TỔNG QUAN TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM - Pdf 32

LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế Việt Nam những tháng đầu tiên sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế
giới (WTO) được đánh giá là tiếp tục phát triển tốt. Tốc độ tăng trưởng GDP quý I/2007
đạt 7,7%, là mức cao nhất kể từ năm 2001 đến nay, và dự báo tăng trưởng cả năm 2007 sẽ
vượt mức kế hoạch 8,5%. Việc Việt Nam gia nhập WTO đã có những tác động đầu tiên
đến một số lĩnh vực của nền kinh tế, nhất là xuất nhập khẩu và đầu tư trực tiếp nước ngoài
(FDI). Riêng việc nghiên cứu tình hình xuất khẩu của những tháng đầu năm 2007 cũng có
thể hé mở một số dấu hiệu cho thấy tác động của việc thực hiện những cam kết gia nhập
WTO. Tuy những tác động này chưa thực sự rõ rệt nhưng cũng tiềm ẩn cho thấy một số xu
hướng mới rất đáng quan tâm. Một loạt vấn đề cần được đặt ra để tìm những câu trả lời
thoả đáng nhất. Chẳng hạn như, làm thế nào để nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá Việt
Nam ở chính thị trường trong nước và bảo vệ sản xuất trong nước trong điều kiện hàng rào
thuế quan đã, đang và sẽ còn tiếp tục được cắt giảm? Làm thế nào để đẩy mạnh xuất khẩu
hơn nữa đề bù đắp vào khoản thị trường trong nước bị buộc phải nhường chỗ cho hàng
xuất khẩu? Làm thế nào để giảm nhập khẩu để từng bước giảm nhập siêu và tiến tới xuất
siêu vào cuối thập kỷ này như chiến lược xuất nhập khẩu đã đề ra?... Để có câu trả lời thoả
đáng nhất, điều mà chúng ta cần làm trước hết là tìm hiểu những vấn đề về xuất khẩu của
Việt Nam.

Trang 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU CỦA
VIỆT NAM
1.1 KIM NGẠCH XUẤT - NHẬP KHẨU:
Tình hình xuất - nhập khẩu của Việt Nam
từ năm 2000 đến 8 tháng đầu năm 2007
(ĐVT: triệu USD)
Năm Xuất Khẩu Nhập khẩu Tổng số Nhập siêu
2000 14.483,00 15.636,50 30.199,50 1.153,50
2001 15.029,00 16.218,00 31.247,00 1.189,00
2002 16.706,10 19.745,60 36.451,70 3.039,50
2003 20.149,30 25.255,80 45.405,10 5.106,50

2002 111% 122% 117%
2003 121% 128% 125%
2004 132% 127% 129%
2005 122% 115% 118%
2006 123% 120% 122%
8 tháng
đầu 2007 79% 85% 82%
Các nhân tố làm tăng kim ngạch xuất khẩu giai đoạn 2004 - 2006
KNXK
tăng
(triệu
USD)

Trong đó
Do tăng giá XK Do tăng lượng XK
KN
(triệu USD)
T.trọng
(%)
KN (triệu
USD)
T.trọng
(%)
Năm
2004
6.327,00 1.973,40 31.2 4.353,60 68.8
Năm
2005
5.730,00 3.294,10 57.5 2.436,20 42.5
Năm

45% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên, tỷ trọng xuất khẩu của Việt Nam
vào thị trường châu Á đang giảm dần, do xuất khẩu vào thị trường này tăng thấp hơn tốc
độ tăng chung, thậm chí vào một số nước và vùng lãnh thổ còn bị giảm so với cùng kỳ năm
trước.
+Nhật Bản - thị trường nhập khẩu lớn thứ hai thế giới (sau Mỹ) của Việt Nam và lớn
thứ nhất châu Á, nhưng 4 tháng qua mới đạt 1,6 tỷ USD, chỉ tăng 2,5% (quý I còn bị giảm
1,6%), chủ yếu do xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang đây từ năm 2005 đã vượt Mỹ lên
đứng thứ nhất, nhưng từ mấy tháng nay đã bị dừng lại khi Nhật Bản kiểm tra phát hiện dư
lượng kháng sinh vượt mức cho phép.
+Trung Quốc - thị trường nhập khẩu hàng Việt Nam lớn thứ tư thế giới và lớn thứ hai ở
châu Á, nhưng 4 tháng qua mới đạt 1 tỷ USD, chỉ tăng nhẹ (quý I bị giảm 12,1%). Trong
quan hệ xuất nhập khẩu với Trung Quốc, Việt Nam liên tục ở vị thế nhập siêu và nhập siêu
từ Trung Quốc ngày càng tăng: quý I lên đến 1.134,6 triệu USD, lớn nhất trong các nước
và vùng lãnh thổ.
+Singapore - thị trường nhập khẩu nhiều hàng của Việt Nam, đứng thứ 6 trên thế giới
và thứ nhất khu vực Đông Nam Á, trong quý I đã nhập 459,3 triệu USD, tăng tới 50,6% so
với cùng kỳ. Tuy nhiên, nhập siêu của Việt Nam từ Singapore rất lớn, quý I lên đến 826,3
triệu USD, đứng thứ hai sau Trung Quốc.
+Indonesia - nhập khẩu từ Việt Nam trong quý I/2007 gần 310 triệu USD hàng hoá,
vượt lên đứng thứ 8 thế giới, thứ 3 ở châu Á và thứ hai ở Đông Nam Á, tăng 27,8% so với
cùng kỳ, chủ yếu do tăng xuất khẩu gạo từ Việt Nam.
+Hàn Quốc- quý I/2007 đã nhập từ Việt Nam gần 247 triệu USD hàng hoá các loại,
đứng thứ 9 thế giới và thứ 5 châu Á. Tuy nhiên, trong quan hệ buôn bán Việt-Hàn, Việt
Nam luôn ở vị thế nhập siêu với mức nhập siêu quý I lên đến 653,8 triệu USD.
+Campuchia- quý I/2007 cũng nhập khẩu nhiều hàng của Việt Nam, đạt 223,9 triệu
USD, đứng thứ 11 thế giới, thứ 6 ở châu Á và thứ 3 ở khu vực Đông Nam Á. Việt Nam có
vị thế xuất siêu trong quan hệ buôn bán với Campuchia.
+Thái Lan - quý I/2007 đã nhập khẩu từ Việt Nam 206,3 triệu USD hàng hoá, giảm
16,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong quan hệ buôn bán với Thái Lan, Việt Nam luôn ở
thế nhập siêu với mức nhập siêu quý I/2007 lên tới 400,2 triệu USD.

siêu 139,7 triệu USD);
+Australia nhập khẩu từ Việt Nam 947,7 triệu USD trong quý I/2007, là nước nhập
khẩu lớn thứ ba trên thế giới của Việt Nam với tốc độ tăng khá cao (35,8%). Việt Nam
xuất siêu lớn (quý I là 803,4 triệu USD, lớn thứ 2 sau Mỹ).
1.3 CƠ CẤU MẶT HÀNG XUẤT KHẨU:
Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu
(ĐVT: Triệu USD)
Mặt hàng
8 tháng đầu
2007
So cùng kỳ
2006
Năm 2006 Năm 2005
Dầu thô 5.091 -11.80% 8.323 7.387
Dệt may 5.084 29.60% 5.820 4.806
Da giày 2.725 14.30% 3.555 3.005
Thủy sản 2.361 14.10% 3.364 2.741
Gạo 1.154 12.10% 1.306 1.399
Cà phê 1.414 90.80% 1.101 725
Cao su 799 -1.60% 1.273 787
Hạt tiêu 178 20.20% 190 152
Chè 71 4.40% 111 100
Hạt điều 396 24.20% 505 486
Sản phẩm gỗ 1.499 24.30% 1.904 1.517
(Nguồn: báo SaigonTimes và Tổng Cục Thống Kê)
Trang 5
Như vậy, trong 8 tháng đầu 2007, dầu thô xuất khẩu giảm 4.8% về số lượng, giá dầu
thô cũng giảm khoảng 18 USD/ tấn (khoảng 3.6%) làm cho kim ngạch xuất khẩu mặt hàng
này giảm đến 11.80% so với 8 tháng đầu năm ngoái. Sự sụt giảm xuất khẩu dầu thô đã kéo
tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu chung cả nước xuống thấp trong 8 tháng đầu năm 2007.

1.4 THU ẬN L ỢI VÀ KHÓ KHĂN:
1.4.1 Thu ận l ợi :
Trở thành thành viên của WTO, hàng hoá của VN có cơ hội có mặt trên thị trường thế
giới và hấp dẫn các công ty nước ngoài đầu tư vào thị trường VN. Hiện nay, FDI của nước
ta đang trên đà gia tăng, đạt 5,8tỷ USD năm 2005 và theo dự kiến thì FDI của VN sẽ tiếp
tục tăng nhanh trong thời gian sắp tới.
Trang 6
Xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế sẽ giúp các doanh nghiệp có điều kiện tiếp
thu những thành tựu khoa học công nghệ, phương thức quản lý tiên tiến từ các nước phát
triển. Đây là cơ hội để các doanh nghiệp trong nước học hỏi cách thức quản lý mới, sử
dụng công nghệ mới trong sản xuất và hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu. Cải tiến và
hoàn thiện các dây chuyền sản xuất theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hóa sẽ giúp các
doanh nghiệp giảm được chi phí, tạo ra những sản phẩm mới có chất lượng, đa dạng về
mẫu mã, bao bì… tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước đủ sức cạnh tranh với
các doanh nghiệp nước ngoài.
Gia nhập WTO, thực thi theo đúng các nguyên tắc của tổ chức này thì hàng hóa của VN
được đối xử bình đẳng như hàng hóa của các nước thành viên khác, các doanh nghiệp của
VN có vị thế ngang bằng với doanh nghiệp của các nước thành viên khác, các doanh
nghiệp VN cũng được đối xử công bằng như các doanh nghiệp nước ngoài.
Doanh nghiệp trẻ, năng động, chấp nhận mạo hiểm, dám đối đầu với cạnh tranh cùng
với đội ngũ nhân viên kinh doanh nhạy bén với những thay đổi của thị trường giúp cho
doanh nghiệp nhanh chóng rút ngắn khoảng cách thua kém về tài và lực, nâng cao vị thế
của Doanh nghiệp Việt Nam ngang bằng với Doanh nghiệp nước ngoài trong môi trường
hội nhập nhanh chóng và cạnh tranh gay gắt như hiện nay.
Các doanh nghiệp đã nhận thức được tầm quan trọng của mẫu mã, chất lượng hàng
hóa, mạnh dạn trong việc đổi mới công nghệ để nâng cao khả năng cạnh tranh. Khả năng
thâm nhập thị trường xuất khẩu của các doanh nghiệp VN tăng
1.4.2 Khó khăn:
Các doanh nghiệp xuất khẩu chưa nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của giá cả,
tính cạnh tranh của giá cả còn thấp. Phần lớn việc định giá là dựa vào giá cả của đối thủ

tích cực tìm hiểu những qui định của các nước nhập khẩu hay những qui định của tổ chức
thương mại thế giới mà Việt Nam giờ đây đã là thành viên thứ 150. Chính sự thiếu hiểu
biết này đã gây không ít khó khăn cho Doanh nghiệp xuất khẩu VN, làm hạn chế khả năng
kinh doanh của doanh nghiệp như việc doanh nghiệp nước ta từng bị kiện bán phá giá cá
tra, cá basa, tôm (do các doanh nghiệp Mỹ kiện), giày da (do các doanh nghiệp EU khởi
kiện), nhãn hiệu nước mắm Phú Quốc bị Thái Lan chiếm dụng nhãn hiệu …
Chương 2: CÁC MẶT HÀNG XUẤT KHẨU CHỦ LỰC
Trang 8
2.1 DẦU THÔ:
2.1.1 Kim ngạch xuất khẩu:
Sản lượng xuất khẩu dầu thô Việt Nam
(ĐVT: Nghìn tấn)
Năm Sản lượng
1997 9.638
1998 12.145
1999 14.882
2000 15.424
2001 16.732
2002 16.870
2003 17.143
2004 19.501
2005 18.084
2006 18.601
8 tháng đầu 2007 13.000
(Nguồn: Thời báo Kinh tế Việt Nam)

Từ năm 1991, Việt Nam được xếp vào hàng các nước xuất khẩu dầu thô do kim ngạch
xuất khẩu dầu thô lớn hơn kim ngạch nhập khẩu xăng dầu đã qua chế biến. Giá xuất khẩu
dầu thô tăng sẽ góp phần vào tăng trưởng GDP của Việt Nam, làm tăng nguồn thu ngoại tệ,
phần nào khiến cung cầu ngoại tệ diễn biến theo chiều hướng tích cực, từ đó tác động đến

trị giá 493 triệu USD, tăng 14,3% về lượng và 38% về trị giá so với tháng 8 năm ngoái.
Theo Bộ Thương mại, sự tăng lên của kim ngạch dầu thô trong tháng 7 chủ yếu do tăng
lượng xuất, còn giá đã bắt đầu xu hướng giảm dần (giảm gần 3 USD/thùng). Dự kiến từ
nay đến cuối năm, Việt Nam chỉ xuất thêm 4,5 triệu tấn với giá 38 USD/thùng. Như vậy,
kim ngạch trong những tháng cuối năm chỉ đạt 1,2 tỷ USD, tức là bình quân mỗi tháng đạt
300 triệu USD, giảm khoảng 195 triệu USD so với tháng 8 và giảm 135 triệu USD so với
bình quân tháng của 8 tháng đầu năm
2.1.2 Thị trường xuất khẩu:
Hiện có khoảng 10 nước nhập khẩu dầu thô của Việt Nam, trong đó có các bạn hàng
lớn là Australia (trên dưới 30%), Trung Quốc, Singapore (đều trên dưới 20%). Dầu thô là
mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất, chiếm 55% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt
Nam sang Trung Quốc. Với tốc độ tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ, nhu cầu nhập khẩu dầu
thô của Trung Quốc khoảng 40 - 50 triệu tấn/năm, cộng với yếu tố giá cả trên thị trường
thế giới của mặt hàng này trong thời gian tới vẫn sẽ có lợi cho xuất khẩu. Xuất khẩu dầu
thô của Việt Nam sang Trung Quốc chắc chắn sẽ giữ được mức ổn định và tăng về giá trị.
Trong 6 tháng đầu năm 2007, các mặt hàng Việt Nam xuất khẩu sang Indonesia có kim
ngạch tăng bao gồm: dầu thô xuất khẩu 838 ngàn tấn, trị giá 371,2 triệu USD (tăng 11,7%
về lượng và 0,75% về trị giá);
Hiện nay, thị trường tiêu thụ dầu thô Việt Nam chủ yếu là khu vực châu Á - Thái Bình
Dương như: Trung Quốc, Singapore, Australia, Indonesia, Thái Lan, Nhật Bản... Các
khách hàng mua dầu chủ yếu là các hãng và tập đoàn dầu khí lớn trên thế giới như: Shell,
BP (Anh quốc); Exxon Mobil, Chevron (Mỹ); Chinaoil, Sinopec, Sinochem... (Trung
Quốc); Sumitomo, Sojitz, Mitsubishi (Nhật Bản)...
Bên cạnh các khách hàng mua dầu truyền thống, Tổng công ty Dầu khí Việt Nam đã và
đang thiết lập các mối quan hệ hợp tác kinh doanh dầu thô với các khách hàng mới trong
và ngoài khu vực.
2.1.3 Thuận lợi và khó khăn:
2.1.3.1 Thuận lợi:
- Thuận lợi lớn nhất mà ngành dầu khí đã tạo dựng được trong hoạt động xuất khẩu dầu
thô là dù giá lên cao hay xuống thấp, dầu thô Việt Nam được khai thác từ mỏ Bạch Hổ,

định trở lại, kim ngạch xuất khẩu thực tế của Việt Nam sẽ giảm mạnh. Hơn nữa, trữ lượng
dầu của Việt Nam còn ít so với các nước xuất khẩu dầu khác. Trong số 56 nước xuất khẩu
dầu thô trên thế giới, Việt Nam chỉ đứng thứ 50 về trữ lượng. Mức dầu bình quân đầu
người ở Việt Nam cũng còn thấp, mới chỉ dừng ở 2 thùng/người, trong khi một nước xuất
khẩu dầu thô chỉ có thể hoàn toàn thu lợi từ việc giá dầu tăng khi mức dầu bình quân đầu
người tối thiểu là 50 thùng/người.
- Một bất lợi khác của giá dầu cao đối với kinh tế Việt Nam là Việt Nam phải nhập
khẩu 100% xăng dầu, do đó kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam sẽ tăng. Chính vì vậy
Chính phủ Việt Nam phải dùng phần doanh thu từ xuất khẩu dầu thô để bù đắp cho lượng
tăng lên trong giá nhập khẩu. Như vậy, nếu giá dầu vẫn tiếp tục tăng cao, phần doanh thu
từ dầu thô sẽ không đủ bù đắp phần giá trị tăng lên do nhập khẩu xăng dầu. Do đó Việt
Nam cần chú trọng đến các biện pháp tăng cường công suất khai thác, phát hiện và tìm
kiếm các mỏ dầu ngoài khơi mới.
2.2 DỆT MAY:
2.2.1 Kim ngạch xuất khẩu:
Trang 11
Dệt may là ngành kinh tế quan trọng, thu hút số lượng lớn lao động, hơn 300.000 lao
động là ngành có kim ngạch xuất khẩu lớn thứ hai sau ngành dầu khí.
Kim ngạch xuất khẩu dệt may Việt Nam
Năm Kim ngạch xuất khẩu (triệu
USD)
Tốc độ tăng trưởng
(%)
1997 1.503
1998 1.450 -3,5
1999 1.746 20,4
2000 1.892 8,4
2001 1.975 4,4
2002 2.752 39,4
2003 3.689 34,0

tới 58% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam trong tháng 7. Nâng tổng
kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang thị trường Mỹ 7 tháng năm 2007
lên 2,487 tỷ USD, tăng 35% so với cùng kỳ năm ngoái. Đây là mức tăng trưởng kim ngạch
xuất khẩu cao trong nhiều năm qua và cũng là bước đệm cho họat động xuất khẩu hàng dệt
may của Việt Nam sang Mỹ thuận lợi trong những tháng cuối năm nay và đầu năm 2008.
Tiếp đến là thị trường EU, đạt kim ngạch 801.987.229 USD tăng 16,78% so với cùng
kỳ năm ngoái. Với tiến độ xuất khẩu như hiện nay, nhiều khả năng xuất khẩu hàng dệt may
của Việt Nam sang EU sẽ đạt và vượt kế hoạch đề ra.
Xuất khẩu hàng dệt may sang Nhật Bản cũng có được sự tăng trưởng khá, đạt
389.472.316 USD, tăng 13,46% so với cùng kỳ năm ngoái. Kết quả này đánh dấu sự hồi
phục mạnh mẽ tại thị trường Nhật Bản. Đáng chú ý, xuất khẩu sang Canađa đã có sự tăng
trưởng rất mạnh trong 7 tháng đầu năm, đạt 77.651.653 USD, tăng tới 42,74% so với cùng
kỳ năm trước.
Trong 7 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường
Thổ Nhĩ Kỳ đã tăng ở mức kỷ lục, tăng 491,84% so với cùng kỳ năm trước, mặc dù kết
quả xuất khẩu đạt được vẫn còn thấp, chỉ đạt 21.274.148 USD nhưng cũng đã mở ra rất
nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp dệt may Việt Nam trong thời gian tới.
2.2.3 Khó khăn:
Ngành dệt may hiện nay đang phải đối mặt với một số khó khăn sau:
Một là, do trình độ máy móc thiết bị của các nhà máy cơ khí trong ngành quá lạc hậu,
không được đổi mới, nên không đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của các doanh
nghiệp về chất lượng và thời gian giao hàng.
Hai là, phụ tùng, cơ kiện phục vụ cho ngành dệt may đang nhập lậu vào Việt Nam từ
Trung Quốc với số lượng lớn, giá rẻ. Bên cạnh đó, tâm lý các doanh nghiệp không muốn
đổi mới thiết bị cơ khí để sản xuất phụ tùng, vì sợ không cạnh tranh nổi với sản phẩm của
Trung Quốc cũng là điều dễ hiểu, nhất là cơ chế thị trường hiện nay.
Ba là, giá sắt thép trong nước thường xuyên biến động và tăng cao, nên sản xuất phụ
tùng không có hiệu quả.
Bốn là, phụ tùng cơ kiện của ngành dệt rất phức tạp, yêu cầu khắt khe về chất lượng,
đòi hỏi phải có tay nghề cao và trang thiết bị hiện đại, điều này các doanh nghiệp cơ khí

trong 10 nước xuất khẩu da giày nhiều nhất trên thế giới.
Kim ngạch xuất khẩu ngành da giày Việt Nam
Năm Kim ngạch xuất khẩu (triệu USD) Tốc độ tăng trưởng (%)
2000 1.471 6,05
2001 1.587 7,88
2002 1.875 18,15
2003 2.260 20,53
2004 2.691 19,07
2005 3.039 12,93
2006 3.555 16,90
8 tháng đầu 2007 2.700
(Nguồn: Vinanet)
Từ năm 1991 trở về trước, ngành da giày Việt Nam chỉ chủ yếu cung cấp cho thị
trường nội địa nhưng đến năm 1992 – năm đầu tiên xuất khẩu ra thị trường nước ngoài đã
đạt kim ngạch lên tới 5 triệu USD. Và với đà tăng trưởng liên tục, đến năm 2006, tổng kim
ngạch xuất khẩu của ngành da giày đã đạt mức 3.55 tỉ USD. Năm 2006 tình hình sản xuất
kinh doanh của toàn ngành có nhiều biến động so với năm 2005, một phần do 3 tháng đầu
năm 2006, nhiều doanh nghiệp phải dừng sản xuất hoặc có ít đơn đặt hàng do ảnh hưởng
của vụ kiện chống bán phá giá các loại giày mũ da, một phần do phải cạnh tranh gay gắt
trên thị trường quốc tế, phải đáp ứng các yêu cầu của nhà nhập khẩu, người tiêu dùng quốc
tế (về các tiêu chuẩn, giảm các hoá chất độc hai…). Đến cuối năm 2006, theo thống kê trên
10 đôi giày tiêu thụ trên thế giới đã có tới 2 đôi sản xuất tại Việt Nam, giúp Việt Nam trở
thành “nước lớn” về sản xuất giày dép trên thế giới, xét trong Châu Á thì chỉ đứng sau
Trang 14
Trung Quốc và Ấn Độ. Tổng chung 8 tháng đầu năm 2007, kim ngạch xuất khẩu ước đạt
2,7 tỉ USD, tăng 14,3% xuất khẩu các sản phẩm túi xách, vali, mũ, dù đạt 425 triệu USD
tăng 28,8% so với cùng kỳ năm ngoái.
2.3.2 Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu:
Chúng ta xuất khẩu nhiều loại mặt hàng đa dạng, phong phú như giày mũ da, giày vải,
giày sandal, giày thể thao, các loại giày thời trang, dép đi trong nhà… trong đó sản phẩm

dệt, giầy không thấm nước tiếp tục giảm mạnh. Trong 6 tháng đầu năm 2007, kim ngạch
xuất khẩu giầy mũ nguyên liệu dệt giảm 62,53% (tương đương 171,16 triệu USD), kim
ngạch xuất khẩu giầy thể thao mũ nguyên liệu dệt giảm 68,85% (tương đương 79,2 triệu
USD), kim ngạch xuất khẩu giầy không thấm nước giảm 94,4% (tương đương 29,85 triệu
USD) so với cùng kỳ năm 2006.
2.3.3 Thị trường xuất khẩu :
Trang 15
Thị trường EU vẫn là thị trường xuất khẩu chính của doanh nghiệp Việt Nam (chiếm
50% tổng kim ngạch xuất khẩu giày dép). Tuy nhiên lượng xuất khẩu vào thị trường này có
khá nhiều biến động trong năm 2006 do ảnh hưởng của vụ kiện chống bán phá giá làm cho
sức mua và cơ cấu sản phẩm thay đổi, đồng thời phụ thuộc vào đối tác đặt hàng, hợp tác
sản xuất và sức ép về thực hiện các tiêu chuẩn quốc tế. Tuy nhiên, EU vẫn là thị trường
xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam. Thị phần XK vào thị trường này vẫn chiếm số lượng lớn
là do giày dép Việt Nam tiếp tục được hưởng ưu đãi theo hệ thống thuế quan phổ cập khi
nhập khẩu vào EU. Hiệp hội Da giày cho biết, do tác động của vụ kiện chống bán phá giá
đối với giày mũ da xuất xứ Việt Nam, từ đầu năm 2006 các doanh nghiệp da - giày đang
phải đối mặt với việc thiếu đơn hàng. Các nhà nhập khẩu đã trì hoãn việc đặt hàng vì họ lo
sợ mức thuế chống phá giá cao. Tuy nhiên, sau khi có phán quyết cuối cùng của Liên minh
châu Âu áp thuế chống bán phá giá 10% đối với giày mũ da xuất xứ Việt Nam trong khi
Trung Quốc chịu mức 16,5% thì tình hình xuất khẩu đã dần ổn định, khách hàng đã quay
trở lại Việt Nam để đặt hàng. Xuất khẩu giày dép của Việt Nam sang các nước thuộc EU
tiếp tục tăng. Tháng 7/2007 xuất khẩu giày dép của nước ta sang EU giảm 11% về lượng
và 7,2% về trị giá so với tháng 6/2007 nhưng tăng 14,85% về lượng và 20,7% về trị giá so
với cùng kỳ năm 2006. Tính chung trong 7 tháng đầu năm 2007, xuất khẩu giày dép của
nước ta sang khối EU tăng 8,7% về lượng và tăng 10,74% về trị giá so với cùng kỳ năm
2006.
Thị trường Hồng Kông: Ngoài thị trường EU, xuất khẩu giày dép của Việt Nam trong
tháng 7/2007 sang các thị trường Hồng Kông, Trung Quốc, Nam Phi, Nga… tiếp tục tăng
mạnh so với cùng kỳ năm 2006. Tháng 7/2007, xuất khẩu giày dép sang thị trường Hồng
Kông đạt mức tăng cao nhất, tăng 72,63% về lượng và 120,64% về trị giá, trong đó lượng

Tính chung 7 tháng đầu năm nay, kim ngạch xuất khẩu giày dép sang thị trường Hồng
Kông tăng mạnh nhất, tăng 76,5% (tương đương 12,6 triệu USD) so với cùng kỳ năm
2006. Đứng thứ 2 là thị trường Ba Lan tăng 68,4%, tiếp đến là Trung Quốc tăng 62,4%,
Malaysia tăng 60,4%. Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu giày dép của nước ta sang
Achentina giảm rất mạnh, giảm 27,8% so với cùng kỳ năm 2006.
2.3.4 Khó khăn:
Số liệu cho thấy da giày là một trong những ngành có tốc độ tăng trưởng khá cao trong
những năm gần đây. Song hiện tại, ngành da giày cũng đang gặp rất nhiều vấn đề trong quá
trình phát triển và đặc biệt là trong tiến trình hội nhập. Ngành da giày Việt Nam hiện nay
bên cạnh lợi thế về nhập khẩu nhưng cũng còn tồn tại nhiều điểm yếu. Nguồn nguyên liệu
phần lớn phải nhập từ nước ngoài nên hiệu quả kinh tế thấp. Hơn 60% các sản phẩm da
giày của Việt Nam là gia công cho đối tác nước ngoài – là nhà buôn chứ không xuất khẩu
trực tiếp đến các nhà phân phối chính. Do đó các doanh nghiệp Việt Nam bị phụ thuộc và
bị chi phối khá nhiều về việc sản xuất. Bên cạnh đó, chúng ta lại quan tâm xuất khẩu quá
nhiều vào một thị trường EU (50%) mà chưa dàn trải đều trên các thị trường khác nhau.
Tất cả các điều đó đã góp phần làm cho doanh nghiệp lao đao khi bị EU kiện bán phá giá.
Thời gian qua đã cho thấy, các doanh nghiệp Việt Nam có nguy cơ rất cao bị kiện bán
phá giá, trợ cấp bán phá giá, tự vệ. Ngành giày da đã kiện hai lần bởi EU vào năm 1998 và
năm 2005. Nhưng vào năm 1998, chúng ta không bị đánh thuế vì thị phần gia tăng nhỏ.
Nhưng đến năm 2005 vừa qua thì vụ kiện đã tương đối lớn và EU đã quyết định áp thuế
chống bán phá giá 10% cho sản phẩm giày mũ da của Việt Nam, gây không ít điêu đứng
cho ngành da giày của nước ta.
2.4 THỦY SẢN:
2.4.1 Kim ngạch xuất khẩu:

Đất nước ta có chiều dài bờ biển 3260 Km, với 112 cửa sông lạch, có vùng nội thuỷ và
lãnh hải rộng 226.000 Km
2
, vùng biển đặc quyền kinh tế khoảng 1 triệu Km
2

2005 2.739,0 14,1
2006 3.358,0 22,6
8 tháng đầu 2007 2.104,4
(Nguồn: Trung tâm tin học Thuỷ sản)
Năm 1990 kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt 205 triệu USD. Ngành thuỷ sản chỉ mất 12
năm để tăng kim ngạch xuất khẩu lên gấp 10 lần, từ 205 triệu USD đến 2.021,7 triệu USD
vào năm 2002. Như vậy trong 17 năm qua, tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu thuỷ
sản Việt Nam đạt kết quả khá ngoạn mục so với các ngành kinh tế khác và so với các nước
trong khu vực. Ngay cả khi cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ ở Châu Á có ảnh hưởng
nặng nề đến nền kinh tế các nước trên thế giới và kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng khác
có sút giảm thì kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản vẫn tăng. Kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản
trong các năm 2001, 2002, 2003 có tốc độ tăng trưởng khá cao. Năm 2004, do hậu quả của
các vụ kiện bán phá giá, điều kiện sản xuất trong nước gặp nhiều khó khăn nên tốc độ tăng
trưởng năm 2004 có chậm lại nhưng đã nhanh chóng đạt lại tốc độ tăng trưởng trên 5,5%.
Năm 2005 tốc độ tăng trưởng đã tăng đến 14,1%. Đặc biệt năm 2006 là năm mà ngành
thuỷ sản có tốc độ tăng trưởng rất cao 22,6%. Điều này cho chúng ta thấy xuất khẩu thuỷ
sản tăng trưởng vững chắc. 8 tháng đầu năm 2007 kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản là 2,1 tỉ
USD cho thấy năm nay ngành thuỷ sản có thể đạt được kế hoạch kim ngạch xuất khẩu là
3,5 tỉ USD.
2.4.2 Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu:
Với nguồn lợi thuỷ sản phong phú, Việt Nam có thể xuất khẩu nhiều loại thuỷ sản có
tính kinh tế cao. Tuy nhiên trong thời gian qua các mặt hàng thuỷ sản vẫn còn khá đơn
Trang 18
điệu, tôm vẫn là mặt hàng xuất khẩu chủ yếu. Ngoài ra, từ năm 2006 đến nay kim ngạch
xuất khẩu cá tra, cá ba sa sang các thị trường nhất là thị trường Đông Âu và EU tăng.
Cơ cấu hàng xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam 8 tháng đầu năm 2007
Mặt hàng Số lượng (Tấn) Giá trị (Đô la Mỹ)
Tôm 73347.4 720985405
Cá tra, basa 213578.6 564762570
Nhuyễn thể chân đầu 48837.1 165636695

tiêu
Năm
Trang 19
1997 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006
8 tháng
đầu
2007
Nhật
Bản
Giá trị 382,1 467,3 465,9 538,0 582,9 754,9 813,4 842,6 396,2
Tỷ
trọng
48,9 31,6 25,6 26,6 25,6 31,4 29,7 25,1 18,8
Mỹ Giá trị 39,1 298,2 489,0 655,7 782,2 592,8 634,0 664,2 413,6
Tỷ
trọng
5,0 20,2 26,9 32,4 34,4 24,7 23,1 19,8 19,7
EU
Giá trị 74,9 99,2 107,0 84,4 127,2 243,9 436,7 723,5 527,9
Tỷ
trọng
9,6 6,7 5,9 4,2 5,6 10,2 15,9 21,5 25,1
Trung
Quốc,
Giá trị 106,4 291,7 316,7 302,3 147,8 131,2 134,4 164,3 113,5
Tỷ
trọng
13,6 19,8 17,4 15,0 6,5 5,5 4,9 4,9 5,4
ASEAN
Giá trị 64,1 77,8 64,9 79,5 73,1 165,7 123,2 150,9 108,1

Quốc đạt giá trị 133,35 triệu USD (6,71% về giá trị), tăng 21,68% so với cùng kỳ năm
2006.
Trang 20
2.4.4 Thuận lợi và khó khăn:
2.4.4.1 Thuận lợi:
Tiềm năng thuỷ sản của Việt Nam còn rất lớn
Thông qua hình thức liên doanh và tự đầu tư, các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản đã
nâng cấp trang thiết bị chế biến nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, đủ sức cạnh tranh
trên thị trường.
Năm 2006, nước ta có thêm 38 doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn xuất khẩu thuỷ sản sang
EU, nâng tổng số doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn xuất khẩu thuỷ sản sang thị trường này lên
209 đơn vị. Hàn Quốc công nhận thêm 13 đơn vị đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, nâng tổng số
doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn xuất khẩu thuỷ sản sang thị trường này lên 298 đơn vị. Vừa
qua, Nga cũng đã chấp thuận bước đầu cho 11 doanh nghiệp Việt Nam đủ tiêu chuẩn xuất
khẩu sản phẩm sang Nga.
2.4.4.2 Khó khăn:
Ngành thuỷ sản Việt Nam còn phải đối mặt với yêu cầu ngày càng cao về bảo đảm an
toàn vệ sinh thực phẩm và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, các yêu cầu về bảo vệ môi
trường, các vụ kiện chống bán phá giá và tranh chấp thương mại từ các nước: Nhật Bản,
Canada, Mỹ, cạnh tranh ngày càng khốc liệt từ Trung Quốc và một số quốc gia trong khối
ASEAN.
Các rào cản thương mại quốc tế thường gặp đối với sản phẩm thuỷ sản xuất khẩu như:
rào cản thuế quan (thuế phần trăm, thuế quan đặc thù như hạn ngạch thuế quan, thuế đối
kháng, thuế chống bán phá giá…) và rào cản phi thuế quan (biện pháp cấm, hạn ngạch xuất
nhập khẩu, giấy phép xuất nhập khẩu, rào cản kỹ thuật…).
Các yếu tố cơ bản thúc đẩy sự phát triển thuỷ sản ổn định và lâu dài như quy hoạch,
giống nuôi trồng, đánh bắt… còn mang nhiều yếu tố tự phát chưa trở thành qui trình công
nghệ mang tính công nghiệp ở tầm vĩ mô.
2.5 GỖ:
2.5.1 Kim ngạch xuất khẩu:

Đồ trang trí 0.6%
Thủ công mỹ nghệ 1.6%
Nội thất nhà bếp 3.7%
Ghế 14.8%
Dăm 8.3%
Gỗ, ván 9.1%
Nội thất văn phòng 6.2%
Loại khác 5,5%
Về cơ cấu sản phẩm xuất khẩu trong tháng 7/07, qua bảng trên cho thấy đồ nội thất
dùng trong phòng ngủ vẫn là nhóm mặt hàng đạt kim ngạch cao nhất với 47,55 triệu USD,
chiếm 25,9% tổng kim ngạch. Đồ nội thất phòng ngủ xuất khẩu gồm có giường, bộ phận
giường, tủ áo, bàn, tủ trang điểm…tiếp đến là đồ nội thất dùng trong phòng khách, phòng
ăn, đạt kim ngạch 44,6 triệu USD, chiếm 24,3% tỷ trọng; ghế đạt 27,22 triệu USD, chiếm
Trang 22
14,8%; gỗ ván đạt 16,67 triệu USD, chiếm 9,1%; đồ nội thất dùng trong văn phòng đạt
11,3 triệu USD, chiếm 6,2%…
Ghế vẫn là mặt hàng có tốc độ tăng trưởng cao nhất, chiếm đến 25% tổng kim ngạch
xuất khẩu sản phẩm gỗ. Các sản phẩm ghế xuất khẩu như ghế cao su, ghế gỗ sồ, ghế living
dining milner… Tiếp đến là đồ nội thất phòng ngủ, đạt 46,6 triệu USD trong tháng 3, nâng
tổng kim ngạch xuất khẩu đồ nội thất loại này trong 3 tháng đầu năm đạt 122,2 triệu USD,
tăng 15% so cùng kỳ năm ngoái và chiếm 18,3% tỷ trọng. Đồ nội thất phòng ngủ như
giường, tủ áo, bàn trang điểm… là những sản phẩm có thế mạnh của ta. Đồ nội thất dùng
trong phòng khách, phòng ăn cũng là một sản phẩm được ưa chuộng như bàn coffee, tủ
commot, tủ buffee…đạt kim ngạch 39,8 triệu USD, nâng tổng kim ngạch xuất khẩu đồ nội
thất loại này 3 tháng đầu năm đạt 112,4 triệu USD, tăng 19% so cùng kỳ năm ngoái. Ngoài
ra, 3 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu đồ nội thất văn phòng cũng đạt 30,9 triệu USD,
tăng 3,4% so cùng kỳ năm ngoái; gỗ, ván đạt 31 triệu USD, tăng 12%; đồ nội thất nhà bếp
đạt 4,6 triệu USD, tăng 9,5%...
Hiện nay Việt Nam có trên 1.800 công ty tham gia xuất khẩu sản phẩm gỗ. Nhưng
những doanh nghiệp đạt kim ngạch cao đều là những công ty có vốn đầu tư nước ngoài

này đứng thứ 3 sau dệt may và giày dép. Đến năm 2005, bắt đầu có dấu hiệu đi xuống khi
kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ chỉ đạt 697 triệu USD trong số 1,53 tỷ USD kim ngạch xuất
khẩu đồ gỗ của Việt Nam (chiếm 79%). Tốc độ tăng trưởng năm 2006 là 29% với 902,5 tỷ
USD kim ngạch xuất khẩu. Riêng quý I/2007, kim ngạch đạt được 277,7 triệu USD, tăng
được 49% so cùng kỳ. Xuất khẩu đồ gỗ nội thất của Việt Nam vào Mỹ tăng nhanh là do
một số nguyên nhân, trong đó yếu tố quan trọng là Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ đã bắt
đầu có hiệu lực. Theo đó, thuế nhập khẩu đồ gỗ từ Việt Nam giảm mạnh, trung bình từ 50 -
55% xuống còn 0 - 3%. Ngoài ra, đối với thị trường Hoa Kỳ, đồ gỗ Việt Nam được đánh
giá là có chất lượng, kiểu dáng sáng tạo và có giá khá cạnh tranh so với một số nước, đứng
thứ năm trong số 10 nước xuất khẩu gỗ lớn nhất vào Hoa Kỳ, sau Trung Quốc, Canada,
Mexico và Italia.
Kế đến là Nhật Bản, kim ngạch xuất sang Nhật Bản trong tháng 7 đạt trên 24,66 triệu
USD, tăng 23,2% so với tháng 7/06, nâng tổng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ sang thị
trường này 7 tháng đầu năm đạt trên 177,8 triệu USD, tăng 19,7% so với cùng kỳ năm
2006. Các mặt hàng đồ gỗ của Việt Nam xuất vào Nhật Bản khá đa dạng, bao gồm đồ gỗ
nội thất, đồ gỗ công nghiệp ván sàn, khung tranh, hòm, hộp, đồ gỗ trang trí… Trong đó đồ
gỗ nội thất chiếm tỉ trọng lớn. Trong đó đồ gỗ nội thất chiếm tỉ trọng lớn (từ 72 – 82%
từng năm), đứng thứ 2, sau Trung Quốc XK vào Nhật Bản. Dự kiến kim ngạch XK đồ gỗ
sang Nhật Bản tới năm 2010 là khoảng 700 triệu USD, tốc độ tăng trưởng bình quân
25%/năm. Trong đó nhóm hàng đồ gỗ nội thất khoảng 550 triệu USD, tốc độ tăng trưởng
bình quân 28%/năm. Đồ gỗ Việt Nam XK sang Nhật Bản từ năm 2004 – 2006 đạt tốc độ
tăng trưởng khá. Năm 2004: đạt 180 triệu USD; năm 2005: 240 triệu USD; năm 2006: 286
triệu USD.
Đứng thứ 3 sau Mỹ và Nhật Bản là thị trường Anh, với kim ngạch xuất khẩu trong
tháng 7 đạt 12,46 triệu USD, nâng tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường
Anh 7 tháng đầu năm đạt 120,6 triệu USD, tăng 36,4% so với cùng kỳ năm ngoái. Theo số
liệu thống kê, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam vào thị trường Anh trong
tháng 2 đạt trên 12,7 triệu USD, tăng 41,1% so với cùng kỳ năm 2006, nâng tổng kim
ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ của ta vào thị trường này 2 tháng đầu năm đạt 32,6 triệu
USD, tăng 37% so cùng kỳ năm ngoái. Về cơ cấu sản phẩm gỗ xuất khẩu vào thị trường

tục tăng mạnh. Năm 2007, tiêu dùng đồ nội thất của Canada được dự báo tiếp tục tăng
trưởng và nhập khẩu đồ nội thất của nước này sẽ tiếp tục tăng. Thị phần nhập khẩu đồ nội
thất của Canada từ Việt Nam hiện chỉ chiếm khoảng 3% kim ngạch nhập khẩu đồ nội thất
của nước này. Nền kinh tế Canada tăng trưởng khả quan hơn kinh tế Mỹ, với mức tăng 2,9
trong năm 2005 và tăng trưởng ổn định đến năm 2007. Ngành xây dựng của nước này ước
tăng 3,6% năm 2006. Nhu cầu về tiêu thụ đồ nội thất của nước này tăng trưởng khá ổn
định.
Ôxtrâylia: Kim ngạch xuất khẩu vào thị trường Ôxtrâylia trong năm 2006 đạt 54,5 triệu
USD, tăng 30,1% (tăng 12,1 triệu USD) so với năm 2005. Các mặt hàng xuất khẩu chính:
Đồ nội thất phòng khách (tủ, bàn ghế, kệ TV); Đồ nội thất phòng ngủ (giường, tủ, bàn
ghế); ghế… Ôxtrâylia là một nước có môi trường kinh tế và chính trị khá ổn định, chính
sách thương mại minh bạch. Hơn nữa, nhu cầu nhập khẩu sản phẩm gỗ của thị trường này
khá cao, trong khi thị phần sản phẩm gỗ của ta tại thị trường này còn nhỏ bé. Với tất cả
những thuận lợi trên thì đây vẫn còn là thị trường rất tiềm năng và năm 2006, xuất khẩu
sản phẩm gỗ của Việt Nam sang thị trường Ôxtrâylia sẽ tiếp tục tăng.
Kim ngạch xuất khẩu sang Đức 7 tháng đầu năm 2007 đạt trên 47,84 triệu USD, tăng
22,1%
Thị trường xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ năm 2006
Trang 25

Trích đoạn GIẢI PHÁP CỤ THỂ CHO NHỮNG NGÀNH XUẤT KHẨU CHỦ LỰC: 1 Dầu thô: Hàng điện tử, linh kiện máy tính: Hồ tiêu: Về phía nhà nước
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status