bản về nguyên lý v quy trình công nghệ v đổi mới nhỏ
mang tính chất cải tiến hoặc các thay đổi nhỏ trong phạm vi nguyên lý v quy trình
công nghệ cũ. Sản phẩm của đổi mới cũng hết sức đa dạng có thể l sản phẩm mới,
quy trình công nghệ mới, thay thế nguyên liệu mới cho một quy trình cũ, phơng
pháp tổ chức sản xuất mới, thay đổi chức năng nội bộ, v.v.
Do cấu trúc phực tạp nh đã nói ở trên, quá trình hình thnh, sáng tạo ra công nghệ
trở nên liên ngnh, liên lĩnh vực, phi tuyến v luôn gắn liền với quá trình khai thác,
sử dụng công nghệ. Theo nghĩa rộng hơn, phát triển công nghệ bao gồm hng loạt
những cải tiến v triển khai công nghệ lớn v nhỏ, liên quan tới nhiều công nghệ
khác nhau từ điện tử cho đến công nghệ sinh học, từ công nghệ y tế đến công nghệ
dệt may. Nhiều công nghệ có thể tơng tác, liên kết với nhau tạo ra những lĩnh vực
hoặc các hệ thống công nghệ mới. Thí dụ nh sự hội tụ giữa công nghệ truyền
thông v công nghệ máy tính đã tạo ra lĩnh vực công nghệ rất rộng l công nghệ
thông tin v viễn thông. Nếu xét quá trình đổi mới công nghệ trong phạm vi các
chùm công nghệ trên quy mô quốc gia v ton cầu thì độ phức tạp của quá trình trở
nên khó có thể kiểm soát đợc.
Joseph Schumpeter đã phân biệt 5 hình thức đổi mới trong tác phẩm The Theory
of Eonomic Development viết từ năm 1912 [2, 8]:
-
tạo ra sản phẩm mới
tạo ra phơng pháp sản xuất mới
chỉ ra nguồn cung cấp mới,
cứu ( innovation without research) [Luc Soete, 24]. Đây có lẽ l đặc điểm rất mấu
chốt phân biệt hoạt động đổi mới với các hoạt động R&D truyền thống, nhất l các
hoạt động nghiên cứu cơ bản. Đặc điểm ny trên thực tế mở ra khả năng, cơ hội
cho các nớc đang phát triển bắt kịp các nớc phát triển vốn có tiềm năng nghiên
cứu cơ bản lớn, có thể đi ngay vo các chiến lợc thúc đẩy đổi mới thay vì đi lại
con đờng truyền thống trớc đây tập trung quá nhiều nguồn lực cho các nghiên
cứu cơ bản vô cùng tốn kém v bất khả thi.
Thí dụ điển hình nhất về tính không tuần tự của hoạt động đổi mới l quy trình
chuyển giao công nghệ ngợc đợc phát hiện những năm gần đây về hiện tợng
nhiều nớc mới công nghiệp hoá đã hầu nh đi theo chu trình ngợc với các nớc
công nghiệp phát triển, bắt đầu từ không phải l các nghiên cứu cơ bản m từ nhập
khẩu dây chuyền thiết bị sản xuất ton bộ kiểu chìa khoá trao tay, sau đó cải tiến
công nghệ, rồi mới tién hnh nghiên cứu triển khai v nghiên cứu cơ bản. Cả hai
con đờng, chu trình xuôi v ngợc (từ gốc đến ngọn v từ ngọn đến gốc) đều đã
dẫn đến nâng cao năng lực công nghệ v trình độ sản xuất công nghiệp, dịch vụ, đa
dạng hoá v tăng cờng hm lợng tri thức v công nghệ trong sản phẩm, dịch vụ.
Ngoi ra, ý nghĩa của việc xem xét tính phức tạp của hoạt động đổi mới nh một
quá trình bao gồm nhiều giai đoạn không tiếp nối nhau một cách tuyến tính m rất
năng động theo mô hình phi tuyến tính còn cho thấy nhu cầu phải có những đổi
mới về tổ chức v quản lý KH&CN cho phù hợp với những biến đổi trong môi
trờng v đối tợng quản lý hiểu KH&CN theo nghĩa mở rộng phạm vi nh trên.
14
II-6 Tính phức tạp
Nh l hệ quả của các đặc tính tổng thể, tính không tuần tự v tính hệ thống, hoạt
động đổi mới có cấu trúc phức tạp, rất khó đo lờng, không thể áp dụng các
phơng pháp giản quy hoặc các chỉ số thô sơ để đánh giá v dự báo. Tính phức tạp
của hoạt động đổi mới thể hiện ở số lợng các tác nhân tham gia v sự đan xen
các tơng tác giữa khoa học v công nghệ. Tính liên ngnh v phụ thuộc lẫn nhau
giữa các bộ môn khoa học v chuyên ngnh công nghệ trong cấu thnh nên các
giải pháp KH&CN có thể đáp ứng nhu cầu thị trờng. Thật ra sơ đồ ny đã trừu
tợng hoá v bỏ qua các tơng tác khác trong hình thnh các giải pháp đổi mới m
thiếu nó hoạt động đổi mới không thể diễn ra.
15
Thị trờng
Sơ đồ 1 : Mô hình đổi mới công nghệ kiểu mạng Nơ-ron.
Khoa học
Công nghệ
sá n g ch ế cô n g n g h ệ m ới
Cn n
(m + n )
Cn 2
(m + 2 )
Cn 1
(m + 1 )
Cn 3
(m + 3 )
16
(4) Hệ thống các cơ quan môi giới, t vấn, xúc tiến chuyển giao công nghệ
hoạt động một cách hữu hiệu trong kết nối các năng lực tồn tại rải rác, đứt
đoạn trong nhiều loại tổ chức, cá nhân trong xã hội để hình thnh v hỗ trợ
hoạt động của các đề án đổi mới.
(5) Các định chế ti chính tín dụng, ngân hng thích hợp để có thể huy động
vốn, cung ứng vốn v các thu xếp ti chính khác cho các hoạt động đổi mới
trong đó đặc biệt quan trọng l vốn đầu t mạo hiểm.
(6) Môi trờng thiết chế, chính sách, hng lang pháp lý, các luật chơi tạo ra
sự bình đẳng, cạnh tranh lnh mạnh, lm cho các luồng giao dịch giữa bên
cung v cầu công nghệ đợc diễn ra trôi trảy, lợi ích chính đáng của các bên
tham giavo quá trình đổi mới đợc bảo đảm. Ơ đây luật pháp về sở hữu trí
tuệ có vai trò then chốt bảo đảm lợi ích các bên tham gia quá trình đổi mới.
II-7 Khả năng tự tiến hoá v tự tổ chức
Đây l đặc tính quan trọng của hoạt động đổi mới. Thí dụ, mô hình hnh vi đổi
mới kiểu tiến hoá của Nelson v Winter quan niệm đổi mới diễn ra ở các tổ
chức/công ty dới hình thức các quá trình thay đổi quy tắc ra quyết định, định
hớng v xác định mục tiêu của tổ chức/công ty nhằm đối phó với những thách
thức sống còn để tồn tại v phát triển trong cạnh tranh hơn l chỉ khuôn theo
những điều kiện thuận lợi. Tuy có cấu trúc phức tạp nhng đợc quan niệm giống
nh các cơ thể sống, hoạt động đổi mới có khả năng tự tổ chức, tự liên kết, tự tìm
đến những đối tác cần thiết để tạo gắn cung với cầu, gắn công nghệ với sản phẩm
hng hoá, dịch vụ m không cần có sự can thiệp từ bên ngoi v tự tiến hóa trong
các môi trờng thể chế xã hội khác nhau. Sự can thiệp hnh chính, máy móc của
các cơ quan quản lý thờng cản trở do không nuôi dỡng v phát huy khả năng tự
tổ chức của các hoạt động đổi mới. Về cơ bản đổi mới l loại hoạt động tự diễn ra,
tự tổ chức v nh nớc không thể áp đặt hay chỉ huy quá trình tự tổ chức tự tiến
hoá của các hoạt động đổi mới.
theo kiểu mạng lới gĩa các tổ chức v các thnh tố tham gia vo quá trình đổi
mới ở các doanh nghiệp v các cơ sở R&D, kể cả sự gắn kết v kết hợp giữa các
chính sách vốn đợc hoạch định riêng rẽ với nhau nh chính sách công nghiệp,
chính sách thơng mại, chính sách R&D. Đây l một xu thế khách quan đặt ra cho
các chính phủ v nh nớc những thách thức lớn phải tự đổi mới để thích nghi.
Chính sách của chính phủ giờ đây l phải lm sao để hệ thống R&D không đứng
riêng rẽ một cách tự thân m tham gia vo, trộn lẫn vo mạng lới liên kết với các
hoạt động sản xuất kinh doanh, với các doanh nghiệp.
Hoạt động đổi mới theo quan niệm nh trên một khi diễn ra, tự nó đã bao hm sự
gắn kết giữa khoa học, công nghệ với phát triển kinh tế-xã hội trong quá trình tạo
ra các sản phẩm v dịch vụ mới m không cần phải có một quyết định hnh chính
no. Có thể nói, áp dụng t duy khái niệm đổi mới với đặc tính tự tổ chức, tự tiến
hoá sẽ thúc đẩy một nền KH&CN tự phát triển , tự liên kết với các mục tiêu kinh tế
xã hội v ít cần đến hnh chính nhất trong quản lý. Điểm mới m khái niệm đổi
mới có thể mở ra l chú trọng nhiều hơn đến các giải pháp bên ngoi hệ thống
KH&CN cho những vấn đề bên trong hệ thống KH&CN5, coi trọng v phát huy vai
trò tự gắn kết của các tác nhân KH&CN với các tác nhân kinh tế-xã hội, thay đổi
quan niệm về vai trò quản lý KH&CN của nh nớc từ hnh chính v tác nghiệp cụ
thể sang thiết kế v điều phối các hệ thống đổi mới.
II-8 Doanh nghiệp l chủ thể v l trung tâm của các hoạt động đổi mới,
Khác với các hoạt động R&D chuyên môn hoá, chủ thể của hoạt động đổi mới
không phải l các nh khoa học v công nghệ, các tổ chức R&D m l các doanh
nhân v doanh nghiệp. Có thể hình dung doanh nhân v doanh nghiệp l đầu tu
5
Thí dụ nh lm thế no gắn kết hoạt động KH&CN với kinh tế xã hội, lm thế no để đánh giá
(đầu vo v đầu ra) các nhiệm vụ KH&CN, cải cách hệ thống các tổ chức nghiên cứu v phát triển
v.v.
Sơ đồ 2 phản ánh tính chất phi tuyến v quan hệ phức tạp giữa các yếu tố v các
tác nhân tham gia vo chuỗi đổi mới trong khuôn khổ của các liên kết hệ thống
theo kiểu mạng lới. Trong hệ thống v mạng lới ny có nhiều yếu tố v tác nhân
nh đại học, phòng thí nghiệm, thông tin patent, các đối thủ cạnh tranh, khách
hng, cơ sở hạ tầng về KH&CN, các liên minh chiến lợc v quan hệ bạn hng,
nhng tất cả đều tơng tác xoay quanh các hãng, các công ty nh l hạt nhân của
hệ thống. Chuỗi các hoạt động R&D cũng chỉ l một trong số nhiều thnh tố khác
tham gia vo mạng lới liên kết tạo thnh hệ thống.
19
Sơ đồ 2: Mô hình hệ thống đổi mới doanh nghiệp lm trung tâm
Đại học & Lab
Cơ sở hạ tầng S&T
Các nh cung cấp
chủ yếu
doanh nghiệp
Thông tin., Patent
Bạn hng v đồng minh chiến
lợc
Đối thủ
cạnh tranh
20
gọn trong chính sách, nó vừa l các thực thể, vừa l các mối quan hệ lại vừa l cách
tiếp cận lý thuyết.
III. Nội dung của lý thuyết đổi mới
Một số học giả nói đến cái gọi l lý thuyết đổi mới [Wolfgang Polt, 8;Andy
Singleton(33) ; Christensen (32) ] ra đời từ những bất cập của: thứ nhất l lý thuyết
kinh tế tân cổ điển trong việc giải thích những hiện tợng tăng trởng, cạnh tranh,
tạo việc lm, phát triển kinh tế v vai trò đổi mới công nghệ trong thế giới hiện
đại. Theo đó, công nghệ không phải l một biến số ngoại sinh (nằm bên ngoi) các
quá trình v độc lập với tăng trởng kinh tế. Thứ hai l của các mô hình tuyến tính
trong giải thích quan hệ giữa nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ v tăng
trởng kinh tế.
Việc đặt các hoạt động R&D chuyên môn hoá trong một khuôn khổ, phạm vi tổng
thể bao gồm nhiều hoạt động, tổ chức, tác nhân liên quan do các doanh nghiệp v
doanh nhân lm chủ thể để hình thnh khái niệm hoạt động đổi mới l một cách
tiếp cận mới so với cách tiếp cận truyền thống chuyên môn hoá, tuyến tính đối với
hoạt động R&D.
Thứ nhất, cách tiếp cận lý thuyết đổi mới không coi các kết quả hoạt động R&D l
mục đích m chỉ l phơng tiện để sáng tạo ra các sản phẩm , quy trình công nghệ
v dịch vụ mới. Hệ quả l nh một phơng tiện, các kết quả R&D chỉ l một trong
số các phơng tiện v nguồn gốc của các đổi mới.
Thứ hai, cách tiếp cận lý thuyết đổi mới không giới hạn v bó hẹp phạm vi của
hoạt động đổi mới trong khuôn khổ các hoạt động R&D chuyên môn hóa. Hoặc l
có khuynh hớng mở rộng khái niệm R&D bao hm trong đó sự nhất thể hóa giữa
hoạt động R&D v sản xuất kinh doanh thơng mại, quản lý nh nớc, v.v. Xét về
mặt lịch sử, các hoạt động R&D truyền thống hiểu theo nghĩa l các hoạt động của
các tổ chức R&D chuyên môn hoá (các viện nghiên cứu, các phòng thí nghiệm có
sinh tham gia vo quá trình tạo ra giá trị trong nền kinh tế, không phải l biến
ngoại sinh nằm ngoi v tác động một chiều đến giá trị gia tăng của nền kinh tế.
Thứ t, cách tiếp cận lý thuyết đổi mới nhìn nhận không chỉ các kết quả R&D tĩnh
m các dòng tri thức (có thể không thể hiện dới dạng các kết quả R&D, cha l
sáng chế hoặc cha đợc mã hóa, chủ yếu l các bí quyết, tri thức dới dạng kinh
nghiệm v các điển hình tốt trong thực tiễn) lu chuyển trong các hệ thống thống
đổi mới v giữa các tác nhân đổi mới v các hệ thống đổi mới thông qua hoạt động
học hỏi (learning) mới l yếu tố tạo ra giá trị gia tăng trong nền kinh tế.
Thứ năm, cách tiếp cận lý thuyết đổi mới quan niệm các dòng tri thức đổi mới
tham gia vo quá trình tạo giá trị trong nền kinh tế một cách phi tuyến, phức tạp,
đa chiều v không tuần tự. Những thập kỷ vừa qua chứng kiến những gia tăng độ
phức tạp của các tơng tác giữa các tác nhân, các tổ chức, các hoạt động KH&CN
v ngoi KH&CN . Các nh khoa học, các tổ chức R&D chuyên môn không còn l
tác nhân duy nhất tạo ra công nghệ mới nh trong thời kỳ đầu công nghiệp hoá.
Ngy cng có nhiều tác nhân khác nhau cùng tham gia v thúc đẩy quá trình
nghiên cứu khoa học v phổ biến công nghệ trong khuôn khổ của các hệ thống đổi
mới quốc gia, ngnh v vùng lãnh thổ. Với sự xuất hiện của khái niệm đổi mới v
các hệ thống đổi mới, tại nhiều nớc phát triển, đặc biệt l các nớc trong tổ chức
OECD, cái gọi l những quy luật nội tại của hoạt động KH&CN v vấn đề gắn kết
các hoạt động KH&CN với sản xuất-kinh doanh ngy cng trở nên ít ý nghĩa v
nhờng chỗ cho vấn đề tạo ra nhu cầu v môi trờng thuận lợi thúc đẩy các hoạt
động đổi mới công nghệ ở các cấp. Hoạt động R&D thuần tuý, các tổ chức R&D
chuyên môn hoá với nhiều mức độ khác nhau, ngy cng ít tồn tại một cách biệt
lập v tự thân. Chính sách KH&CN bắt đầu đợc tích hợp v xem xét trong khuôn
khổ của các chính sách đổi mới (innovation policy), quản lý KH&CN, quản lý
R&D cũng bắt đầu đợc chuyển sang khái niệm quản lý đổi mới (innovation
management), thống kê các chỉ số KH&CN cũng bắt đầu đợc tiến hnh dới dạng
các chỉ số đổi mới (innovation indicators). V thay cho mệnh đề KH&CN l chìa
khóa cho phát triển thì giờ đây ngời ta nói nhiều đén các hoạt động đổi mới nh
nội dung của lý thuyết đổi mới về các hoạt động R&D. Sở dĩ có cái gọi l cách tiếp
cận lý thuyết đổi mới l để phân biệt với thực thể các hệ thống đổi mới. Ơ đây,
trớc khi sử dụng khái niệm cách tiếp cận lý thuyết đổi mới thì đổi mới đã tồn tại
nh l thực thực thể v cách tiếp cận ny không sinh ra một thực thể mới no. Cái
mới chỉ l một cách nhìn mới đối với các thực thể đã v vẫn đang tồn tại. Sự phân
biệt ny tự nó cho thấy khả năng ứng dụng cách tiếp cận lý thuyết đổi mới ở bất kỳ
một nền kinh tế no, một phạm vi phân tích no.
Có thể nói đặc điểm phổ biến nhất trong t duy quản lý KH&CN tại các nớc phát
triển trong thời gian gần đây l quan niệm một cách dứt khoát rằng KH&CN tự bản
thân nó không trở thnh động lực thực sự cho tăng trởng v phát triển. KH&CN
chỉ trở thnh động lực cho tăng trởng v phát triển khi v chỉ khi đợc sử dụng
trong quá trình đổi mới. Đổi mới đợc quan niệm l quá trình tạo ra v/hoặc sử
dụng các kiến thức khoa học v sáng chế công nghệ để đa ra các sản phẩm v
23
dịch vụ mới đợc thị trờng v xã hội chấp nhận[9]. Trong quá trình đổi mới,
KH&CN chỉ l những yếu tố cần nhng cha đủ. Nếu một xã hội, một nền kinh tế
cần có những sản phẩm mới, dịch vụ mới để đa ra bán trên thị trờng thì suy cho
cùng nó phải tiến hnh các hoạt động đổi mới chứ không phải l chỉ tiến hnh các
hoạt động KH&CN một cách thuần tuý [20]
Mặc dù còn nhiều vấn đề phải tiếp tục đợc nghiên cứu, kiểm chứngv lm rõ
thêm nhng cách tiếp cận ny hiện đã v đang đợc ứng dụng rộng rãi trong các
hoạt động đánh giá, thống kê, dự báo, tổ chức, quản lý, chiến lợc v chính sách
KH&CN tại tất cả các quốc gia trong tổ chức OECD, nhiều tổ chức quốc tế v
nhiều quốc gia đang phát triển khác trong khu vực nh Malaixia, Trung quốc, Thái
lan, Philipin, Indônêxia, v.v. Theo chúng tôi, những vấn đề về học thuật không
nhất thiết cản trở khả năng ứng dụng cách tiếp cận lý thuyết đổi mới trong thực
tiễn quản lý KH&CN ở tất cả các khâu của nó kể từ đánh giá, dự báo, tổ chức v