’Quản lý chiến lựợc trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam: thực trạng và giải pháp - Pdf 32

Lời mở đầu
Doanh nghiệp nhỏ và vừa là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt
vốn, lao động hoặc doanh thu. Tuy nhiên, ngược lại với quy mô của mình, các
doanh nghiệp này lại đóng một vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của
nền kinh tế. Trước hết, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường chiếm một tỷ trọng
lớn và thậm chí là áp đảo trong tổng số doanh nghiệp, cụ thể như ở Việt Nam là
trên 95%, vì thế, đóng góp của họ vào tổng sản lượng và tạo việc làm là rất đáng
kể. Hơn nữa, các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn đóng vai trò giữ ổn định cho nền
kinh tế. Ở phần lớn các nền kinh tế, các doanh nghiệp nhỏ và vừa là những nhà
thầu phụ cho các doanh nghiệp lớn. Sự điều chỉnh hợp đồng thầu phụ tại các thời
điểm cho phép nền kinh tế có được sự ổn định. Vì thế, doanh nghiệp nhỏ và vừa
được ví là thanh giảm sốc cho nền kinh tế. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp này còn
góp phần làm cho nền kinh tế năng động hơn, bởi quy mô nhỏ nên rất dễ điều
chỉnh. Đặc biệt, doanh nghiệp vừa và nhỏ tạo nên ngành công nghiệp và dịch vụ
phụ trợ quan trọng do các doanh nghiệp này thường chuyên môn hóa vào sản xuất
một vài chi tiết được dùng để lắp ráp thành một sản phẩm hoàn chỉnh. Và cuối
cùng, những doanh nghiệp này là trụ cột của kinh tế địa phương. Nếu như doanh
nghiệp lớn thường đặt cơ sở ở những trung tâm kinh tế của đất nước, thì doanh
nghiệp nhỏ và vừa lại có mặt ở khắp các địa phương và là người đóng góp quan
trọng vào thu ngân sách, vào sản lượng và tạo công ăn việc làm ở địa phương. Qua
một số phân tích sơ qua như trên, chúng ta đã nhận thấy đựợc các doanh nghiệp
vừa nhỏ đóng một vai trò quan trọng như thế nào trong việc giữ vững ổn định
cũng như trong tiến trình phát triển của nền kinh tế quốc gia.
Trong bối cảnh hiện nay, khi mà Việt Nam đã gia nhập tổ chức thương mại thế
giới WTO, thị trường thế giới đã mở rộng cửa hơn cho sản phẩm của các doanh
1
nghiệp vừa và nhỏ. Tuy nhiên, để tận dụng được cơ hội này và bên cạnh đó là
vượt qua không ít những thách thức trước mắt như khó khăn về tín dụng, sự đe
dọa của các công ty nước ngoài,… là một điều không dễ dàng do những hạn chế
của nhóm doanh nghiệp này, đó là quy mô nhỏ, chi phí sản xuất cao, chất lượng
sản phẩm chưa cao, thiếu mạng lưới phân phối, và đặc biệt đó là thiếu một chiến

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu cụ thế là các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn
thành phố Hà Nội, trong khuôn khổ công tác quản lý chiến lược và những yếu tố
có ảnh hưởng.
Kết cấu đề tài nghiên cứu:
Phù hợp với đối tượng, mục đích và phạm vi nghiên cứu nêu trên, bố cục của
đề tài được chia làm ba chương.
Chương 1: ‘’ Lý luận chung về chiến lược và quản lý chiến lược kinh doanh
của doanh nghiệp ’’. Chương này sẽ tập trung nêu những nét khái quát chung về
chiến lược kinh doanh và quy trình quản lý chiến lược kinh doanh, giúp người đọc
nắm được những nét cơ bản về lý thuyết quản trị chiến lược.
Chương 2: ‘’ Thực trạng về quản lý chiến lược tại các doanh nghiệp vừa và
nhỏ ở Việt Nam’’. Nội dung của chương này là nêu bật thực trạng cùng với những
ưu nhược điểm của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong công tác quản lý chiến
lược.
3
Chương 3: ‘’ Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chiến lược tại
các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam’’. Chương cuối cùng này sẽ đưa ra một số
giải pháp nhằm khắc phục những nhược điểm trong công tác quản lý chiến lược ở
nhóm công ty này.
Tuy nhiên, do sự hạn chế về kiến thức, kinh nghiệm thực tiễn cũng như sự
giới hạn về thời gian, bài viết của em chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót
cả về nội dung lẫn hình thức. Em rất mong nhận được những ý kiến đánh giá, phê
bình quý báu của các thầy cô giáo để bài viết được hoàn thiện và có ý nghĩa thực
tiễn hơn. Em xin cảm ơn!

4
Chương 1: Lý luận chung về chiến lược và quản lý chiến lược
1. Khái quát chung về chiến lược và quản lý chiến lược
1.1. Khái niệm chiến lược

các chính sách".
• Theo Alfred Chandle: "chiến lược kinh doanh bao hàm việc ấn định các
mục tiêu cơ bản của đơn vị kinh doanh, đồng thời lựa chọn cách thức
hay tiến trình hành động và phân bổ các nguồn lực thiết yếu để thực
hiện các mục tiêu đó".[1]
Sở dĩ có nhiều cách tiếp cận như vậy là do các nhà khoa học nhìn nhận
chiến lựợc dưới các vị trí và góc độ khác nhau.
Hiện nay ở Việt Nam quan niệm đang được sử dụng rộng rãi đó là: "chiến
lược kinh doanh của doanh nghiệp là tổng hợp các mục tiêu dài hạn, các chính
sách và giải pháp lớn về sản xuất kinh doanh, về tài chính và vấn đề giải quyết
nhân tố con người nhằm đưa hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phát triển
lên một trạng thái mới cao hơn về chất".
1.2. Phân loại chiến lược kinh doanh.
6
Do sự đa dạng trong ngành nghề kinh doanh, chiến lược cũng rất đa dạng
và phong phú.
• Căn cứ vào phạm vi chiến lược gồm hai loại chính sau: chiến lược tổng
quát và chiến lược bộ phận.
Chiến lược tổng quát:
Đây là chiến lược quy định những vấn đề sống còn của doanh nghiệp, đề cập
tới những vấn đề quan trọng nhất, bao quát nhất và có ý nghĩa lâu dài. Nó bao
gồm:
+ Chiến lược tăng trưởng (tập trung)
+ Chiến lược liên doanh liên kết
+ Chiến lược hướng ngoại
....
Chiến lược bộ phận:
Đây là chiến lược được xây dựng cho các bộ phận, phân hệ của doanh nghiệp.
Nó dựa trên cơ sở của chiến lược tổng quát, là sự phân nhỏ chiến lược tổng quát
và đúng vai trũ hỗ trợ cho chiến lược tổng quát (liên quan đến các phòng ban chức

hiện bằng các giải pháp, công cụ hữu hiệu.
+ Phải định hướng rõ ràng cho các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Chiến lược được xây dựng dựa trên nhiều căn cứ khác nhau, mục đích khác
nhau nhưng đều có hai phần: chiến lược tổng quát và chiến lược bộ phận.
• Nội dung của chiến lược tổng quát.
Nội dung của chiến lược tổng quát chứa đựng những mục tiêu chung của toàn
doanh nghiệp. Mục tiêu của chiến lược tổng quát là điểm đến của các mục tiêu
nhỏ, mục tiêu của các bộ phận, phân hệ trong doanh nghiệp.[1] Trong một doanh
8
nghiệp thường có những mục tiêu tăng trưởng, phát triển, chủng loại sản phẩm....
Tuy nhiên các doanh nghiệp thường tập trung vào ba mục tiêu chính sau:
+ Khả năng sinh lợi: Mục tiêu cuối cùng, động lực cho các doanh nghiệp tham
gia vào thị trường là lợi nhuận (không những là lợi nhuận về kinh tế mà còn là lợi
ích xã hội đối với các tổ chức xã hội)[2]. Do đó điều đầu tiên, trước khi thành lập
doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp phải tính đến khả năng sinh lợi của doanh nghiệp
mình quản lý. Lợi nhuận, trên giác độ kinh tế, là sự chênh lệch giữa tổng doanh
thu và tổng chi phí. Như vậy để có được lợi nhuận lớn nhất thì sẽ có hai mục tiêu
khác là tối đa hoá doanh thu và tối thiểu hoá chi phí, tuy nhiên giữa doanh thu và
chi phí lại có mối quan hệ rất mật thiết, có thể là cùng chiều (tăng chi phí mới tăng
doanh thu), cũng có thể là ngược chiều (giảm chi phớ mới tăng doanh thu). Trong
chiến lược kinh doanh mục tiêu lợi nhuận được cụ thể bằng các mục tiêu sau: lợi
nhuận ròng, tỷ suất lợi nhuận, tốc độ tăng của lợi nhuận, tỷ lệ lợi nhuận trên một
đơn vị doanh thu....
+ Uy tín, thế, lực của doanh nghiệp: Đây là tài sản vô hình của doanh nghiệp
sau một thời gian hoạt động. Một doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả sẽ làm
tăng uy tín với khác hàng, tăng thế, lực trên thị trường so với các đối thủ cạnh
tranh. Nó được đo bằng thị phần của doanh nghiệp, bằng tỷ trọng hàng hoá - dịch
vụ của doanh nghiệp so với toàn ngành.[2]
+ An toàn trong kinh doanh: Doanh nghiệp luôn phải tính đến những tình
huống xấu nhất có thể xảy ra nhằm có những giải pháp dự phòng khắc phục hậu

phẩm dịch vụ có lợi thế so sánh, có khả năng cạnh tranh cao để tung ra thị trường
nước ngoài. Cũng có thể tiến hành liên doanh, liên kết. Đây là thị trường hấp dẫn
10
nhưng đầy thử thách cho các doanh nghiệp do đây là thị trường có yêu cầu cao về
chất lượng cũng như mẫu mã sản phẩm.
+ Chiến lược huy động và sử dụng vốn: Môi trường luôn luôn biến động, để
đảm bảo nguồn lực mở rộng quy mô, đòi hỏi doanh nghiệp phải có chiến lược
đúng đắn nhằm huy động vốn nhanh chóng, đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh,
đặc biệt là nhu cầu nhập công nghệ cao đòi hỏi nhiều vốn ban đầu.
Doanh nghiệp có thể tiến hành huy động theo các hướng sau: vay vốn ngân
hàng, liên doanh, liên kết, cổ phần hoá.... Song song với quá trình huy động vốn
doanh nghiệp phải sử dụng vốn một cách có hiệu quả nhất, tiết kiệm nhất.
+ Chiến lược marketing hỗn hợp: Chiến lược marketing không thể thiếu trong
chiến lược kinh doanh, chiến lược marketing nhằm giới thiệu và đưa sản phẩm
dịch vụ đến người tiêu dùng. Chiến lược marketing hỗn hợp sẽ phải làm khách
hàng từ chưa biết sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp đến biết, thích sử dụng, và
tiến đến mua sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp, nó gợi mở nhu cầu của người
tiêu dùng[1]. Nó bao gồm các chiến lược nhỏ sau:
* Chiến lược sản phẩm.
* Chiến lược giá.
* Chiến lược phân phối.
* Chiến lược giao tiếp khuyếch trương.
+ Chiến lược phát triển công nghệ: Ngày nay vai trò của công nghệ ngày càng
được khẳng định là bậc nhất, là lợi thế cạnh tranh mạnh mẽ nhất. Công nghệ ở đây
không chỉ là máy móc mà còn là công nghệ quản lý. Nhưng công nghệ càng cao
đòi hỏi lượng vốn càng lớn, trình độ cao. Do đó để thực hiện tốt chiến lược công
nghệ cần thực hiện tốt chiến lược huy động vốn và chiến lược phát triển con
người.
11
Trên đây là những chiến lược phổ biến nhất mà các doanh nghiệp cần phải

những lĩnh vực và hoạt động chức năng khác nhau của tổ chức. Các chiến lược của
tổ chức không đựợc thực hiện và xây dựng biệt lập [5]. Những chức năng khác
nhau ( như marketing, sản xuất, nghiên cứu và phát triển,…) và thậm chí là các
cấp tổ chức cần phối hợp với nhau để xây dựng những chiến lược hiệu quả. Cuối
cùng, đặc điểm để phân biệt quản lý chiến lược đó là quan tâm đến sự lựa chọn
đường lối tương lai của tổ chức.
Như vậy, khi các nhà quản lý đánh giá tình hình bên trong, bên ngoài và quyết
định những hành động nào cần thực hiện trong tương lai, họ đã áp dụng quản lý
chiến lược. Sau đây, chúng ta sẽ xem xét quá trình cụ thể của việc thực hiện quản
lý chiến lược.
1.5. Vai trò của quản lý chiến lược
Nhiều công ty Việt Nam, nhất là những công ty nhỏ nhưng phát triển
nhanh, thường bị cuốn vào vòng xoáy của công việc phát sinh hàng ngày - những
công việc liên quan đến sản xuất hoặc mua hàng, tìm kiếm khách hàng, bán hàng,
giao hàng, thu tiền, quản lý hàng tồn, công nợ… Hầu hết những việc này được giải
quyết theo yêu cầu phát sinh, xảy ra đến đâu, giải quyết đến đó, chứ không hề
được hoạch định một cách bài bản, quản lý một cách có hệ thống hoặc đánh giá
hiệu quả một cách khoa học [11].
Việc thực hiện theo sự vụ đã chiếm hết thời gian của các cấp quản lý nhưng vẫn bị
rối và luôn luôn bị động. Quản trị viên cấp cao, nhất là các giám đốc điều hành,
thường bị công việc sự vụ “dẫn dắt” đến mức “lạc đường” lúc nào không biết.
Như người đi trong rừng, không có định hướng rõ ràng, chỉ thấy ở đâu có lối thì
đi, dẫn đến càng đi, càng bị lạc. Quản trị chiến lược giúp tổ chức, doanh nghiệp
13
xác định rõ ràng được mục tiêu, hướng đi, vạch ra các con đường hợp lý và phân
bổ các nguồn lực một cách tối ưu để đảm bảo đi đến mục tiêu đã định trong quỹ
thời gian cho phép.
Mục tiêu tổ chức được xác định trên cơ sở các phân tích rất cẩn trọng và khoa
học về tình hình thị trường, khách hàng, xu thế tiêu dùng, đối thủ cạnh tranh, sự
thay đổi về công nghệ, môi trường pháp lý, tình hình kinh tế xã hội, những điểm

loại hoạch định này vẫn tồn tại trong các tổ chức lớn. Đồng thời, một số doanh
nghiệp nhỏ vẫn có quy trình hoạch định tinh vi và các kế hoạch chính thức. Trong
hoạch định chính thức, các mục tiêu cụ thể cho một năm được xác định. Các mục
tiêu này được viết ra và chia sẻ với các thành viên khác trong tổ chức. Cuối cùng,
các chương trình hoạt động cụ thể được phát triển để thực hiện các mục tiêu, tức là
các nhà quản trị xác định rõ ràng con đường mà họ lựa chọn để đưa tổ chức và các
bộ phận khác nhau từ nơi họ đang đứng đến nơi họ muốn đến.
2.1.2 Vai trò của hoạch định chiến lược
Việc thiết lập mục tiêu, xây dựng chiến lược và phát triển hệ thống kế hoạch
để phối hợp các hoạt động có thể trở nên rất khó khăn. Tuy nhiên, đó lại là bước
thiết yếu không thể bỏ quan để đi đến thành công bởi những lí do sau.
Trước hết, hoạch định giúp định hướng, giảm thiểu những ảnh hưởn của sự
thay đổi, giảm thiểu sự lãng phí thừa thãi và định các tiêu chuẩn cho quá trình
kiểm soát.
15
Thứ hai, hoạch định thiết lập nỗ lực được điều phối. Nó định hướng cho các
nhà quản trị cũng như các thành viên khác trong tổ chức. Khi tất cả các thành viên
đều xác định được hướng đi của tổ chức và những gì họ có thể làm để đóng góp
cho tổ chức của mình thì họ có thể hợp tác với nhau. Ngược lai, nếu không có
công tác hoạch định thì các phòng ban sẽ làm việc chồng chéo, khiến tổ chức khó
có thể đạt được mục tiêu một cách có hiệu quả. Hoạch định giúp ngăn ngừa tình
trạng trùng lắp và lãng phí công việc. Khi các công việc được phối hợp xoay
quanh những kế hoạch đã định sẵn thì việc lãng phí nguồn lực, thời gian và tình
trạng dư thừa sẽ được giảm thiểu tối đa. Hơn nữa, khi các phương pháp thực hiện
và mục tiêu cần thực hiện được xác định rõ ràng qua công tác hoạch định, sựu hoạt
động kém hiệu quả sẽ trở nên dễ nhận biết hơn, có thể kịp thời sửa chữa hoặc loại
bỏ.
Hoạch định cũng hạn chế sự bất ổn vì nó buộc các nhà quản trị phải nhìn xa
trông rộng, dự báo được những thay đổi có thể xảy ra, đánh giá tác động của các
thay đổi đó và chuẩn bị các phương án đối phó thích hợp. Nó cũng buộc các nhà

nào
Công nghệ Tổ chức hiện đang áp dụng công nghệ nào?
Quan tâm đến sự tồn tại, tăng trưởng
và lợi nhuận
Tổ chức có cam kểt đạt được tăng trưởng và ổn
định tài chính không?
Triết lý kinh doanh Niềm tin cơ bản, các giá trị thừa nhận, nguyện
vọng và những ưu tiên về đạo đức kinh doanh của
tổ chức là gì?
Ý niệm về tự thân Lợi thế cạnh tranh và năng lực dặc biệt của tổ
17

Trích đoạn Thực trạng chung của doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam Sự cần thiết phải QLCL tại DNVVN Việt Nam
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status