BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Hoàng Thị Thu Hiền
SỰ BIẾN ĐỔI TRONG
HẠ TẦNG KINH TẾ - KỸ THUẬT
Ở NAM KỲ THỜI PHÁP THUỘC
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
TP. Hồ Chí Minh - Năm 2011
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Hoàng Thị Thu Hiền
SỰ BIẾN ĐỔI TRONG
HẠ TẦNG KINH TẾ - KỸ THUẬT
Ở NAM KỲ THỜI PHÁP THUỘC
Chuyên ngành:
Mã số:
Lịch sử Việt Nam
60 22 54
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. LÊ HUỲNH HOA
nước và bưu chính viễn thông ....................................................................53
2.2.2.1. Điện, nước .........................................................................................53
2.2.2.2. Bưu chính viễn thông ........................................................................55
Tiểu kết chương 2.............................................................................................60
Chương 3: ẢNH HƯỞNG CỦA SỰ BIẾN ĐỔI HẠ TẦNG KINH TẾ - KỸ THUẬT
ĐỐI VỚI VÙNG ĐẤT NAM KỲ THỜI PHÁP THUỘC
3.1. Ảnh hưởng đầu tiên và nổi bật là với hệ thống hạ tầng kinh tế - kỹ thuật khá đồng bộ,
hoàn chỉnh và phân bố rộng khắp, bộ mặt kinh tế Nam Kỳ đã phần nào biến đổi khác
trước. .................................................................................................................61
3.1.1. Nông nghiệp .............................................................................................64
3.1.2. Công nghiệp .............................................................................................67
3.1.3. Thương nghiệp .........................................................................................68
3.2. Nhiều đô thị mới hình thành...............................................................................71
3.3. Những tác động về mặt xã hội ...........................................................................74
3.3.1. Thay đổi về cơ cấu dân số ........................................................................74
3.3.2. Thay đổi về thành phần giai cấp trong xã hội ..........................................75
Tiểu kết chương 3.............................................................................................77
KẾT LUẬN
........................................................................................ 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................... 82
PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Lý do khoa học
chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, cũng như những tác động của nó đối với
đối với lịch sử phát triển của vùng đất Nam Kỳ mà trong thời gian học tập bộ môn lịch sử
Việt Nam nói chung, lịch sử Việt Nam cận đại nói riêng vì những lý do khác nhau, tôi chưa
có điều kiện tìm hiểu đầy đủ.
Đến với đề tài này sẽ là một cơ hội tốt để tôi có dịp bổ sung, tích lũy thêm kiến thức
nhằm phục vụ tốt cho công tác giảng dạy, đồng thời góp thêm tư liệu để hoàn chỉnh những
hiểu biết của bản thân về chủ nghĩa thực dân ở Đông Nam Á và thế giới.
Với tất cả những lý do trên tôi đã chọn đề tài “Biến đổi hạ tầng kinh tế - kỹ thuật ở
Nam Kì thời Pháp thuộc” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề và nguồn tư liệu
2.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu “Biến đổi hạ tầng kinh tế - kỹ thuật ở Nam Kì thời Pháp thuộc” là một yêu
cầu quan trọng trong quá trình tìm hiểu chế độ thuộc địa của thực dân Pháp ở Việt Nam. Từ
trước tới nay đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề này. Những công trình
này đã được công bố ở nhiều thời điểm khác nhau:
- Từ Ủy ban kế hoạch Pháp Lê Khoa đã dịch công trình “Tình hình kinh tế Đông
Dương (1900 – 1939) và Kế hoạch tái thiết, trang bị, canh tân Đông Dương”năm 1969. Tác
phẩm phản ánh những chuyển biến về kinh tế Đông Dương thời Pháp thuộc trong đó có yếu
tố hạ tầng kỹ thuật như: điện nước, bưu chính viễn thông, giao thông …
- Phan Văn Liên, “Giao thông vận tải Việt Nam giai đoạn 1858-1957”, Nxb Giao
thông vận tải, Hà Nội, 1988. Trong công trình, tác giả đã phác họa khá đầy đủ những thay
đổi về giao thông ở Việt Nam thời Pháp thuộc. Bao gồm những công trình giao thông chính
như: giao thông đường bộ, đường thủy đường sắt và các phương tiện vận tải. Qua đó tác giả
cũng đã đưa ra quan điểm nhận xét, đánh giá khách quan về hệ thống giao thông vận tải
trong giai đoạn này.
- Ngành bưu điện Việt Nam, “Lịch sử ngành bưu điện Việt Nam”, Ngành bưu điện
Việt Nam xuất bản, 1990. Đây là một tác phẩm chuyên ngành về bưu điện Việt Nam qua
các thời kỳ lịch sử. Trong đó thời Pháp thuộc hệ thống bưu điện Việt Nam cũng đã được đề
cập đến và tái hiện khá hoàn chỉnh.
- Bộ Giao thông Vận tải, “Lịch sử giao thông vận tải Việt Nam”, Nxb Giao thông Vận
tải, Hà Nội, 1999. Xuyên suốt tác phẩm, các tác giả cũng đã khái quát về lịch sử hình thành
và phát triển của hệ thống giao thông vận tải Việt Nam từ buổi hoang sơ đến thời hiện đại.
Trong đó thời Pháp thuộc từ trang 90 đến trang 121 có đề cập đến hệ thống giao thông gồm:
các cảng, giao thông đường sông, đường bộ, đường sắt.
- Nguyễn Văn Khánh, “Cơ cấu kinh tế xã hội Việt Nam thời thuộc địa (1858-1945)”,
NXB ĐHQG Hà Nội, 2000. Chương 1 và chương 2, tác giả đề cập đến những yếu tố hạ tầng
kinh tế kỹ thuật thời pháp thuộc như giao thông vận tải.
- “Cảng Sài Gòn và những biến đổi kinh tế Nam Kì thời Pháp thuộc (1860-1939)” của
Lê Huỳnh Hoa, luận án tiến sĩ khoa học lịch sử, Đại Học Sư Phạm Tp. HCM, 2002. Cùng
với cảng Sài Gòn và những biến đổi của kinh tế Nam Kì tác giả đã đề cập nhiều đến hạ tầng
kinh tế kỹ thuật thời pháp thuộc như: cảng Sài Gòn, đường bộ, đường sắt và các công trình
thủy lợi…
- Bùi Thị Huệ , “Những biến đổi kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh Bình Phước thời Pháp
giai đoạn 1897 – 1939”, luận văn thạc sĩ lịch sử, ĐH Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh,
2003. Ở trang 57 đến trang 63 tác giả cũng đã đề cập đến hệ thống bưu chính và giao thông
vận tải thời Pháp thuộc trên địa bàn tỉnh Bình Phước.
- Nguyễn Thế Anh, “Việt Nam thời Pháp đô hộ”, NXB văn học, 2008. Tác phẩm đã
tái hiện khá hoàn chỉnh về Việt Nam dưới sự đô hộ của thực dân Pháp, từ sự chiếm đóng
của thực dân Pháp, chế độ thuộc địa và phản ứng của nhân dân Việt Nam đối với chế độ
thuộc địa. Vấn đề cơ sở hạ tầng cũng được tác giả đề cập đến trong chương II của phần chế
độ thuộc địa từ trang 158 đến trang 165.
- Tác giả Nguyễn Thanh Lợi đã có rất nhiều bài viết liên quan đến hệ thống hạ tầng cơ
sở thời Pháp thuộc. Trong đó không ít tác phẩm đã đề cập nhiều đến khu vực Nam Kỳ. Các
công trình nghiên cứu ấy, có thể kể là: “Đường sắt ở Khánh Hòa và vùng phụ cận”, tạp chí
Xưa & Nay, số 272, tháng 11/2006, “Con đường thiên lý”, Tạp chí NCLS, số 9 +10 ,11,12/
2008; “Kinh đào ở Nam kỳ thời Pháp thuộc”, Xưa & Nay, số 286, 6 – 2007; “Đường sắt Sài
Gòn Mỹ Tho”, Sài Gòn xưa nay; “Giao thông Mỹ Tho thời Pháp thuộc”, Kỷ yếu hội thảo đô
/1978.
- Nguyễn Văn Khánh “Chính sách của thực dân Pháp ở Miền Nam: Nội dung và hệ
quả” số 6/1999
- Gerard Sasges, “Sự thật về kế hoạch khai thác Đông Dương lần thứ nhất của thực
dân Pháp”, 11/2006.
Trên tạp chí Nghiên Cứu Và Phát Triển:
- Lê Công Lý, “Lịch sử kinh Nguyễn Văn Tiếp ở Đồng Tháp Mười”, số 2/2006
Nhìn chung đã có nhiều công trình nghiên cứu, tìm hiểu liên quan đến hạ tầng kinh tế
- kỹ thuật Nam Kỳ dưới tác động của chính sách khai thác của thực dân Pháp. Song dường
như chưa có một công trình nghiên cứu nào đi sâu tìm hiểu hạ tầng kinh tế - kỹ thuật Nam
Kỳ cũng như hệ quả của yếu tố mới này đối với lịch sử phát triển của vùng đất Nam Kỳ một
cách hệ thống.
2.2. Nguồn tư liệu:
Nguồn tài liệu được khai thác và sử dụng trong luận văn này gồm:
1. Các tác phẩm lý luận kinh điển, các tác phẩm về kinh tế chính trị Mác – Lênin.
2. Nguồn tài liệu lưu trữ thời Pháp thuộc tại trung tâm lưu trữ quốc gia II.
3. Các công trình được công bố trên sách, báo, tạp chí, các tác phẩm của người Pháp
viết về Nam Kì và Đông Dương.
4. Các luận văn tiến sĩ, thạc sĩ cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan ít
nhiều đến hạ tầng kinh tế - kỹ thuật Nam Kỳ thời Pháp thuộc được lưu trữ ở thư viện Khoa
học xã hội & Nhân văn TP.HCM, thư viện Tổng hợp TP.HCM, thư viện trường Đại Học Sư
Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh.
2.3. Đối tượng, giới hạn và phạm vi nghiên cứu đề tài:
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài chủ yếu đi sâu tìm hiểu về sự biến đổi hạ tầng
kinh tế - kỹ thuật ở Nam Kì thời Pháp thuộc và những tác động của nó đối với tình hình
kinh tế xã hội Nam Kì.
Pháp thuộc.
- Phương pháp lôgic là phương pháp nghiên cứu các hiện tượng trong hình thức tổng
quát, nhằm vạch ra bản chất, quy luật, khuynh hướng chung trong sự vận động của cái khách
quan được nhận thức. Trong luận văn này, phương pháp lôgic được vận dụng nhiều trong
chương 3 nhằm làm rõ tác động và hệ quả của sự biến đổi hạ tầng kinh tế - kỹ thuật đối với sự
phát triển của vùng đất Nam Kỳ thời Pháp thuộc.
Ngoài ra, đề tài nằm trong phạm vi của lịch sử kinh tế do vậy luận văn cũng sử dụng
phương pháp nghiên cứu đặc trưng của lịch sử kinh tế như:
Phương pháp hệ thống cấu trúc: là phương pháp nghiên cứu các đối tượng phức tạp
trên cơ sở phân tích các đối tượng thành các bộ phận để nghiên cứu một cách sâu sắc, tìm ra
tính hệ thống, tính toàn diện của đối tượng. Vận dụng phương pháp này vào luận văn để tìm
hiểu tính đa dạng phong phú của hạ tầng kinh tế - kỹ thuật ở Nam Kì phải tìm hiểu từng bộ
phận kiến tạo nên hạ tầng kinh tế kỹ thuật như: giao thông vận tải, bưu chính viễn thông,
điện nước…Qua đó, đưa ra những nhận xét về toàn diện về tác động của hạ tầng kinh tế kỹ
thuật của Nam Kỳ, cũng như mục đích phục vụ cho sự khai thác bóc lột của chủ nghĩa thực
dân.
5. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phần phụ lục, luận văn gồm có ba
chương:
Chương 1: Cơ sở hạ tầng ở Nam Kỳ trước khi thực dân Pháp đến
Chương 2: Biến đổi hạ tầng kinh tế - kỹ thuật ở Nam Kỳ dưới tác động của công
cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp
Chương 3: Ảnh hưởng của sự biến đổi hạ tầng kinh tế - kỹ thuật đối với vùng đất
Nam Kỳ thời Pháp thuộc
Chương 1
CƠ SỞ HẠ TẦNG
- Công trình hạ tầng xã hội bao gồm các công trình y tế, văn hóa, giáo dục, thể thao,
thương mại, dịch vụ công cộng, cây xanh, công viên, mặt nước và các công trình khác {52}
Trong đó, công trình hạ tầng kinh tế là một bộ phận quan trọng trong hệ thống kinh
tế, đảm bảo cho nền kinh tế hoạt động và phát triển. Còn công trình hạ tầng xã hội là tập
hợp một số ngành có tính chất dịch vụ xã hội, thể hiện dưới hình thức dịch vụ và mang tính
công cộng liên hệ tới sự phát triển của con người cả về vật chất lẫn tinh thần.
Tóm lại, có thể hiểu “cơ sở hạ tầng là tổng thể các ngành kinh tế, các ngành công
nghệ, dịch vụ, bao gồm việc xây dựng đường xá, kênh đào tưới nước, hải cảng, cầu cống,
sân bay, kho tàng, cung cấp năng lượng, cơ sở kinh doanh, giao thông, bưu điện, cung cấp
nước và tiêu thoát nước” [ 80, 115 ].
Trong luận văn này, khái niệm cơ sở hạ tầng được nhìn nhận dưới khía cạnh là hạ
tầng kinh tế kỹ thuật tức là bao gồm các công trình như điện, nước phục vụ sản xuất và đời
sống, bưu chính viễn thông, các công trình thủy lợi phục vụ nông nghiệp, các công trình
giao thông vận tải như: đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không…
1.2. Cơ sở hạ tầng ở Nam Kỳ trước khi người Pháp đến
Trước khi người Pháp đến, nước ta là một nước phong kiến, hoạt động kinh tế chính
là nông nghiệp. Cơ sở hạ tầng cần thiết cho hoạt động kinh tế nông nghiệp là hệ thống thủy
lợi phục vụ cho việc tưới tiêu và đường sá phục vụ cho việc lưu thông và vận chuyển hàng
hóa. Do đó các vua triều Nguyễn đã ít nhiều xây dựng cở sở hạ tầng phục vụ cho hoạt động
kinh tế chính đó. Nói ít nhiều bởi vì dưới triều Nguyễn, các vua Nguyễn đặc biệt là vua
Minh Mạng rất quan tâm đến “thông tin liên lạc hành chính” mà chủ yếu là công tác chuyển
đưa công văn, giấy tờ. Hoạt động này được tổ chức chặt chẽ, quy củ và thể chế hóa ở mức
độ cao. Do đó, ngoài việc hình thành tổ chức tương đối hoàn chỉnh bao gồm: Ty bưu chính,
Ty thông chính sứ còn có hệ thống trạm dịch. Các trạm dịch có nhiệm vụ chính là chuyển
đưa công văn, giấy tờ phục vụ hoạt động quản lý của triều đình và các địa phương. Ngoài ra
còn có nhiệm vụ vận chuyển vật cống, hàng hóa của nhà nước và là nơi dừng chân nghỉ
ngơi của các quan chức nhà nước trên đường đi công tác.
Có hai loại trạm: mã trạm ( trạm đường bộ) và thuyền trạm ( trạm đường sông). Tuy
thuận lợi cho việc vỡ hoang. Và để cho hệ thống sông ngòi đạt hiệu quả hơn, họ đã ra sức
cải tạo, nạo vét, khai mương, đào kênh, bổ sung cho những khiếm khuyết của thiên nhiên.
Công cuộc cải tạo trên là nhân tố tích cực thúc đẩy quá trình khai hoang lập ấp ở vùng đất
mới. Công cuộc này đã vạch hệ thống dẫn nước vào các đồng ruộng, đồng thời tạo những
con đường thủy thuận tiện cho việc di chuyển, buôn bán tại đồng bằng sông Cửu Long. Góp
phần tăng cường sức mạnh kinh tế và giao thông cho hệ thống sông ngòi vốn đã rất phong
phú. Có thể nói người Việt đã bắt tay đào kênh, đào sông ngay từ thế kỷ XVII, dưới thời các
chúa Nguyễn, chẳng hạn như đào kênh Bảo Định, kênh Ruột Ngựa, kênh Phố Xếp… nhưng
để công cuộc này mang tính quy mô cấp nhà nước phải ở dưới thời các vua Nguyễn [ 89,
214 ]”.
Chính hệ thống kênh đào, đặc biệt là dưới thời các vua Nguyễn đã làm nền tảng cơ
bản cho nền kinh tế nông nghiệp Nam Kỳ mà sau đó được phát triển dưới thời thuộc địa và
cho đến tận ngày nay. Trong hệ thống chằng chịt các công trình nhân tạo đó có thể kể đến
một số kênh đào mang tính chiến lược, ảnh hưởng đến sự phát triển của một vùng rộng lớn.
Hệ thống kênh đào đã thể hiện tầm nhìn của nhà Nguyễn đối với sự phát triển kinh tế của
vùng đồng bằng sông Cửu Long vốn dĩ rất thuận lợi để phát triển nông nghiệp.
Các vị vua đầu triều Nguyễn đặc biệt quan tâm đẩy mạnh việc đào sông, đào kênh.
Hàng trăm con kênh đã được đào trong thời gian này. Trong đó có những kênh lớn nổi tiếng
là những kỳ quan của đất nước như: kênh Thoại Hà, kênh Vĩnh Tế, kênh An Thông …
• Kênh Thoại Hà (1818) :
Công việc chuẩn bị cho kênh Thoại Hà được triển khai từ tháng 11 năm Đinh Sửu
(1817), đến mùa xuân năm Mậu Dần (1818) bắt đầu khởi công. Chính sử triều Nguyễn có
ghi: “Kênh Thoại Hà khi đào xong có bề rộng 10 trượng (47m) sâu 18 thước (8m)” [ 54;
958 ].
Thoại Hà (tên chữ Hán là kênh Thụy Hà: 瑞河1 ) còn có tên là Ba Lạch [10; 53],,
trong Đại Nam thực Lục ghi là Tam Khê[54; 958]. Ngày nay có tên gọi là kênh Rạch Giá –
Long Xuyên vì đây là đường nước dài đến hơn 50km nối rạch Long Xuyên, đi qua núi Sập,
hợp với sông Kiên của Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Nếu nhìn vào tổng thể đường nước, thì
tồn tại và phát huy hiệu quả.
• Kênh Vĩnh Tế (1819 - 1824):
Trong hệ thống kênh rạch được đào dưới triều Nguyễn còn có một kênh rất quan
trọng là kênh Vĩnh Tế, nối Châu Đốc với Hà Tiên. Kênh Vĩnh Tế được thật sự khởi công
vào năm 1819 sau một thời gian chuẩn bị kỹ lưỡng. Vào năm 1816, khi thành Châu Đốc
được đắp xong, Trấn thủ trấn Vĩnh Thanh Lưu Phước Tường tâu lên, vua Gia Long xem địa
đồ miền đất này liền truyền: “Xứ này nếu mở đường thủy thông với Hà Tiên, thì hai đàng
nông thương đều lợi. Trong tương lai, dân đến ở làng đông, đất mở càng rộng, sẽ thành một
trấn to vậy” [ 54; 940 ]. Thực hiện ý tưởng mở con đường nước từ Châu Đốc đến Hà Tiên,
nhà vua ra lệnh cho Lưu Phước Tường đứng ra trông coi thành Gia Định với nhiệm vụ cung
ứng tiền gạo cho công cuộc đào kênh. Nhưng việc đào kênh tiến hành chưa bao lâu, thì vua
Gia Long cho đình lại vì thấy việc đo đạc chưa được chu đáo. Việc chỉ huy công trình đo
đạc và đào con kênh đợt này được giao cho Nguyễn Văn Thoại lúc bấy giờ vừa mới hoàn
thành công cuộc đào kênh Thoại Hà. Cùng thi công trên công trình đào kênh Châu Đốc –
Hà Tiên có hai phụ tá của Thoại Ngọc Hầu là Chưởng cơ Nguyễn Văn Tuyên và Điều bát
Nguyễn Văn Tồn. Nguyễn Văn Tồn vốn người Khmer theo vua Gia Long đã lâu năm và lúc
bấy giờ đang làm Thống đồn Uy Viễn. Khâu đo đạc được tiến hành lại cẩn thận hơn. Một
con đường kênh được vạch từ Châu Đốc đến sông Giang Thành, chia từng đoạn một. Mỗi
đoạn, được xác định chiều dài và lên danh sách cẩn thận. Vua Gia Long cũng có chiếu dụ
với vua Chân Lạp về việc đào kênh “ nước ngươi giáp biên giới với Vĩnh Thanh. Nay đào
sông này không những lợi cho người Kinh (Việt) mà còn lợi cho nước ngươi vô cùng.
Vương nên họp dân mà bảo cho biết ý nhọc một lần mà nhàn mãi mãi, khiến dân vui làm
việc cho chóng thành công.” [ 54; 997 ].
Công việc đào kênh được khởi công vào đúng tháng Chạp năm Kỷ Mão (1819) trải
qua mấy giai đoạn trong suốt 5 năm, đến tháng 5 năm Nhâm Thân (1824), dưới triều vua
Minh Mạng mới xong. Kênh đào song song với đường biên giới Việt Nam-Campuchia, bắt
đầu từ bờ Tây sông Châu Đốc nối với sông Giang Thành, thuộc thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên
Giang.
sách. Ông nói rằng: “Đào con sông ấy để trọn công trước thực là lợi ức muôn năm vô cùng
về sau” và truyền cho quan hữu ty địa phương dựng bia ở bờ kênh [ 55; 351 ].
Vĩnh Tế là một kênh đào thủ công, có thời gian đào rất dài, dân phu làm việc cực khổ
trong những điều kiện khó khăn, vì vậy tổn thất về nhân mạng lên tới hàng trăm người[ 21;
343 ].
Sau khi hoàn tất con kênh, Thoại Ngọc Hầu đã cho lấy hài cốt các dân binh đã chết,
vốn được chôn rải rác dọc theo con kênh, đưa về cải táng tại triền núi Sam. Về sau, đây
cũng là nơi an nghỉ của Nguyễn Văn Thoại và phu nhân Châu Vĩnh Tế.
Kênh Vĩnh Tế là thành quả lao động to lớn của người Việt lẫn người Khmer, được
nhà Nguyễn tuyên dương bằng cách cho chạm khắc hình ảnh của con kênh lên trên Cao
Đỉnh, một trong bộ Cửu đỉnh danh tiếng của triều Nguyễn.
Kênh Vĩnh Tế thể hiện rõ tầm quan trọng đối với lịch sử phát triển vùng đất Nam Kỳ.
Sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức và Đại Nam Nhất thống chí cũng đã
khen ngợi: “từ đây đường sông mới thông, việc biên phòng và việc buôn bán đều được
hưởng mối lợi vô cùng” [ 56; 207 ]. Không những thế con kênh này còn có tác dụng phát
triển nông nghiệp, làm ngọt hóa vùng tứ giác Long Xuyên, điều tiết thủy văn với sông
Hậu…Mặt khác, kênh Vĩnh Tế còn có vai trò quan trọng về mặt quân sự. Dòng kênh thực
chất là một đường nước chạy dọc tuyến biên giới Việt Nam – Chân Lạp. Từ đây, Hà Tiên
không còn bị cô lập. Thủy đạo Vĩnh Tế là đường hành quân nhanh nhất từ sông Hậu đến Hà
Tiên. Con kênh hoàn thành đã giải quyết được mối quan tâm của vua Nguyễn về tuyến
phòng thủ biên giới tây nam của đất nước. Nhưng cũng góp phần không nhỏ vào hệ thống
hạ tầng cơ sở của Nam Kỳ thời phog kiến.
• Kênh An Thông (1819):
Kênh An Thông chính là một phần của kênh Ruột Ngựa đào từ năm 1772, đến năm
1819 đã qua gần nửa thế kỷ tồn tại kênh này bị cạn lấp, thuyền ghe qua lại khó khăn. Việc
đào kênh vào thời điểm bấy giờ (1819) đất nước đã thống nhất sau hơn 15 năm dưới triều
Nguyễn, kinh tế phát triển, Nam Bộ thực sự trở thành vựa lúa cả nước, con đường lúa gạo từ
miền Tây về Sài Gòn – Chợ Lớn cần được tu sửa hoàn thiện. Vì vậy, nhu cầu cải tạo các
một phương gạo. Công việc chính là đào nới, nắn dòng ở những khúc quanh co, chặt chém
cây cỏ mở rộng lòng kênh. Sau gần một tháng lao động, việc đào vét hoàn thành. Kênh mới
ra đời dựa trên dòng chảy của con sông cũ. “Kênh dài 1220 trượng (6 km) rộng 9 trượng (42
m) sâu 1 trượng (4,7m) [ 10; 34 ]. Vua Minh Mạng thấy lòng đường sông đã thông, có lợi
nhiều cho giao thương, bèn xuống chỉ đặt tên là Lợi Tế và thưởng vải vóc, tiền cho Lê Văn
Duyệt cùng các chức dịch coi việc đào kênh.
Kênh Lợi Tế đã rút ngắn đường giao thông thủy từ Vàm Cỏ Đông sang Vàm Cỏ Tây
và góp phần phân lũ cho sông Vàm Cỏ Tây vào mùa nước.
• Kênh Long An (1843 - 1844):
Ngày nay kênh Long An có tên gọi là kênh Vĩnh An. Kênh được đào vào năm 1843
dưới thời của vua Thiệu Trị.
Dải đất hẹp nằm giữa sông Tiền và sông Hậu thuộc tỉnh An Giang, giáp biên giới
Chân Lạp là một vị trí quan trọng. Bên bờ Tây sông Hậu từ lâu đã có đồn Châu Đốc và cửa
kênh Vĩnh Tế. Còn phía sông Tiền có đồn Tân Châu. Việc giao thông liên lach giữa hai vị
trí này còn nhiều khó khăn vì chưa có thủy đạo nối liền hai địa điểm chiến lược này.
Công việc đào kênh bắt đầu từ tháng 11 năm 1843, khi quan chức các tỉnh An
Giang, Hà Tiên, Vĩnh Long, Định Tường vâng mệnh vua huy động 5.000 dân phu đào trong
một tháng. Đường kênh mới đào bắt đầu từ bờ bắc sông Hậu dài 550 trượng (2,5 km), sau
đó hoãn lại đến tháng 4 năm 1844 mới tiếp tục. Đúng một tháng thì công trình hoàn thành.
Tổng chiều dài của kênh là 3.695 trượng (17 km) sâu gần 9 thước (4 m). Nhà vua ban
thưởng cho quan chức đào kênh và dặt tên cho dòng kênh mới là sông Long An.
Kênh Long An được xây dựng nhằm mục đích quân sự nhưng trên thực tế còn có tác
động đến giao thông, thương mại cũng như thủy văn của khu vực.
Tại vùng đất Gia Định mà sau này là Sài Gòn, nhà Nguyễn cũng cho tiến hành đào
kênh. Chức năng của các con kênh tại đây có phần hơi khác với các con kênh đào ở đồng
bằng sông Cửu Long. Trong khi ở đồng bằng sông Cửu Long, các con kênh đào, ngoài việc
làm thuận lợi giao thông thủy, còn có nhiệm vụ xả lũ hoặc tưới tiêu, cung cấp nước cho một
vùng đồng ruộng rộng lớn. Chính nhờ những con kênh này mà sản xuất lúa gạo tại đồng
bằng sông Cửu Long phát triển vượt bậc. Trong khi ấy, các con kênh ở Gia Định thiên về
chức năng giao thông hơn. Lúa gạo sản xuất tại vùng đồng bằng sông Cửu Long cần có
từ đó lãnh thổ quốc gia được củng cố, nông nghiệp phát triển cả về diện tích lẫn sản lượng.
Các kênh đào chính là mạch máu giao thông quan trọng nối liền các địa phương giúp cho
giao thương mở rộng, kinh tế hàng hóa phát triển. Riêng ở Nam Kỳ còn hình thành những
phố chợ ven sông hoạt động rất sầm uất như Cù Lao Phố, Sài Gòn, Mỹ Tho đại phố, Bãi
Xàu…Vì vậy kênh đào đã gián tiếp đem đến sự phồn thịnh cho các địa phương như Phiên
An, Sài Gòn, Định Tường, An Giang, Hà Tiên…
Kênh đào thể hiện sức lao động sáng tạo xây dựng đất nước của nhân dân Việt và
chính sách coi trọng thủy lợi của triều Nguyễn. Trong thời kỳ này chỉ có hai bàn tay và công
cụ thủ công mà họ đã làm nên những kì tích cho đất nước.
Trên lĩnh vực chính trị, quân sự, chính kênh đào đã tăng thêm sức mạnh cho những
đạo quân, nhanh chóng đến những vùng có chiến sự để trừ phiến loạn, đánh đuổi quân xâm
lược, bảo vệ biên cương phía Nam của đất nước.
Nói tóm lại, việc đào kênh đã thể hiện tính hiệu quả trong việc đầu tư cơ sở hạ tầng
nhằm phục vụ kinh tế nông nghiệp. Đây là một trong những giải pháp hữu hiệu và lâu bền
nhất để cải tạo tự nhiên, phát triển kinh tế, bảo vệ lãnh thổ, tạo ra hình thái cư trú đặc trưng
của miền sông nước. Kênh đào còn thể hiện tầm nhìn xa, mối quan tâm của các vua triều
Nguyễn ở vùng đất Nam Bộ. Hai vua Gia Long và Minh Mạng, trong thời gian trị vì của
mình đã cho đào kênh nhiều nhất. Điều này chứng tỏ đào kênh là một nhân tố lớn liên quan
tới quốc kế dân sinh, an ninh quốc phòng và phát triển kinh tế, nên từ vua chúa đến quan lại
địa phương đều quan tâm thực hiện [ 20; 86 ].
1.2.2. Về đường bộ
Đầu thế kỷ XIX, hệ thống đường bộ còn gọi là đường cái quan (quan lộ, đường thiên
lý) đã thông suốt Bắc – Nam. Hệ thống đường cái quan đó được hình thành dưới thời nhà
Lý nhưng chỉ thực sự phát triển mạnh dưới triều Nguyễn. Trên con đường này, cứ cách
khoảng 25-30 dặm (15-20km) đặt một nhà trạm để canh phòng và vận chuyển văn thư, tài
vật từ kinh đô đi khắp nơi và ngược lại. Đầu thế kỷ XIX, từ Hà Tiên đến Hà Nội có 97 trạm,
năm 1831 đặt thêm 27 trạm, năm sau mở thêm 9 trạm. Tổng cộng 133 trạm vào giữa thế kỷ
Định và bắc cầu Quỳ Tông. Trong năm này, ông đã huy động dân binh đắp đường thiên lý
phía nam từ Gia Định dọc theo giồng cát xuống Trấn Định, qua Thủ Đoàn , giồng Cai Yến,
giồng Tha La, giồng Kỳ Lân, giồng Cai Lữ, giồng Trà Luộc, giồng Cai Lễ... Mãi đến năm
1804 mới lập 2 trạm mục đường bộ tại Trấn Định, mỗi trạm đặt một cai đội, một phó cai đội
và 50 trạm phu. Hai bên đường thiên lý đặt nhiều quán trạm [ 8; 644 - 645 ].
Năm 1835, Minh Mạng cho đắp đường bộ ở các tỉnh Nam Kỳ dùng vào việc quan
báo, khắc phục việc đi lại chủ yếu bằng đường thủy trước đây. Từ thành Định Tường còn có
thêm 3 tuyến đường quan trọng khác: đường từ bắc thành Gia Định đến Định Tường, dài
10.800 trượng (từ Sài Gòn đi Cần Giuộc, Cần Đước, Gò Công, Chợ Gạo đến Mỹ Tho);
đường từ cửa tây thành Định Tường đến địa giới tỉnh Vĩnh Long dài 6.600 trượng (từ Mỹ
Tho cặp sông Tiền đến Cái Thia); đường từ đông nam thành Vĩnh Long đến địa giới Định
Tường [ 64; 405 ].
Đường thiên lý từ cửa Tây thành Định Tường đến địa giới tỉnh Gia Định, dài 5600
trượng (khoảng 95 km). Nay tương ứng với con đường từ TP. Mỹ Tho cặp theo kinh Bảo
Định, qua Tân Hương, giồng Cai Yến (Khánh Hậu), thị xã Tân An (Long An), thị trấn Thủ
Thừa, thị trấn Bến Lức (dọc theo sông Bến Lức về Sài Gòn), Gò Đen, chợ Đệm, Bình Điền,
An Lạc, chợ Phú Lâm, đường Hùng Vương, đường Nguyễn Trãi và về đến cửa Tốn Thuận ở
góc đường Lý Tự Trọng- Nam Kỳ Khởi Nghĩa.
Từ khi đường thiên lý từ Bến Nghé được mở về phía đồng bằng sông Cửu Long,
nhiều chợ đã được nối nhau bằng tuyến đường bộ như chợ Tân Kiểng, Phú Thọ, Bình Điền,
Phước Tú (Bến Lức) tạo cho những nơi này thế mạnh thứ hai về giao thông sau đường thủy.
Ngoài đường thiên lý, các vua triều Nguyễn còn đặc biệt chăm lo khôi phục và mở
rộng mạng lưới giao thông để đẩy mạnh công cuộc khẩn hoang, nhất là ở vùng Gia Định và
đồng bằng sông Cứu Long. Riêng khu vực lục tỉnh Nam Kỳ lúc ấy đã có hàng ngàn cây số
đường đất liên huyện, liên tỉnh, liên vùng, liên miền, nối thủ phủ Gia Định với các tỉnh miền
Đông và miền Trung [ 77; 213].
Về phương tiện đi lại trên đường bộ, ngoài voi, ngựa, cáng, kiệu dùng trong công
cán, trong giao lưu thương mại, đường bộ giữ vị trí khiêm tốn vì khi vận chuyển hàng hóa,