Chương 1: Tổng quan về đầu tư nước ngoài và công tác3 xúc tiến đầu tư.3 - Pdf 32

Chuyên đề tốt nghiệp GVHD TS Phạm Văn Hùng
MỤC LỤC
LIST OF PROJECTS CALLING FOR INVESTMENT.....................................................64
Danh mục Dự án kêu gọi đầu tư vào Hà Nội – giai đoạn 2006-2010..........................................................64
Sai Dong A hi-tech Industrial zone......................................................................64
General Service and Business Centre at No 5 Le Duan......................................66
Hi-Tech Research,Development and Training Centre in North of Red River..66
Improvement and Rehabilitating of Kim Lien B Collective Housing Area......67
High Building Apartment Group belong to Thinh Liet new Urban Area.........67
Upgrade Qualities of Health Care in Soc Son District..........................................................................68
SVTH Võ Thị Liên Lớp KTĐT B
1
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD TS Phạm Văn Hùng

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
UBND: Ủy ban nhân dân
ODA: Hỗ trợ phát triển chính thức
FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài
XTĐT: Xúc tiến đầu tư

SVTH Võ Thị Liên Lớp KTĐT B
2
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD TS Phạm Văn Hùng
LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế thị trường là một nền kinh tế hoạt động và phát triển trên cơ sở hội
nhập với nền kinh tế khu vực và trên thế giới. Hội nhập đã tạo điều kiện cho nền kinh
tế của mỗi quốc gia những cơ hội phát triển song cũng đặt ra không ít thách thức nhất
là đối với những nền kinh tế đang phát triển. Trong hội nhập kinh tế, đầu tư trực tiếp
nước ngoài có vai trò cực kỳ to lớn. Nó là nhân tố góp phần thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế, tạo điều kiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế-xã hội theo chiều hướng tiến bộ,
giảm nhẹ gánh nặng thất nghiệp, thúc đẩy xuất khẩu, từng bước hội nhập với nền

đầu tư.
Phương pháp nghiên cứu: Phân tích, tổng hợp các thông tin, tài liệu báo cáo
chính thức đã công bố của các tổ chức: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Sở Kế hoạch và Đầu
tư thành phố Hà Nội…về đề tài nghiên cứu.
Chương 1: Tổng quan về đầu tư nước ngoài và công tác
SVTH Võ Thị Liên Lớp KTĐT B
2
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD TS Phạm Văn Hùng
xúc tiến đầu tư.
1.1Tổng quan về đầu tư trực tiếp nước ngoài.
1.1.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Đối với mỗi quốc gia vốn cho đầu tư phát triển thường được chia thành hai loại
là vốn trong nước và vốn nước ngoài. Trong đó vốn trong nước thường không đáp
ứng đủ nhu cầu đầu tư do vậy mỗi quốc gia đều có chiến lược thu hút vốn nước
ngoài. Vốn nước ngoài có các hình thức chủ yếu sau: Hỗ trợ phát triển chính thức
(ODA), việc trợ nhân đạo từ các quốc gia, tổ chức tài chính quốc tế hoặc các tổ chức
phi chính phủ, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), đầu tư gián tiếp nước ngoài, vay
thương mại từ các ngân hàng nước ngoài hoặc thị trường tài chính quốc tế. Trong các
hình thức trên đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn
đặc biệt là trong nền kinh tế hội nhập như hiện nay nó lại càng trở nên quan trọng
hơn bao giờ hết.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là sự di chuyển vốn quốc tế dưới hinh thức vốn sản
xuất thông qua việc nhà đầu tư ở một nước đưa vốn vào một nước khác để đầu tư,
đồng thời trực tiếp tham gia quản lý, điều hành tổ chức sản xuất nhằm tận dụng ưu
thế về vốn, trình độ công nghệ và năng lực quản lý để tối đa hóa lợi ích của mình.
Bản chất của FDI càng thể hiện rõ hơn qua việc xem xét nó dưới góc độ nhà đầu
tư, đối với nước tiếp nhận đầu tư và với tư cách là một dòng vốn quốc tế. Vai trò của
FDI có thể rất khác nhau đối với sự phát triển của các nước khác nhau, đối với từng
giai đoạn phát triển khác nhau của một nước. Do vậy mỗi quốc gia tiếp nhận FDI
thường có chiến lược, sách lược, trọng tâm và lộ trình riêng cho việc thu hút dòng

thường là thấp nên các nhà đầu tư có cơ hội đưa những công nghệ đã lạc hậu bên
nước họ để đem sang các nước khác đầu tư.
+ Gây sức ép cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong nước làm giá thành cao
một cách giả tạo, giảm lợi nhuận, thậm chí gây ra lỗ giả, lãi thật gây thiệt hại cho
người tiêu dùng và giảm thu ngân sách của nhà nước.
+ Có khả năng gây ra một số ảnh hưởng bất lợi về kinh tế-xã hội như làm tăng
chênh lệch về thu nhập, làm tăng sự phân hóa trong các tầng lớp nhân dân, tăng mức
độ chênh lệc về phát triển kinh tế trong một vùng hoặc giữa các vùng trong một quốc
gia.
Tuy nhiên mức độ ảnh hưởng của những bất lợi mà FDI mang lại còn tùy thuộc
vào quan điểm và sự quản lý của mỗi quốc gia tiêp nhận. Nếu có sự chuẩn bị kỹ
lưỡng, đầy đủ các biện pháp phù hợp, nước tiếp nhận FDI có thể hạn chế giảm thiểu
tới mức tối đa những tác động tiêu cực, bất lợi.
1.1.2 Các nhân tố chủ yếu tác động đến thu hút dòng vốn FDI
Trên hết và xuyên suốt tất cả các thời kỳ, các quốc gia dù phát triển hay đang
phát triển dù là bên nhận đầu tư hay bên chủ đầu tư thì động lực mạnh mẽ và bao
SVTH Võ Thị Liên Lớp KTĐT B
4
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD TS Phạm Văn Hùng
quát nhất tạo ra và chi phối những dòng FDI chính là lợi nhuận, với khát vọng tìm
kiếm các thị trường đầu tư, thị trường tiêu thụ tránh sự nằm im phi kinh tế của các
luồng vốn nhàn rỗi, tránh những rủi ro kinh tế khi đầu tư tập trung vào một thị trường
(theo phương châm “không để tất cả trứng vào một giỏ”). Nếu không xét đến khả
năng và nhu cầu về vốn đầu tư của cả bên nước chủ đầu tư lẫn bên nước nhận đầu tư
quốc tế và với giả định bối cảnh chung của thế giời ở điều kiện bình thường cả về tự
nhiên và nhân tạo thì có thể nhận thấy dòng vốn đầu tư quốc tế nói chung vốn FDI
nói riêng chỉ thực sự mở rộng và ưa tìm đến những nơi có môi trường đầu tư đảm bảo
cho đồng vốn sinh sôi nảy nở. Thực tiễn cho thấy tiêu chuẩn của môi trường đầu tư
hấp dẫn, có sức cạnh tranh để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trước hết bao gồm 6
nhân tố: sự ổn định về kinh tế và chính trị - xã hội; sự hoàn chỉnh, hiệu quả của hệ

vốn nước ngoài mà ta có thể sử dụng được chính là FDI. Thực tế đến nay đã chứng
minh sự lựa chọn của chúng ta là đúng đắn đồng thời cũng nói lên tính cần thiết có
tính lịch sử và khách quan của FDI đối với công cuộc xây dựng và phát triển của đất
nước.
Văn kiện Đại hội IX của Đảng khẳng định rõ hơn sự cần thiết của FDI trong quá
trình phát triển của nền kinh tế nước ta trong giai đoạn hiện nay: “Kinh tế có vốn đầu
tư nước ngoài là một bộ phận của nền kinh tế Việt Nam, được khuyến khích phát
triển, hướng mạnh vào sản xuất kinh doanh hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu, hàng hóa
dịch vụ có công nghệ cao, xây dựng kết cấu hạ tầng”. Đó là một thành phần kinh tế
mới xuất hiện và hình thành ngày càng rõ nét trong nền kinh tế nhiều thành phần định
hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý vĩ mô của nhà nước ta.
Xuất phát từ vị trí quan trọng có tính lịch sử và khách quan của FDI đối với sự
phát triển kinh tế-xã hội của đất nước trong thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước cũng
như UBND thành phố Hà Nội đã chủ trương tích cực thu hút và sử dụng hiệu quả
nguồn vốn FDI nhằm mục đích thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội thực hiện thành
công quá trình CNH, HĐH đất nước và thủ đô. FDI hiện nay được xem là một trong
những động lực quan trọng để thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước nói chung và thủ
đô Hà Nội nói riêng.
1.2 Công tác xúc tiến đầu tư.
1.2.1 Khái niệm xúc tiến đầu tư.
Luật đầu tư 2005 không nêu khái niệm “xúc tiến đầu tư”. Do vậy những người
làm xúc tiến đầu tư thường ngầm hiểu khái niệm xúc tiến đầu tư cũng gần giống như
định nghĩa của Luật Thương mại 2005 về “xúc tiến thương mại”- “là hoạt động thúc
đẩy, tìm kiếm cơ hội mua hàng hóa, cung ứng dịch vụ…”. Vậy thì xúc tiến đầu tư là
hoạt động thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội đầu tư. Rõ ràng đứng ở một khía cạnh nào đó
định nghĩa này cũng phản ánh bản chất của hoạt động xúc tiến đầu tư.
Công tác xúc tiến đầu tư là hoạt động rất đa dạng và ngày càng trở nên quan
trọng đối với mỗi quốc gia trong hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Công
tác xúc tiến đầu tư không chỉ gói gọn là việc mở rộng thị trường trong nước cho các
SVTH Võ Thị Liên Lớp KTĐT B

điều kiện tự nhiên, trình độ phát triển kinh tế,..Ổn định chính trị là yếu tố quan trọng
hàng đầu đối với sự thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Bởi nó đảm bảo việc thực
hiện các cam kết của chính phủ trong các vấn đề sở hữu vốn đầu tư, hoạch định các
chính sách ưu tiên, định hướng phát triển đầu tư của một nước, ổn định chính trị sẽ
tạo ra sự ổn định về kinh tế xã hội và giảm bớt độ rủi ro cho các nhà đầu tư nước
ngoài. Quá trình đầu tư liên quan đến nhiều lĩnh vực hoạt động trong một thời gian
SVTH Võ Thị Liên Lớp KTĐT B
7
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD TS Phạm Văn Hùng
dài, nên môi trường pháp lý ổn định và có hiệu lực là một yếu tố quan trọng để quản
lý và đầu tư một cách có hiệu quả. Môi trường này bao gồm các chính sách, quy định,
luật cần thiết đảm bảo sự nhất quán, không mâu thuẫn, chồng chéo nhau và có tính
hiệu lực cao. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên đó là những yếu tố như khí hậu, tài
nguyên, dân số…liên quan đến việc lựa chọn lĩnh vực đầu tư và khả năng sinh lời của
dự án. Khí hậu khắc nghiệt, nhiệt đới gió mùa sẽ ảnh hưởng không tốt đối với các
loại máy móc có xuất xứ từ phương Tây. Nguồn nguyên liệu dồi dào và phong phú sẽ
thu hút các nhà đầu tư vì giảm vì giảm chi phí và giá thành. Dân cư đông đúc sẽ cung
cấp lao động với giá ưu đãi và là thị trường tiêu thụ tiềm năng. Trình độ phát triển
kinh tế của một quốc gia ảnh hưởng rất nhiều đến việc thu hút và hiệu quả sử dụng
vốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt là FDI. Các yếu tố về ngôn ngữ, tôn giáo, phong tục
tập quán, thị hiếu thẩm mỹ, hệ thống giáo dục đạo đức cũng có tác động không nhỏ
tới việc lựa chọn lĩnh vực đầu tư. Sự bất đồng về ngôn ngữ và văn hóa trong một số
trường hợp đã mang lại những hậu quả không lường trong kinh doanh. Tâm lý của
các nhà đầu tư là không muốn đầu tư vào một quốc gia hay một địa phương có quá
nhiều phong tục tập quán khác nhau, nhiều lễ hội, nhiều điều kiêng kỵ bởi điều này
sẽ khiến cho họ khó hòa nhập và không thuận lợi trong việc kinh doanh của họ.
 Giới thiệu chính sách ưu đãi mà bên xúc tiến sẽ áp dụng cho các nhà đầu
tư khi thực hiện công cuộc đầu tư: chính sách ưu đãi về thuế (thuế thu
nhập doanh nghiệp), chính sách ưu đãi về đất đai…
Khi quyết định đầu tư vào một quốc gia, một địa phương các nhà đầu tư rất

đầu tư
 Theo dõi đánh giá hiệu quả và kết quả các hoạt động đầu tư đã xúc tiến
 Tham gia phân bổ và quản lý các nguồn vốn đầu tư vào địa phương nơi
mình hoạt động
 Tổng hợp và xây dựng danh mục dự án kêu gọi đầu tư
Trên cơ sở Quy hoạch phát triển tổng thế kinh tế - xã hội của thủ đô Hà Nội đã
được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, thành phố đặc biệt là trung tâm xúc tiến đầu tư
đã thực hiện định kỳ xây dựng Danh mục dự án kêu gọi đầu tư nước ngoài với các
thông tin dự án được cập nhật hàng năm và tính khả thi ngày càng được nâng cao, tập
trung vào một số lĩnh vực ưu tiên phát triển, các sản phẩm công nghiệp chủ lực,
ngành dịch vụ, lĩnh vực xây dựng hạ tầng kỹ thuật đô thị…bằng các thứ tiếng khác
nhau để thực hiện công tác xúc tiến đầu tư phù hợp với từng thị trường. Danh mục dự
án kêu gọi đầu tư cả trong nước và nước ngoài đã có tác dụng to lớn trong việc mời
chào, định hướng cho các nhà đầu tư nước ngoài quan tâm nghiên cứu, tham gia vào
thị trường mới là Hà Nội - Việt Nam. Đánh giá sơ bộ cho thấy giai đoạn từ năm 2006
trở về trước từ danh mục dự án kêu gọi đầu tư nước ngoài đã có 15-20% số dự án
được các nhà đầu tư quan tâm phản hồi và từ 2-4% số dự án đã đi đến kết thúc thành
công. Còn từ năm 2007 trở lại đây từ Danh mục dự án kêu gọi đầu tư cả trong và
ngoài nước đã có những phản hồi đối với gần 100% dự án trong Danh mục và nay
các cơ quan Thành phố đang phối hợp với các nhà đầu tư triển khai đầu tư
SVTH Võ Thị Liên Lớp KTĐT B
9
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD TS Phạm Văn Hùng
 Tổ chức, phối hợp tổ chức hội thảo, hội nghị trong và ngoài nước về xúc
tiến đầu tư cho khu vực
1.2.3 Hình thức xúc tiến đầu tư.
Xúc tiến đầu tư có hình thức xúc tiến trực tiếp và xúc tiến gián tiếp. Xúc tiến
đầu tư trực tiếp là xúc tiến đầu tư bằng cách trao đổi và quảng bá các thông tin một
cách trực tiếp cho các nhà đầu tư thông qua các cuộc gặp gỡ, trao đổi, các cuộc hội
thảo, hội chợ…

ngược lại. Do vậy xúc tiến đầu tư góp phần đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài.
- Tham gia vào việc xây dựng các cơ chế chính sách, tạo môi trường thông
thoáng cho hoạt động đầu tư
- Góp phần hình thành khu công nghiệp, khu chế xuất phục vụ hoạt động sản
xuất hàng hóa lớn.
Ngoài việc phát triển cơ sở hạ tầng của toàn xã hội, nước chủ nhà cần xây dựng
những khu vực đặc biệt cung cấp những dịch vụ đầu tư tốt nhất cùng với những điều
kiện ưu đãi cho các nhà đầu tư nước ngoài. Kết quả cuối cùng của công tác xúc tiến
đầu tư là hiệu quả của việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, chúng ta có thể thút
đầu tư nước ngoài nhiều hay không và với chất lượng ra sao. Công tá xúc tiến đầu tư
đã gián tiếp góp phần hình thành các khu chế xuất, khu công nghệ cao. Khu chế xuất
là khu vực địa lý được khoanh vùng với các quy chế đặc biệt tách khỏi các quy định
về thuế quan, thương mại của một nước, trong đó chủ yếu là để phát triển công
nghiệp chế tạo và sản phẩm dùng để xuất khẩu. Những khu chế xuất được hình thành
mang lại hiệu quả to lớn trong việc thu hút đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên đến cuối
những năm 1980 kinh tế của các nhiều nước đang phát triển có xu hướng mở cửa,
bên cạnh đó mối liên kết giữa kinh tế khu chế xuất và khu vực kinh tế khác trong
nước tỏ ra rất yếu ớt nên nhiều nước đã chuyển sang khu công nghiệp và khu công
nghệ cao. Khu công nghiệp là một khu vực địa lý được phân chia và phát triển một
cách hệ thống, theo một kế hoạch tổng thể nhằm cung cấp các dịch vụ kỹ thuật cần
thiết, cơ sở hạ tầng phù hợp với sự phát triển của một liên ngành công nghiệp và sản
phẩm không nhất thiết là cứ phải xuất khẩu. Khu công nghệ cao chủ yếu là để phục
vụ các nhà đầu tư nước ngoài sử dụng những công nghê, dây chuyền sản xuất hiện
đại.
- Tạo ra dòng chảy vốn một cách hợp lý, huy động tối đa mọi nguồn lực của đất
nước
- Tạo điều kiện đầu tư đồng bộ cơ sở hạ tầng phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước
Có thể nói cơ sở hạ tầng (môi trường đầu tư cứng) có vai trò làm nền móng cho

tư trực tiếp nước ngoài. Nhưng sau đó là cơ chế áp dụng một chính sách chung không
có sự phân biệt đối xử giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài.
- Các chiến lược xúc tiến đầu tư
Chiến lược xúc tiến đầu tư là cách thức tổ chức một loạt các hoạt động xúc tiến
đầu tư nhằm tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào một quốc gia hay địa
phương nào đó. Việc thiếu một chiến lược xúc tiến đầu tư đã làm cho công tác xúc
tiến đầu tư ở quốc gia hay một địa phương nào đó đã làm cho công tác xúc tiến đầu
tư thiếu một tầm nhìn dài hạn, có tính hệ thống về các vấn đề liên quan tới công tác
xúc tiến đầu tư như: nội dung của hoạt động xúc tiến đầu tư, hệ thống các công cụ
xúc tiến đầu tư, mô hình tổ chức xúc tiến đầu tư, bố trí nguồn nhân lực cho công tác
xúc tiến đầu tư. Có một chiến lược xúc tiến đầu tư tốt mang tính dài hạn có tác động
SVTH Võ Thị Liên Lớp KTĐT B
12
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD TS Phạm Văn Hùng
tích cực đến hiệu quả xúc tiến đầu tư. Hoạt động xúc tiến đầu tư bao gồm 3 nhóm
hoạt động chính: tạo dựng hình ảnh, tập trung vận động các nhà đầu tư tiềm năng,
cung cấp các dịch vụ đầu tư
+ Tạo dựng hình ảnh là nhóm hoạt động đi đầu trong chiến lược xúc tiến đầu tư.
Các biện pháp tạo dựng hình ảnh được sử dụng trong cả thị trường trong nước và
nước ngoài nhằm cung cấp cho các nhà đầu tư thông tin đầy đủ về môi trường đầu tư,
chính sách, chế độ đãi ngộ, các yêu cầu thủ tục…của địa phương hay quốc gia mà
các nhà đầu tư muốn đầu tư. Các hoạt động tạo dựng hình ảnh rất phong phú và đa
dạng như in ấn và phát hành các ấn phẩm, sách báo, tạp chí, đĩa, tờ rơi…tổ chức các
buổi hội thảo, tiến hành các hoạt động PR và quảng cáo. Sau bước tạo dựng hình ảnh
là tập trung vận động các nhà đầu tư có tiềm năng và cung cấp các dịch vụ đầu tư. Ba
hoạt động này không thể tách rời và chúng được thực hiện tuần tự hay đan xen nhau
nhằm nâng cao hiệu quả xúc tiến đầu tư.
+ Tập trung vận động các nhà đầu tư tiềm năng
Khâu này đòi hởi phải sử dụng đến các công cụ như thư từ, điện thoại, các cuộc
gặp gỡ, hội thảo tiến hành marketing trực tiếp đến các nhà đầu tư. Những hoạt động

song có thể phân chia thành 2 nhóm chính: Giúp đỡ nhà đầu tư giải quyết các vấn đề
phát sinh trong quá trình thực hiện dự án; Cung cấp các dịch vụ giá trị gia tăng
Ba hoạt động trên có vai trò hết sức quan trọng và ảnh hưởng tới chất lượng
công tác xúc tiến đầu tư. Kết quả của một hoạt động tốt sẽ dẫn tới kết quả của hai
hoạt động còn lại cũng tốt và ngược lại. Trọng tâm của các hoạt động này phụ thuộc
vào từng quốc gia, địa phương và từng thời kỳ cụ thể để đáp ứng được yêu cầu của
thực tiễn.
- Cơ quan thực thi chính sách xúc tiến đầu tư
Ngày nay hầu hết các quốc gia đều đã chuyển từ giai đoạn đầu của xúc tiến đầu
tư là chủ yếu liên quan đến việc mở cửa thị trường đối với các nhà đầu tư nươc ngoài
sang giai đoạn hai là tích cực thu hút nguồn vốn FDI chảy vào đất nước, địa phương
mình. Kết quả của xu hướng này là các trung tâm xúc tiến đầu tư của các quốc gia,
địa phương lần lượt được ra đời nhằm nâng cao hiệu quả công tác xúc tiến đầu tư để
thu hút ngày càng nhiều vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Các cơ quan thực thi chính
sách xúc tiến đầu tư đều là các cơ quan của Nhà nước vì đây không phải là họt động
lấy thu bù chi, mọi chi phí cho hoạt động xúc tiến đầu tư đều được lấy từ ngân sách
của quốc gia, của địa phương.
Thực tiễn cho thấy một chính sách đầu tư hợp lý đi cùng với một chiến lược xúc
tiến đầu tư năng động và được tiến hành bởi một cơ quan chuyên nghiệp sẽ làm nên
thành công của hoạt động xúc tiến đầu tư. Hoạt động xúc tiến đầu tư thành công sẽ
đưa lại kỳ vọng tốt cho thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
1.3 Một số kinh nghiệm tuyên truyền, vận động xúc tiến đầu tư của các
nước.
Một số kinh nghiệm của Chính phủ Nhật Bản về xúc tiến đầu tư. Chính phủ
Nhật Bản mở các cơ quan đại diện của Chính phủ ở nước ngoài giúp các doanh
SVTH Võ Thị Liên Lớp KTĐT B
14
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD TS Phạm Văn Hùng
nghiệp trong nước tổ chức các triển lãm và tham gia hội chợ ở nước ngoài. Năm 1954
thành lập tổ chức ngoại thương Nhật Bản (JETRO) hoạt động phi lợi nhuận, là cơ

tham gia liên doanh hoạt động ngân hàng thương mại.
SVTH Võ Thị Liên Lớp KTĐT B
15
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD TS Phạm Văn Hùng
SVTH Võ Thị Liên Lớp KTĐT B
16
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD TS Phạm Văn Hùng
Chương II: Thực trạng công tác xúc tiến đầu tư và thu hút
đầu tư nước ngoài tại thủ đô Hà Nội.
1.1 Một vài nét về thủ đô Hà Nội
Hà Nội thủ đô nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là trung tâm đầu não
chính trị văn hóa khoa học kỹ thuật đồng thời là trung tâm lớn về kinh tế xã hội.
Trong công cuộc đổi mới và phát triển đất nước Hà Nội có súc hút các nguốn
lực phát triển trong và ngoài nước, có ảnh hưởng tích cực đến toàn bộ nền kinh tế
trước hết là đồng bằng Bắc Bộ.
Hà Nội có vị trí địa lý thuận lợi, nằm trung tâm đồng bằng sông Hồng, giáp với
các tỉnh Thái Nguyên, Hưng Yên, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải Dương, Vĩnh Phúc và
Hòa Bình. Ngoài các con sông lớn chảy qua như sông Hồng và sông Đuống, Hà Nội
còn có các sông nhỏ như: sông Nhuệ, Kim Ngưu…Hà Nội có rất nhiều hồ lớn nhỏ.
Nguồn nước mặt nước ngầm của Hà Nội là khá dồi dào, chất lượng tốt đảm bảo cho
sinh hoạt và sản xuất công nghiệp cũng như nông nghiệp.
Các điều kiện về vị trí địa lý, các yếu tố tự nhiên có liên quan đến việc lực chọn
lĩnh vực để đầu tư cũng như khả năng sinh lời của dự án. Hà Nội có vị trí thuận lợi,
khí hậu tương đối thuận lợi không ảnh hưởng nhiều tới tuổi thọ của các máy móc đến
từ các nước khác.
Hệ thống điện ổn định, gần nhà máy điện Hòa Bình và nhà máy nhiệt điện Phả
Lại, mạng lưới điện rộng khắp được nâng cấp và bảo dưỡng thường xuyên đảm bảo
cunga cấp điện liên tục và ổn định phục vụ sinh hoạt của nhân dân cũng như phục vụ
sản xuất. Bên cạnh hệ thống điện thì hệ thống thông tin liên lạ cũng được trang bị
hiện đại và được hòa mạng với hệ thống viến thông toàn cầu phục vụ nhu cầu giải trí

doanh nghiệp. Điều này tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có thể tuyển được người
giỏi mà tiết kiệm được chi phí đào tạo, tránh gây tâm lý không tốt cho các nhà đầu tư
khi quyết định tuyển dụng lao động. Điều này cũng góp phần tích cực trong hoạt
động thu hút vốn đầu tư trực tiếp nươc ngoài.
Tốc độ tăng trưởng GDP hằng năm của Hà Nội khoảng 11% cao hơn 3% tốc độ
trung bình của cả nước. Mức thu nhập bình quân đầu người cao và ổn định hàng năm
với GDP bình quân là 18,2 triệu VND/người/năm. Với mức thu nhập ngày càng cao
góp phần cải thiện đời sống nhân dân, cải thiện bộ mặt thủ đô vươn lên thành một thủ
đô có tên tuổi trên thế giới. Thị trường rộng lớn với dân số khoảng 6,3 triệu người tạo
điều kiện thuận lợi trong khâu tiêu thụ sản phẩm, và đây là một thị trường đầy tiềm
năng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có cơ hội phát triển. Ngoài ra trên địa bàn
Hà Nội các dịch vụ tài chính ngân hàng, tín dụng và bảo hiểm cũng khá phát triển
cung cấp các dịch vụ nhanh chóng thuận tiện cho các nhà đầu tư trong việc giao dịch
và thành toán tiết kiệm được nhiều chi phí trung gian.
Hà Nội còn là nơi tập trung nhiều doanh nghiệp, các làng nghề thủ công truyền
thống có khả năng mở rộng phát triển trên cơ sở đầu tư trang thiết bị mới và hiện đại.
Nhất là sau khi có sự mở rộng địa giới hành chính, Hà Nội có thêm rất nhiều làng
SVTH Võ Thị Liên Lớp KTĐT B
18
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD TS Phạm Văn Hùng
nghề truyền thống với những sản phẩm hết sức độc đáo và có giá trị đem lại hiệu quả
kinh tế cao.
Như vậy có thể nói Hà Nội là một địa chỉ khá hấp dẫn cho các nhà đầu tư khi
quyết định đầu tư vào Việt Nam với nhiều điều kiện thuận lơi cả về đầu vào lẫn đầu
ra. Tuy nhiên hòa theo xu thế chúng của cả nước quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa thủ đô đòi hỏi cần có một khối lượng vốn khổng lồ mà nếu chỉ dựa vào các
nguồn vốn trong nước thì không đủ. Hà Nội cần tập trung và khai thác có hiệu quả
các nguồn vốn bên ngoài phục vụ cho công cuộc phát triển kinh tế trong đó FDI đóng
một vai trò khá quan trọng và chiếm một tỷ trọng lớn. Thu hút đầu tư trực tiếp nước
ngoài sẽ tạo động lực để phát triển kinh tế thủ đô, giúp Hà Nội trở thành trung tâm

động XTĐT được xác định tại các văn bản pháp luật vẫn với tính thần gắn hoạt động
đầu tư vào giai đoạn hành thành dự án. Nói cách khác hoạt động XTĐT được xem
như một giai đoạn tiền dự án và chấm dứt hiệt lực khi dự án được cấp Giấy chứng
nhận đầu tư.
Từ năm 2005 với sự ra đời của Luật đầu tư thay thế cho Luật đầu tư nước ngoài
và Luật khuyến khích đầu tư trong nước, công tác XTĐT có bước chuyển biến quan
trọng theo hướng tăng cường tính chủ động từ khâu xây dựng chương trình, kế hoạch
đầu tư đến khâu tổ chức thực hiện, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt
động xúc tiến đầu tư. Công tác xúc tiến đầu tư ngày càng có sự kết hợp chặt chẽ với
các hoạt động ngoại giao, xúc tiến thương mại và du lịch.
Hoạt động xúc tiến đầu tư tại thủ đô Hà Nội đã được tiến hành từ lâu với sự
tham gia của Bộ, Ngành, doanh nghiệp trung ương cũng như các doanh nghiệp trên
địa bàn thành phố. Công tác xúc tiến đầu tư gắn liền trong hoạt động quản lý và vận
động thu hút các nguồn vốn đầu tư trong nước và nước ngoài tại các phòng chuyên
môn của Sở Kế hoạch và đầu tư. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng
như hiện nay, tình hình kinh tế có nhiều biến động các quốc gia đang cạnh tranh gay
gắt nhằm huy động vốn đầu tư nước ngoài nhằm giải quyết bài toán thiếu hụt vốn
trong đầu tư và phát triển kinh tế. Nguồn vốn nước ngoài vào Việt Nam nói chung và
Hà Nội nói riêng chưa nhiều và ổn định do môi trường đầu tư chưa thực sự thông
thoáng để hấp dẫn các nhà đầu tư, tính cạnh tranh kém so với một số nước trong khu
vực nhất là Trung Quốc.
Trước đây công tác xúc tiến đầu tư trên địa bàn thành phố không được quy về
một mối, hoạt động xúc tiến đầu tư còn thiếu tính chuyên nghiệp, thiếu mục tiêu dài
hạn, còn dàn trải, chưa tập trung vào một số ngành, lĩnh vực và đối tác tiềm năng.
Các phòng ban hoạt động độc lập, riêng rẽ không liên kết với nhau nên hiệu quả vận
động thu hút các nguồn vốn nước ngoài vào Hà Nội chưa thực sự đem lại hiệu quả
như mong muốn.
Trước tình hình đó, nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của việc thống
nhất hoạt động xúc tiến đầu tư của thành phố đặc biệt là đẩy mạnh công tác thu hút
các nguồn vốn đầu tư quốc tế trong phát triển kinh tế, đồng thời đưa công tác xúc tiến

- Xây dựng chiến lược, kế hoạch, chính sách thu hút đầu tư trong và ngoài nước
của thành phố Hà Nội;
- Thực hiện chương trình tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu, cung cấp thông tin
về môi trường đầu tư, tiềm năng và cơ hội của thành phố Hà Nội;
- Xây dựng danh mục các dự án thu hút vốn đầu tư của thành phố phù hợp với
quy hoạch, định hướng phát triển kinh tế-xã hội của thành phố trong từng thời kỳ.
Giúp giám đốc Sở thực hiện việc tổ chức đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư đối với dự án
do UBND thành phố giao;
SVTH Võ Thị Liên Lớp KTĐT B
21
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD TS Phạm Văn Hùng
- Tổ chức xúc tiến đầu tư trong và ngoài nước để vận động, hướng dẫn, hỗ trợ
các nhà đầu tư tìm hiểu chính sách, quy định pháp luật về đầu tư và lực chọn lĩnh
vực, địa điểm thực hiện dự án đầu tư trên địa bàn thành phố;
- Phát triển hợp tác quốc tế với các tổ chức xúc tiến đầu tư trong nước và nước
ngoài nhằm đẩy mạnh hoạt động xúc tiến đầu tư của thành phố;
- Phối hợp với các cơ quan có chức năng tổ chức đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ
giúp các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân nâng cao năng lực trong hoạt động có liên
quan đến chức năng và nhiệm vụ được giao;
- Trung tâm được cung cấp các dịch vụ có thu bao gồm: Cung cấp thông tin liên
quan đến dự án đầu tư, tổ chức đón tiếp, tư vấn pháp luật, lập hồ sơ dự án, hỗ trợ các
doanh nghiệp, phiên dịch và các dịch vụ khác theo yêu cầu của nhà đầu tư và các tổ
chức có liên quan;
- Quản lý cán bộ, viên chức, quản lý tài sản và chi tiêu các nguồn vốn được giao
theo đúng chế độ, chính sách quy định của nhà nước và thành phố;
- Thực hiện các nhiệm vụ khác khi UBND thành phố giao và Giám đốc Sở Kế
hoạch và Đầu tư Hà Nội phân công.
Tuy nhiên do có sự thay đổi lớn về địa giới hành chính của thành phố Hà Nội,
hệ thống cơ chế chính sách của Hà Nội sau khi hợp nhất chưa được thể chế hóa nên
hiệu quả về đầu tư, chất lượng tăng trưởng kinh tế của thủ đô Hà Nội còn chưa được

ngân sách của thành phố cho hoạt động xúc tiến đầu tư. Đồng thời thành phố cũng đã
nghiên cứu ban hành nhiều cơ chế, chính sách khuyến khích xúc tiến đầu tư, đẩy
mạnh đầu tư của doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội. Công tác vận động, thu hút đầu
tư nhất là đầu tư nước ngoài được tiến hành đồng bộ hơn, chủ động hơn và mạng lại
hiệu quả cao hơn. Ngoài việc xây dựng, hoàn thiện cơ chế chính sách: cái cách thủ
tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, xây dựng hoàn thiện cơ sở hạ tầng tạo
điều kiện huy động nguồn vốn đầu tư từ các thành phần kinh tế thì việc tuyên truyền,
cung cấp thông tin về môi trường đầu tư là hết sức thiết thực, cần đi liền với hoạt
động xúc tiến đầu tư của thành phố. Nhiều đơn vị đã chủ động nghiên cứu xây dựng
cơ chế, chính sách, tổ chức các khóa tập huấn, hội thảo…góp phần đẩy mạnh thu hút
đầu tư nước ngoài vào phát triển kinh tế - xã hội thủ đô. Chương trình xúc tiến đầu tư
những năm qua đã thu được những kết quả bước đầu đóng góp một phần không nhỏ
trong hoạt động thu hút hút đầu tư trực tiếp nước ngoài.
a) Công tác quy hoạch
Theo quyết định của Chính phủ từ ngày 01/08/2008 Hà Nội (mới) chính thức
mở rộng địa giới hành chính thêm tỉnh Hà Tây (cũ), một số huyện Lương Sơn của
tỉnh Hòa Bình. Diện tích Hà Nội mới của Hà Nội sau khi được mở rộng là 3400 km
2
,
dân số 6,3 triệu người. Với việc mở rộng địa giới hành chính cũng đồng nghĩa với
việc phải điều chỉnh lại quy hoạch thành phố sao cho phù hợp với tình hình thực tế.
Công tác quy hoạch phải đi trước một bước nhằm tạo điều kiện có địa điểm kêu gọi
đầu tư để công bố công khai. Trước tình hình đó trung tâm xúc tiến đầu tư đã khẩn
SVTH Võ Thị Liên Lớp KTĐT B
23

Trích đoạn Sai Don gA hi-tech Industrial zone
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status