Môn: Văn học Đông Nam Á
ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO ĐẾN VĂN HỌC
CAMPUCHIA CỔ
Trường: ĐH Sư Phạm TPCHM
(2013 - 2014 )
LỜI MỞ ĐẦU
Lev Tolstoi – một nhà văn vĩ đại của đất nước Nga đã từng nói: “Tôi sáng tác
dưới ánh sáng của Chúa”, tức là ông sáng tác văn học dựa trên sự soi sáng, chiếu
rọi đầy quyền năng của đấng tối cao. Hay nói cách khác, trong quá trình sáng tác
văn học, tôn giáo và ông không thể tách rời. Đây là một hiện tượng có tính phô
biến toàn nhân loại. Có thể thấy, tôn giáo và văn học nghệ thuật đều là những hình
thái ý thức xã hội thuộc kiến trúc thượng tầng. Chúng tồn tại song song nhau, đi
sóng đôi với nhau, đan xen và ảnh hưởng lẫn nhau. Do vậy không có gì lạ khi văn
học chịu ảnh hưởng của tôn giáo. Trên góc độ sáng tạo nghệ thuật thì tôn giáo là
mảnh đất tốt, là nguồn cảm hứng dạt dào và vô tận để sáng tạo nghệ thuật. Nghiên
cứu ảnh hưởng của tôn giáo đối với văn học nghệ thuật là tìm đến những bến bờ
mới sinh động, mênh mông vô tận của dòng cảm hứng sáng tạo (Nghiên cứu văn
học cổ trung đại trong mối quan hệ khu vực, Đặng Thanh Lê).
Trong thời cô trung đại, bất kỳ nền văn học nào cũng phải chịu sự tác động và ảnh
hưởng của triết học và tôn giáo. Tôn giáo tồn tại song song với văn học và chính
nó là mảnh đất gợi cảm hứng cho văn học. Đất nước Campuchia với những con
người hiền hậu đã sản sinh và lưu giữ nền văn hóa, văn học tốt đẹp mà mỗi khi
nhắc tới ta không thể nào quên được những câu chuyện kể, những bài trường ca
giàu chất trữ tình và mang đậm dấu ấn Phật giáo. Mặc dù có sự vay mượn những
tác phẩm của Ấn Độ, song nó đã Khơ me hóa để những tác phẩm ấy mang hơi thở
của Phật giáo – một Phật giáo của Campuchia, một tôn giáo gần gũi, gắn bó mật
thiết với đời sống con người. Phật giáo, nhất là Phật giáo tiểu thừa đã ảnh hưởng
con người bằng chính cuộc sống đức độ của con người, Phật giáo đã nhanh chóng
chiếm được tình cảm và niềm tin của đông đảo quần chúng lao động.” (Nguyễn
Quỳnh Anh)
Sau khi Phật nhập Niết bàn, Phật giáo được các vị đại đệ tử của Ngài truyền bá
đi khắp nơi trên xứ Ấn Độ. Đặc biệt là vào thế kỷ thứ III trước công nguyên, dưới
triều đại của vua Asoka, vị Hoàng đế này có công rất lớn trong sự nghiệp hoằng
dương thánh giáo. Asoka gởi các đoàn truyền giáo đi khắp nơi, trong ấy có đại đức
Mahinda-con của ông cùng với bốn vị tu sĩ khác được gởi sang Tích Lan truyền bá
Phật giáo. Đến thế kỷ thứ II trước công nguyên, vua Kanishaka cũng nhiệt tình ủng
hộ Phật giáo. Ông đã ra lệnh cho khắc tam tạng kinh điển lên lá đồng và cho người
bảo quản một cách cẩn thận. Nhưng khi Ấn Độ bắt đầu cải tô lại thì đạo Phật có
dấu hiệu suy giảm. Tuy nhiên, trong thời gian đó thì các tín đồ bắt đầu truyền đạo
pháp ra bên ngoài, ở các nước Sri Lanca, Myanmar, Thái Lan, Trung Quốc, Triều
Tiên, Tây Tạng, Nhật Bản sang cả Ai Cập và nhiều địa phương khác ở Địa Trung
Hải. Phật giáo từ đó trở nên phô biến rộng khắp trên nhiều khu vực lãnh thô, trong
đó có Campuchia ở khu vực Đông Nam Á.
Có rất nhiều ý kiến về mốc thời gian Phật giáo du nhập vào Campuchia. Một số
thuyết cho rằng đạo Phật đã du nhập vào xứ Campuchia vào thế kỉ thứ 3 trước
công nguyên do kết quả của các nhà truyền đạo Phật giáo được vua Asoka cử đi
khắp nơi. Bên cạnh đó cũng có người cho rằng đạo Phật đã du nhập cùng lúc với
đạo Bà La Môn qua việc mở rộng giao thương với Ấn Độ sớm nhất là vào thế kỷ
thứ 1 trước Công Nguyên. Các nhà buôn từ các vùng biển Ấn Độ là những người
truyền bá các luồng văn hóa này tới các thương cảng dọc bờ biển trong vịnh Thái
Lan, sau đó được chế độ quân chủ của vương quốc Phù Nam tiếp nhận và phát
triển. Nhưng lúc đó, trong suốt thời gian dài của vương quốc Phù Nam, đạo Bà La
Môn đã hưng thịnh hơn đạo Phật. Đến thế kỷ 12, vua Jayavarman II đã cho xây
dựng ngôi đền Hindu không lồ Angkor để thờ thần Vishnu. Đền này mở rộng
thành Angkor Wat. Nhưng đến triều vua Jayavarman VII, trị vì từ 1181 đến 1215,
Phật giáo Tiểu Thừa về phương diện nhận thức gồm trong ba chủ thuyết, gọi là
Tam pháp ấn: chư hành vô thường, chư pháp vô ngã, niết bàn tịch tịnh. Còn về
phương diện hành đạo là đi theo con đường Trung đạo (không xuôi theo dục lạc
thấp hèn, thô bỉ, phàm tục nhưng cũng không thiết tha gắn bó trong lối tu khô
hạnh) là con đường đem lại nhãn quan, tri kiến và đưa đến an tịnh, trí tuệ cao siêu,
giác ngộ và Niết Bàn. Con đường ấy chính là Bát Chánh Đạo. Ngoài ra còn có 4
chân lý gọi là “Tứ diệu đế” của nhà Phật… Đạo Phật Tiểu thừa chủ trương an phận
tự giác, từ bi bác ái, chú trọng đến giới quy (những điều răn cấm) đối với bậc tu
hành. Ngoài ra còn có một số nền tảng khác của đạo Phật cũng ảnh hưởng đến văn
học Campuchia:
Nhân Quả:
Mọi sự việc đều có lý do từ Nhân Quả. Nghĩa là mọi sự việc đều là kết quả từ
nguyên nhân trước đó. Và sự việc đó chính nó lại sẽ là một nguyên nhân của kết
quả sau này. Nhân có khi còn gọi là Duyên hay Nghiệp, và một khi đã gieo Duyên
hay Nghiệp thì ắt sẽ gặt Quả
Dù con người không thể thấy được toàn bộ, không thể lý giải được hoàn toàn
nhân quả này thì mối quan hệ Nhân Quả vẫn là một quy luật tự nhiên khách quan.
Con người dù không thể hiểu hết, thấy hết, thậm chí có thể họ không tin Nhân Quả,
nhưng quy luật này vẫn vận hành và chi phối vạn vật. Thời gian giữa Nhân và Quả
là xuyên suốt thời gian vũ trụ chứ không chỉ trong một kiếp sống. Việc này dẫn
đến một khái niệm là Luân hồi.
Luân hồi:
Luân hồi là sự chuyển sinh liên tục, là sự chết đi và sống lại của một đối tượng.
Hình thức của 1 kiếp sống là khác nhau, có thể chuyển đôi giữa các loài, các thế
giới (cõi ngạ quỷ, cõi súc sinh, cõi địa ngục, cõi trời, cõi người, cõi a-tu-la…).
Quan hệ Nhân Quả quyết định cách thức Luân hồi, hay nói cách khác tùy theo
Duyên hay Nghiệp đã tạo mà sẽ Luân hồi tương ứng để nhận Quả. Luân hồi khẳng
định cho quy luật Nhân Quả là không bao giờ tránh được Quả một khi đã gieo
sinh cách giải thoát với lòng từ bi vô lượng. Sự cao quý của Phật ở chỗ xem tất cả
chúng sinh là bình đẳng và hoàn toàn có thể thành Phật. Hơn thế, khi hiểu Đạo
Phật sẽ thấy các đức Thế tôn thậm chí không coi Phật là một quả vị, là chứng đắc...
mà chỉ là sự quay về với bản nguyên của vũ trụ
Trong quá trình phát triển, nền văn học Campuchia được hình thành theo ba
mạch chính: mạch thứ nhất là những tác phẩm trực tiếp bàn giải về triết học, về lý
thuyết Phật giáo; mạch thứ hai là những khái niệm, những nội dung triết học sâu
sắc của đạo Phật như những gợi ý, những luồng ánh sáng tiếp dẫn giúp cho thi sĩ
Campuchia cảm hứng sáng tác văn học; mạch thứ ba là các tác phẩm mượn vỏ tôn
giáo song tuyệt nhiên không mang nội dung Phật giáo. Và như vậy, mỗi mạch tác
phẩm đều có đối tượng, nội dung, thủ pháp nghệ thuật riêng.
2.2.
2.2.1.
Ảnh hưởng của triết lý Phật giáo trong văn học Campuchia
Sự bàn giải triết lí Phật giáo trong văn học
Từ khi đạo Bà la môn bị suy thoái thì đạo Phật ở Campuchia chiếm ưu thế và
được xem như là quốc giáo, nên đạo Phật với những tư tưởng, những khái niệm
mang nội dung triết học sâu sắc được xem như là nguồn ánh sáng tiếp dẫn cho văn
học Campuchia trong suốt giai đoạn văn học trở về sau. Vì vậy mà trong các tác
phẩm văn học ở Campuchia, ta thường dễ nhận thấy sự có mặt ít nhiều của Đạo
Phật. Và từ đó đến nay đạo Phật ảnh hưởng đến mọi mặt đời sống người dân
Campuchia và trong đó có văn học.
Nền văn học xem Phật giáo là kim chỉ nam mở đầu cho những tác phẩm mới
viết về những triết lý nhà Phật cũng là khởi nguồn cho mạch văn học lấy triết lí nhà
Phật làm cốt lõi phát triển, đó là khoảng thế kỷ XV. Lấy đề tài Phật giáo, các tác
phẩm văn học thời kỳ này chủ yếu nói vể triết lý Phật giáo, nhằm giải thích những
vững chắc để bảo tồn con thuyền Giáo Hội Tăng Già trong những cơn phong ba
bão táp của lịch sử. Phần lớn Tạng Luật đề cập đến giới luật và nghi lễ trong đời
sống xuất gia của các vị tỳ kheo và tỳ kheo ni. Tạng Kinh gồm những bài Pháp của
đức Phật khuyên dạy tăng ni về giáo lý, các phương pháp tu tập để đi đến giác ngộ
và giải thoát, và khuyên dạy cư sĩ về cách xây dựng hạnh phúc trong gia đình và
ngoài xã hội. Một vài bài giảng của các vị đại đệ tử như các ngài Sàriputta,
Moggallàna, Ànanda cũng được ghép vào tạng Kinh và cũng được tôn trọng như
chính lời đức Phật, vì đã được đức Phật chấp nhận. Tạng Luận hay Vi Diệu Pháp,
còn gọi là Thắng Pháp, là tinh hoa của Phật Giáo. Tạng Kinh chứa đựng những lời
dạy thông thường (vohara desana), còn Tạng Luận gồm các giáo lý cùng tột
(paramattha desana) của đạo Phật, nhằm biện luận, phân tích, xếp loại các hiện
tượng về tâm lý, vũ trụ và siêu hình trong đạo Phật cho người tu học dễ hiểu ý
nghĩa thâm sâu của giáo lý.
Mở đầu là tác phẩm Traiphum là một tác phẩm bao quát những tư liệu về các
quan điểm tôn giáo, triết lý và khoa học của các tín đồ đạo Phật. Cuốn sách trình
bày có hệ thống giáo lý của đạo Phật, là cơ sở sự hình thành thế giới quan trung
đại của người dân Campuchia. Mục đích của Traiphum là khuyến khích con người
sống phù hợp với lý tưởng của đạo Phật, tránh điều ác, làm điều thiện... Xu hướng
đạo lý rõ ràng của Traiphum không phải là kết cấu của sự suy xét sâu xa của tác
giả về đạo Phật, mà là sự phản ánh những tâm trạng yếm thế chung điển hình cho
đạo Phật ở 15 thế kỷ đầu sau Công nguyên, khi bắt đầu xuất hiện vô số các giáo
phái và khuynh hướng khác nhau, và đạo Phật không còn là một học thuyết nhất
quán nữa.
Lokaneyyajataka (nhập môn vào nguồn gốc những cuộc đời của Phật) là tác
phẩm nhằm đề cao lý tưởng Phật giáo. Đây là tác phẩm của Prê Khleng Nong- nhà
thơ nôi tiếng dưới triều vua Ang En và Ang Đuông. Là một nhà sư, trông coi một
ngôi chùa ở kinh đô Uđông và ông giữ một vai trò quan trọng về chính trị và hành
chính, Nong viết rất nhiều, phần lớn những tác phẩm của ông đều bắt nguồn từ
giáo đi vào trong văn học giai đoạn này chủ yếu được cảm nhận dưới dạng cụ thể
của đời sống hiện thực. Vì thế những khái niệm triết học, trừu tượng, khó hiểu của
đạo Phật đã trở nên gắn bó gần gũi với những niềm vui trần thế và được minh
chứng bằng những biến cố, sự việc thường nhật của cuộc đời. Người Campuchia
đã đưa triết lý đạo Phật vào trong truyện cô như để răn dạy con người luôn phải
vươn tới chân- thiện- mỹ ở đời.
Truyện cô Campuchia đã chịu ảnh hưởng nhiều của triết lý nhà Phật với căn
nguyên và quy luật nhân quả ở đời. Gieo nhân nào thì gặt quả ấy, Đức Phật luôn từ
bi hỷ xả trước con người biết vươn lên và khát khao cuộc sống. Dù cho đó có thể
chỉ là một điều không tưởng, một cái gì đó thuộc về tâm linh không có thật nhưng
nó lại làm cho con người có niềm tin và thêm yêu cuộc sống hơn. Đơn giản Phật ở
ngay trong tâm của mỗi con người chứ không phải đi tìm nơi đâu xa lạ. Và chỉ có
truyện cô mới có thể ru con người vào một thế giới mà ở đó chính luôn thắng tà,
điều ác luôn bị trừng trị, điều mà triết lý đạo Phật luôn nhắc nhở con người phải
biết sống sao cho cuối cùng con người không phải xót xa, ân hận về những gì đã
qua.
Riêm Kê là một tác phẩm có nguồn gốc từ sử thi Ramayana. Ramayana vốn là
một tác phẩm Bà la môn giáo nhưng khi vào Campuchia thì nó đã được ‘Khơ me
hóa” hay nói cách khác nó đã được Phật hóa cho phù hợp với hoàn cảnh
Campuchia. Qua Riêm Kê, chúng ta thấy được tác phẩm không chỉ mang đậm màu
sắc dân tộc mà còn mang những nội dung triết lí của Phật giáo. Đó là hình ảnh
trong sáng, đẹp đẽ của nàng Xêđa, đó là sự khoan dung của nhà Phật khi Xêđa có
lòng vị tha, thông cảm với những sai lầm mang đầy tính người của Riêm. Lúc đầu
nàng không hề có biểu hiện tha thứ qua những lời trách móc Riêm khi Riêm hiểu
rõ mọi chuyện và đến xin lỗi và mong muốn đưa nàng về cung nhưng tận sâu trong
trái tim nàng thì vẫn luôn tràn đầy sự vị tha. Đó cũng là tình yêu chung thủy của
Xêđa dành cho Riêm.
Có thể nói nhà sư Otum Mathexom là tác giả đầu tiên trong văn học
thánh chỉ của vua về đến nơi thì đám cưới đã cử hành. Tum và Tiêu gặp nhau đàng
hoàng như vợ chồng, bất chấp sự ngăn cản của bà mẹ. Tiêu nguyện ước theo Tum
đi cùng trời cuối đất, không chịu tham vàng bỏ ngãi. Bà mẹ Tiêu tức giận, bảo
Mơn nguôn bắt Tum đem đi giết hại. Nghe tin Tum chết, Tiêu lẳng lặng đến bên
xác chàng và cắt cô chết theo. Cô hầu gái Nô cũng chết theo chủ. Sự việc được tâu
lên vua, vua liền đem quân lính đến trừng trị tất cả những người có tội.
Tum Tiêu chịu ảnh hưởng tư tưởng của Phật giáo Tiểu thừa khá rõ rệt. Phật giáo
Tiểu thừa bắt đầu du nhập vào Campuchia từ thời Indravarman III (1295 - 1307) và
đã bắt rễ sâu rộng trong quần chúng. Là thứ tôn giáo dân chủ, gần gũi, dễ hiểu với
quần chúng và có ảnh hưởng lớn tới sáng tác của nhân dân Khơme. Trong truyện
thơ Tum Tiêu thì tác giả đã cảm nhận nỗi đau thân phận con người qua những triết
lí về Nghiệp căn Quả báo. Đó là sự thuyết giảng những ý tưởng răn dạy của chính
tác giả:
“Thế mới biết tình là khốc hại
Kiếp này vinh hoa khổ kiếp sau
Nay đã khổ đầu thai kiếp sướng
Pháp vô thường: pháp chẳng bền lâu”
Ở đây tác giả đề cập đến luật tái sinh, luân hồi ở kiếp người “kiếp này vinh hoa,
khô kiếp sau” đồng thời cũng thuyết giảng về sự uyên thâm của Phật pháp “pháp
vô thường: pháp chẳng bền lâu”. Tác giả Otum Mathexom cũng không thoát khỏi
con đường triết luận về bể khô của nhà Phật. Khi nói về căn nguyên đã đưa đến thế
trầm luân của Tum sư thầy Prêh Vihia Thôm đã nói:
“Cửa Phật rộng lòng thầy chẳng hẹp ?
Đã đi tu sao chẳng đuôi đầu?”
“Khoác áo Phật là không giới tính
Nay con đà nặng nỗi trần ai”
Lời quở mắng của sư thầy và lời tiên đoán về số phận của Tum đã báo trước một
điều gở, một sự trừng phạt đối với con người chạy theo cám dỗ.
phúc xứng đáng của con người.
“Cửa phật từ bi” xuất hiện trong Tum Tiêu còn thông qua hình tượng sư thầy
chùa Prêh Vihia Thôm. Ở Campuchia, nhà sư là mẫu hình tiêu biểu của con người
dưới trần thế, có đầy đủ những đức tính trung thực, bác ái, trầm tĩnh, kiên nhẫn,
đức độ, thông minh, thiện tình, thân tình và công bằng. Sư thầy trong Tum Tiêu
cũng vậy, sư mặc dù rất tức giận nhưng cũng đã thông cảm cho Tum khi chàng có
nguyện vọng được hoàn tục để sống bên người mình yêu
“Khoác áo Phật là không giới tính
Nay con đà nặng nỗi trần ai
Thì đáng lẽ mình con phải chịu
Nhưng cũng thương, vậy chớ ưu hoài”
Otum Mathexom tự trói buộc trong giới luật nhà chùa, tu được quả phúc, cho
đến tận lúc qua đời ông vẫn là một nhà sư. Câu chuyện ông viết ra mang ý đồ răn
dạy của Phật giáo, ông nói đến Nghiệp chướng, Thiện căn, Tam bảo, Luân hồi quả
báo, Kiếp sau….nhằm làm rõ thêm những nỗi khô đau, bất trắc của mọi số phận.
Con người tìm đến cửa Phật không phải với tư thế tích cực, chủ động “Kiến tín
thành Phật”, mà là tìm đến một đấng siêu phàm để cầu xin sự cứu rỗi, để tìm đến
sự thoát ly dù đó chính là điều không thể đạt được. Ý nghĩa khách quan của tác
phẩm đã vượt ra ngoài ý đồ của tác giả.
“Muôn dân thấy luật hình nghiêm ngặt
Bảo nhau sống lấy đức cho toàn
Chớ học thói bất nhân bạc ác
Lưỡi gươm kia kết tội chẳng oan”
Hay trong việc nói sự anh minh của nhà vua:
“Người vì nước vì dân trị nước
Luật 10 điều nghiên cứu thêm sâu
Thân sinh ra ban đầu đã khổ
Thì phải đầu thai sướng kiếp sau”
vì làm điều ác mà kiếp sau đầu thai thành cặp chim đa đa, rồi lại đầu thai thành
người. Triết lí “ Nghiệp căn Quả báo” cũng được tác giả đưa vào trong tác phẩm
của mình. Điều đó thể hiện ở chỗ vợ chồng người thợ săn làm điều ác đã đốt cháy
rừng làm chết cặp chim đa đa, sau khi chết liền bị đầu thai thành cặp chim đa đa và
cũng bị chết cháy do chính người thợ săn (cặp chim đa đa bị chết cháy ở kiếp
trước) gây ra. Đức Phật dạy rằng: “ có vay thì phải có trả” vợ chồng người thợ săn
vì làm điều ác hại chết cặp chi đa đa kiếp này đã bị trả lại. Hay trong tình tiết vì giữ
lời hứa với các con chim mái đã chết cùng con kiếp sau được đầu thai thành công
chúa xinh đẹp, chim trống lúc đầu vì không giữ lời hứa kiếp sau đã bị đầu thai
thành người con trai nghèo khô, ngu đần, xấu xí. Đó cũng thể hiện triết lí “nghiệp
căn, quả báo” một cách rõ ràng nhất. Ngoài ra cũng lấy cảm hứng từ trong Phật
giáo, tác giả đã dùng hình thức “truyện lồng trong truyện” – hình thức quen thuộc
của Jataka
Những điểm trên cũng chính là những yếu tố nôi bật tạo nên ưu điểm cho dòng
văn học giai đoạn này. Mặc dù trong một số tác phẩm vẫn có nói đến triết lý Phật
giáo, nói về Đức Phật nhưng bên cạnh đó nội dung của tác phẩm còn hướng đến
phần nhân bản hơn (nghĩa là tính người) và đặc biệt là các nhà văn, nhà thơ cũng
đã chú ý đến khía trong cuộc sống như là tình yêu, về những bi kịch xảy ra đối với
con người và cuộc sống của họ. Nhưng xuyên suốt toàn bộ nội dung các tác phẩm
văn học này, nội dung tư tưởng của các tác phẩm đó cũng vẫn là chủ đề quan trọng
mà đa số tác giả văn học muốn làm nôi bật.
Tư tưởng Phật giáo đi vào văn học thế kỷ XVIII- đầu XIX được cảm nhận dưới
dạng thức cụ thể của đời sống hiện thực. Vì thế những khái niệm triết học khô
khan, trừu tượng, khó hiểu của đạo Phật đã trở nên gắn bó gần gũi với những niềm
vui trần thế và được minh chứng bằng những biến cố, sự việc thường nhật của cuộc
đời. Và cũng chính vì vậy, chúng có đời sống bền lâu trong thời gian và ảnh hưởng
rộng lớn trong quần chúng. Một điều chắc chắn rằng tư tưởng triết học Phật giáo
đã góp một phần quan trọng làm nên giá trị bất tử của những tác phẩm này, đặc
tình tiết giống như các bà nàng, bà chúa trong Jatarka. Nhưng về mặt nội dung nó
không dừng lại ở mức độ phản ánh những bi kịch của loài người nói chung, phát
sinh từ những cọ xát giữa cái thiện và cái ác, Nàng Ka Kây là một bi kịch tính
cách, nó phản ánh những chuyển biến mạnh mẽ của tâm lí xã hội Campuchia bước
vào thế kỉ XIX.. Chế độ phong kiến bắt đầu phát sinh những mâu thuẫn và mang
những dấu vết của sự rạn vỡ. Lúc này ngôi vua không còn mang ý nghĩa vua –
thần, Phật giáo không còn là triết lí độc tôn thống trị tinh thần người Campuchia
như trước.
Truyện thơ Nàng Ka Kây lấy đề tài từ trong Jataka nhưng câu chuyện về người
vợ phản bội trong truyện thơ không giống như ở Jatarka. Ở đây người đàn bà đẹp
có tính cách đặc biệt với một trái tim tràn đầy tình yêu. Nàng Ka Kây là hình tượng
nhân vật độc đáo, là hiện tượng “kì lạ” trong truyền thống thơ Khơme, bởi lẽ từ
trước đến nay chưa hề có một tác phẩm nào miêu tả sự không chung thủy của
người đàn bà mà lại được công chúng tỏ ra thông cảm đến như vậy. Nàng Ka Kây,
một người đàn bà đẹp như tiên nữ, sống theo bản năng, không chung thủy với
chồng, bị tác giả lên án nghiêm khắc, thật ra chỉ là nạn nhân của cuộc sống tồi tệ
trong cung đình. Nàng sinh ra để yêu và được yêu, nhưng hạnh phúc của nàng bấp
bênh và ngắn ngủi. Nàng không chịu bó mình sống trong cung đình mà táo bạo phá
vỡ mọi thành kiến xã hội, luật lệ của triều đình phong kiến, đi tìm tự do cá nhân
theo tiếng gọi tình yêu, dục vọng. Cuối cùng nàng bị trừng phạt – đó là lẽ đương
nhiên. Vì nàng đã vượt qua những khuôn khô quy định của xã hội lúc bấy giờ. Tác
giả đã lấy cái chết của Ka Kây để kết thúc câu chuyện: một trận gió lớn khiến
thuyền bị lật và Ka Kây bị nhấn chìm dưới nước. Qua nhân vật nàng Ka Kây ta
nhận thấy bi kịch con người, cuộc đời và bi kịch thời đại ngày một rõ nét qua
những hành động và quá trình phát triển tâm lí, tính cách nhân vật. Số phận của các
nhận vật được định đoạt sẵn bởi quá khứ của họ và họ không thể thoát khỏi vòng
dục vọng. Ở đây không có nhân vật điển hình Bồ tát như các truyện theo kiểu
Jataka. Các nhân vật đều phải chịu đau khô, họ bị dày vò vì dục vọng giam hãm
sự cô quạnh của cuộc sống hàng ngày và phải đương đầu với những thành kiến xã
hội. Vì vậy, truyện Nàng Ka Kây - kẻ không chung thuỷ - được công chúng
Khơme đặc biệt chú ý. Sự không chung thuỷ của nàng, bị tác giả lên án nghiêm
khắc, chỉ là tấn kịch của một người đàn bà không thích nôi với sự tồi tệ của vương
triều. Đó cũng là tấn kịch muôn thuở, trong thời gian và trong không gian. Garuđa,
người yêu của nàng Ka Kây, phải chăng là biểu tượng, là sự thể hiện những chàng
trai cường tráng, đầy sinh lực, được đàn bà ưa thích. Dù sao, nhân danh luân lý, thi
phẩm đó vẫn là lời trừng giới, lời răn đe đối với những phụ nữ Khơme giàu dục
tình và ảo tưởng. Truyện thơ Nàng Ka Kây mượn vỏ tôn giáo để nói về cuộc sống
thực, chứng tỏ truyện thơ Khơme đã bắt đầu lóe lên nhu cầu thể hiện tình cảm của
con người cận hiện đại.
Ngoài truyện thơ nàng Ka Kây còn có những truyện thơ khác như: truyện Hans
Yant truyện Chau Sratốp Chek của Yos Nghin... cũng là những tác phẩm mang vỏ
bọc tôn giáo nhưng tuyệt nhiên không mang nội dung tôn giáo. Tuy vậy đây đều là
những sáng tác đặc sắc của nền văn học thành văn Campuchia, nói lên những khát
vọng, nhu cầu tình cảm cá nhân của những con người Campuchia cận hiện đại. Từ
thế kỷ XIX- đầu thế kỷ XX là giai đoạn văn học chịu sự ảnh hưởng lớn của tư
tưởng Phật giáo về triết lý nhân sinh, nhưng truyện thơ Khơme đã xuất hiện những
biểu hiện tính cách con người một cách rõ rệt, không dừng lại ở việc phản ánh các
kiếp luân hồi của con người mà truyện còn thể hiện sâu sắc tình cảm cá nhân. Về
mặt nội dung nó không chỉ phản ánh những bi kịch của loài người nói chung, mà
còn phản ánh những chuyển biến mạnh mẽ của tâm lí xã hội.
Nhìn lại một cách tông quát, ta thấy các tác phẩm trong dòng văn học mang
đậm dấu ấn Phật giáo có những đặc điểm khác nhau. Mỗi tác phẩm, dù thiên về
triết lý cao thâm hay cuộc sống đời thường đều đạt đến độ sâu sắc, có thể xếp vào
hàng danh tác. Điều đó chứng tỏ Phật giáo đã trở thành một thành tố tâm hồn
Campuchia, tự nó không tồn tại độc tôn, không hình thành một dòng văn thơ riêng
biệt dù trong một giai đoạn hay suốt chiều dài lịch sử văn học Campuchia. Tư
kiếp sau hay kiếp luân hồi... Ở Campuchia có truyện Tum Tiêu, truyện Nàng Ca
Cây... nhẳm ngụ ý cho việc đưa ra ý niệm của tác giả về những hệ thống triết lý sâu
xa của nhà Phật. Còn ở Việt Nam, có thể kể đến là tác phẩm Truyền kì mạn lục của
Nguyễn Dữ hay trong Truyện Kiều của Nguyễn Du. Trong Truyền kỳ mạn lục,
Nguyễn Dữ đứng trước thực tại của xã hội nhiễu nhương, không lối thoát đã sử
dụng những triết lý Phật giáo về nghiệp duyên, quả báo, kiếp sau để tìm đường giải
thoát cho những nhân vật của mình.
Nhiều truyện của Campuchia ảnh hưởng của văn học Ấn như Riêm Kê chịu
ảnh hưởng của bộ Ramyana. Ngoài ra, tuy nhận xét rằng Phật giáo Việt Nam chịu
ảnh hưởng chủ yếu từ Trung Quốc nhưng có nhiều tác phẩm, đặc biệt là truyện cô
về loài vật của Việt Nam cũng ảnh hưởng từ văn học Phật giáo Ấn Độ như Thầy
bói xem voi, Mèo lại hoàn mèo, Cua và cò,… Dạ Thoa Vương cũng mang dấu vết
của Ramayana,…
Văn học Phật giáo Việt Nam tuy không có ranh giới rõ ràng để phân thành
ba mạch chính như văn học Phật giáo Campuchia. Nhưng nhìn chung dù là những
kinh Phật thuần túy (mạch thứ nhất), minh họa cho giáo lí nhà chùa như chuyện
nghiệp căn (mạch thứ hai) hay thậm chí mượn cái vỏ Phật giáo để chứa đựng nội
dung khác (mạch thứ ba) trong văn học Phật giáo Campuchia thì văn học Phật giáo
Việt Nam đều có. Và như vậy, mỗi mạch tác phẩm đều có đối tượng, nội dung, thủ
pháp nghệ thuật riêng.
Ở mạch thứ nhất: Nhìn chung kinh văn được chia thành ba loại theo nội
dung là Kinh, Luật và Luận, còn được gọi chung là Tam Tạng (Tripitaka) mà ta đã
phân tích khá kĩ ở phần đầu bài. Và mạch này chính là nền tảng cơ bản để tạo ra
những mạch sau.
Ở mạch thứ hai: Nôi bật với Kinh Bôn Sinh hay Jataka. Jataka vào
Campuchia cuối thời Ăngco, ngày càng trở thành nguồn đề tài quan trọng của văn
học. Tư tưởng Phật giáo trong Jakata có ảnh hưởng sâu đậm trong các tác phẩm
của Campuchia, xu hướng Jakata ngày càng rõ nét trong truyện kẻ, ngụ ngôn. Các
phân tích và nói cụ thể hơn ở phần so sánh đặc điểm khác nhau.
Tôn giáo tồn tại song song và là mảnh đất gợi cảm hứng cho văn học. Như
Tam tạng kinh điển của Phật giáo, kinh thánh Tân ước, Cựu ước của Thiên chúa
giáo, kinh Coran của Hồi giáo, Đạo đức kinh của Lão Tử, Nam hoa kinh của Trang
Tử lại giàu hình tượng văn học, đầy chất thơ, đậm tính văn chương. Ở đó, chúng ta
có thể tìm thấy một nguồn vô tận của mỹ từ pháp. Phật giáo vốn là tôn giáo vì con
người và về con người, thôi truyền ngọn lửa lạc quan, yêu đời, nhân văn và nhân ái
cho mọi người, hướng con người vươn tới tình thương yêu bao la, mênh mông, với
tư tưởng từ bi hỷ xả; và đặc biệt chú trọng đến những con người đau khô và nó rất
gần với tư tưởng của dân tộc. Ngoài ra, tư duy Phật giáo gần gũi với tư duy văn
học ở tính trực cảm, trực giác, cảm tính và hướng nội. Kiểu tư duy này lại phù hợp
với yêu cầu sáng tạo nghệ thuật hơn là tư duy của tôn giáo khác như Nho giáo,
Thiên Chúa giáo hay Bà La Môn giáo. Tư duy Phật giáo như đã nêu trên, chú trọng
đến chữ “Tâm”, khai thác tận cùng các yếu tố thuộc về tâm chứ không đơn thuần
chỉ là tìm hiểu để khai thác mặt tâm lý xã hội. Tâm yên lặng tịch tĩnh là Phật “Tâm
tịch, nhi tri thị danh chân Phật” (Trần Thái Tông, Thiền tông chỉ nam tự). Thiền
tông coi trọng cái tâm, coi trọng trực giác trong phương pháp tu hành. Vì vậy, rất
nhiều tác phẩm văn học Đông Nam Á nói chung và văn học Việt Nam, Campuchia
nói riêng được sáng tác dưới ánh sáng của tôn giáo, nhất là Phật giáo. Phật giáo có
thể chính là đề tài, là triết lý ẩn sau tác phẩm hay đôi khi chỉ là cái vỏ để hàm chứa
một nội dung khác. Nhưng có một điều không thể phủ nhận rằng Phật giáo hay nói
đúng hơn là triết lý Phật giáo luôn thu hút các tác giả văn học cô trung đại quan
tâm.
3.2.
Một số điểm khác nhau trong văn học Phật giáo Việt Nam và
Campuchia
“Cũng tiếp nhận từ Ấn Độ, nhưng cách người Thái Lan, người Lào, người
Campuchia, Myanma và Việt Nam tiếp nhận có khác nhau. Trong khi người Lào,
cũng như nghệ thuật văn học Việt Nam đương thời”. Thành tựu văn học của họ đã
thể hiện trình độ văn học lúc bấy giờ. Trong 50 thi sĩ đời Lý thì có đến 41 người là
Tăng sĩ. Đến thời nhà Trần, các vị minh vương đã anh dũng dẹp tan giặc Nguyên
Mông, mang lại một nền thái bình thịnh trị cho dân tộc, các ngài lại đưa ra những
tư tưởng trong sáng của những bậc chân tu ngộ đạo, tạo thành một dòng Thiền nôi
tiếng - Trúc Lâm Yên Tử. Phật giáo Trúc Lâm thể hiện rõ nét sinh hoạt nhập thế,
phục vụ tích cực cho đời sống xã hội tốt đẹp cũng như đời sống tâm linh thăng hoa
tuyệt đỉnh. Với tinh thần bao dung và uyển chuyển hài hòa của văn hóa đời Trần,
Phật giáo đã là chất keo gắn bó tốt đẹp giúp vua quan và dân chúng đồng tâm hợp
sức trong việc chống giặc ngoại xâm và xây dựng đất nước. Văn học đời Trần thật
rực rỡ, thể hiện nét đẹp của tinh thần hòa đồng và sự thanh cao giải thoát của đạo
Phật. Tinh thần ấy dĩ nhiên không phải là sự yếu đuối, chán đời mà trái lại, nó đã
song hành với tinh thần tự chủ, tự lực, tự cường và bảo vệ sắc thái của người dân
Việt. Ngoài văn học thời Lý - Trần hưng thịnh, phần nhiều các nhà thơ cô điển
Việt Nam đều chịu ảnh hưởng đạo Phật. Nhất là qua những tác phẩm của các tác
giả tiêu biểu như Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu
Trác, Lê Quý Đôn, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Du…Khi bàn về tình trạng văn học
đương thời, Lê Quý Đôn đánh gia cao thơ và từ của Đỗ Pháp Thuận và Ngô Chân
Lưu: “Câu thơ của sư Thuận làm cho sứ thần nhà Tống phải kinh phục, văn từ
Chân Lưu vang tiếng trong một thời”.
Thơ Trần Nhân Tông ý cảnh thanh thoát, điềm nhiên, trong sáng, câu thơ cầu
kỳ, thủ đoạn nghệ thuật thơ ca điêu luyện, nặng tình cảm hướng Phật, chứa chan ý
thiền.
Thuỵ khởi khải song phi,
Bất tri xuân dĩ quy.
Nhất song bạch hồ điệp,
Phách phách sấn hoa phi.
(Ngủ dậy ngỏ song mây,
thành những giá trị rất riêng của văn học Việt Nam. Đồng thời, tất cả những bài thi
ca mang đậm nét Phật giáo đều toát lên giá trị triết lý sống một cách tốt đẹp cho