Nâng cao hiệu quả quản lý thanh khoản trong các ngân hàng thương mại(NHTM)của Việt Nam hiện nay - Pdf 32

MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
KH Khách hàng
NH Ngân hàng
NHTM Ngân hàng thương mại
NHTW Ngân hàng trung ương
NHNN Ngân hàng nhà nước
GTCG Giấy tờ có giá
TCTD Tổ chức tín dụng
CNTT Công nghệ thông tin
LỜI MỞ ĐẦU
Một ngân hàng hoạt động không hiệu quả trong nhiều năm tất nhiên thua
lỗ và sớm dẫn đến nguy cơ phá sản.Nhưng không có gì đảm bảo rằng một ngân
hàng đang hoạt động có lãi thậm chí liên tục đạt lợi nhuận cao trong cả quá trình
lâu đời thì không cùng số phận.
Cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ thời gian qua với sự sụp đổ của các
ngân hàng và tập đoàn tài chính khổng lồ đã cho thấy thị trường tài chính luôn
luôn có nguy cơ đối mặt với nhiều rủi ro.Hơn nữa trong tiến trình toàn cầu hóa
nền kinh tế, mức độ cạnh tranh trong hệ thống ngân hàng thương mại ngày càng
trở nên gay gắt, môi trường kinh doanh tiềm ẩn nhiều rủi ro thì việc giám sát cẩn
trọng hoạt động ngân hàng đang trở nên vô cùng cấp bách.
Các ngân hàng thương mại luôn phải đối mặt với nhiều loại rủi ro khác
nhau.Trong đó loại rủi ro được xem là vấn đề thường nhật đồng thời cũng là một
trong những rủi ro nguy hiểm nhất có tính lây lan và phản ứng dây truyền nhanh
chóng và rộng khắp khiến ngân hàng không có đủ nguồn vốn khả dụng để đáp
ứng khả năng chi trả, có thể làm ngân hàng mất khả năng thanh toán, uy tín và
thậm chí dẫn đến sự đổ vỡ của toàn hệ thống đó là rủi ro thanh khoản. Ngân
hàng có khả năng thanh khoản tốt là ngân hàng không gặp rủi ro thanh khoản
nghĩa là luôn có được nguồn vốn khả dụng với chi phí hợp lý vào đúng thời
điểm mà ngân hàng cần. Tuy nhiên nếu ngân hàng luôn có lượng vốn dữ trữ lớn

Chương II: Thực trạng quản lý thanh khoản trong các NHTM của
Việt Nam hiện nay
Chương III: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý thanh khoản trong
các NHTM của Việt Nam
Do thời gian có hạn với trình độ hiểu biết còn hạn chế nên bài viết khó
tránh khỏi những thiếu sót.Vì vậy em rất mong được sự đóng góp ý kiến của
thầy để đề tài nghiên cứu của em được hoàn thiện hơn.
Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn thầy đã hướng dẫn tận tình cho em
trong suốt quá trình nghiên cứu và viết đề án!
Nguyễn Thị Thu Trang Lớp TCDN 47C
2
Chương I:Tổng quan về quản lý thanh khoản trong các NHTM
1.1.Khái quát về hoạt động thanh khoản tại NHTM
1.1.1.Khái quát về NHTM
NHTM là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền
kinh tế.NHTM là người cho vay chủ yếu đối với hàng triệu hộ tiêu dùng(cá
nhân, hộ gia đình) và với hầu hết cơ quan chính quyền địa phương(thành phố,
tỉnh…).Hơn nữa, đối với các doanh nghiệp nhỏ ở địa phương, từ người bán rau
quả cho tới người kinh doanh ô tô, NHTM là tổ chức cung cấp tín dụng cơ bản
phục vụ cho việc mua hàng hoá dự trữ hoặc mua ô tô trưng bày,...Khi kinh
doanh và người tiêu dùng phải thanh toán cho các khoản mua hàng hóa dịch vụ
họ phải sử dụng séc, thẻ tín dụng hay tài khoản điện tử.Và khi cần các thông tin
tài chính hay cần lập kế hoạch tài chính họ thường tìm đến NHTM để nhận được
lời tư vấn.
Trên toàn thế giới, NHTM là loại hình tổ chức trung gian tài chính cung
cấp các khoản tín dụng trả góp cho người tiêu dùng với quy mô lớn nhất.Trong
mọi thời kỳ, NHTM là một trong những thành viên quan trọng nhất trên thị
trường tín phiếu và trái phiếu do chính quyền địa phương phát hành để tài trợ
cho các công trình công cộng từ những hội trường, sân bóng đá cho đến sân bay
và đường cao tốc.NHTM là một trong những tổ chức tài chính cung cấp vốn lưu

mà đáng chú ý là tình trạng mất khả năng chi trả dẫn đến phá sản đối với một số
ngân hàng lớn của Mỹ năm 2008 đã cho thấy rằng đảm bảo an toàn thanh khoản
là một yêu cầu không thể xem nhẹ.
Quản lý thanh khoản vì vậy trở nên quan trọng hơn bao giờ hết bởi vì
ngân hàng có thể bị đóng cửa nếu như nó không huy động đủ mức thanh khoản
cần thiết dù rằng ngân hàng chưa mất khả năng thanh toán.Ví dụ vào cuối năm
1997, khủng hoảng tài chính đã làm cho nhiều ngân hàng ở Châu Á bị mất hàng
tỷ đôla Mỹ, khách hàng hoảng loạn, các ngân hàng bị mất khả năng chi trả, bị
phá sản hoặc buộc phải sáp nhập.Cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ năm 2008
cùng với sự sụp đổ của một số ngân hàng lớn vừa qua cũng cảnh báo mức độ
quan trọng của việc đảm bảo an toàn thanh khoản trong ngân hàng và vì vậy các
NHTM cần chú trọng quản lý thanh khoản và nâng cao hiệu quả thanh khoản
như một vấn đề thường nhật.Bởi nó liên quan tới sự tồn tại và phát triển của mỗi
ngân hàng và của cả hệ thống.
1.1.2.2.Hoạt động thanh khoản tại NHTM
●Tính thanh khoản của tài sản: Nhà quản lý ngân hàng quan tâm đến tính
thanh khoản của mỗi tài sản và của danh mục tài sản.Tính thanh khoản của mỗi
tài sản chính là khả năng chuyển tài sản thành tiền, được đo bằng thời gian và
Nguyễn Thị Thu Trang Lớp TCDN 47C
4
chi phí.Thời gian và chi phí càng cao tính thanh khoản của tài sản phản ánh rủi
ro(tổn thất) khi chuyển tài sản thành tiền trong khoảng thời gian nhất định.Tuy
nhiên, trong nhiều trường hợp, một tài sản muốn bán nhanh(thời gian chuyển
thành tiền ngắn) thì chi phí(tức tổn thất) lại lớn.Điều này cho thấy tính thanh
khoản của một tài sản phụ thuộc vào nhiều nhân tố và có thể thay đổi theo thời
gian giữa các vùng, các nước.
Ngân hàng nắm giữ danh mục tài sản với tính thanh khoản khác nhau.Kết
cấu tài sản với tính chất thanh khoản khác nhau tạo nên tính thanh khoản của
nhóm tài sản hoặc tổng tài sản.Tính thanh khoản của danh mục tài sản được đo
bằng tỷ lệ của các tài sản có tính thanh khoản cao trên tổng tài sản(hoặc trên tiền

khi nhu cầu thanh khoản thực tế vượt quá khả năng thanh khoản dự kiến.Rủi ro
thanh khoản ở mức ngân hàng phải gia tăng các chi phí để đáp ứng nhu cầu
thanh khoản sẽ làm giảm thu nhập ròng của ngân hàng, ở mức cao hơn NH mất
khả năng thanh khoản sẽ dẫn đến phá sản.
1.2.Nội dung quản lý thanh khoản
1.2.1.Mục tiêu và quy tắc quản lý thanh khoản
1.2.1.1.Xác định mục tiêu quản lý thanh khoản
Thanh khoản có liên quan trực tiếp đến an toàn và sinh lợi của ngân
hàng.Chính vì vậy duy trì an toàn thanh khoản là mục tiêu quan trọng và xuyên
suốt trong quá trình hoạt động của ngân hàng.Và muốn duy trì thanh khoản,
ngân hàng phải chấp nhận một khoản chi phí nhất định.Do vậy, để gia tăng an
toàn thanh khoản, chi phí cũng phải gia tăng và điều này có thể làm giảm thu
nhập của ngân hàng.Ví dụ nếu ngân hàng giữ nhiều ngân quỹ tức khả năng
thanh khoản của ngân hàng tăng thì thu nhập của ngân hàng sẽ giảm sút do ngân
quỹ sinh lời thấp thậm chí không sinh lời chẳng hạn như tiền mặt trong
két.Ngược lại nếu ngân hàng giữ quá ít ngân quỹ thì khi cần phải chi trả, ngân
hàng phải huy động vốn trong trường hợp cấp bách khiến chi phí trả lãi thường
cao hơn.Điều này có thể làm thu nhập của NH giảm sút. Do vậy, mục tiêu quản
lý thanh khoản của NH bao gồm:
- Đảm bảo khả năng chi trả kịp thời của ngân hàng với chi phí hợp lý
- Dự đoán các nguy cơ rủi ro thanh khoản và tổn thất có thể xảy ra
1.2.1.2.Quy tắc quản lý thanh khoản
Thứ nhất, nhà quản lý thanh khoản phải theo sát mọi hoạt động của các
phòng ban liên quan tới việc huy động và sử dụng vốn trong ngân hàng và phải
phối hợp hoạt động của phòng quản lý thanh khoản với các phòng đó.Ví dụ khi
phòng tín dụng cấp một hạn mức tín dụng mới cho khách hàng, nhà quản lý
thanh khoản phải chuẩn bị cho khả năng rút vốn từ hạn mức này.Hoặc nếu như
bộ phận theo dõi tiền gửi tiết kiệm và kì hạn dự tính sẽ bán được một số chứng
Nguyễn Thị Thu Trang Lớp TCDN 47C
6

●Cầu thanh khoản là nhu cầu về vốn khả dụng phát sinh chủ yếu từ hai nguồn
chính:nhu cầu rút tiền và nhu cầu vay tiền của khách hàng.Ngoài ra, các khoản
vay nợ từ ngân hàng khác hoặc NHTW cũng làm tăng cầu thanh khoản.
Nguyễn Thị Thu Trang Lớp TCDN 47C
7
Cụ thể, nguồn cầu thanh khoản bao gồm
-Cầu thanh khoản phát sinh bên tài sản:
+Dự trữ bắt buộc
+Nhu cầu tín dụng của khách hàng chất lượng
-Cầu thanh khoản phát sinh bên nguồn vốn:
+Khách hàng rút tiền gửi
+Phát hành GTCG đến hạn
+Hoàn trả nợ vay
-Cầu thanh khoản phát sinh ngoại bảng
+Thanh toán chi phí hoạt động, nộp thuế
+Thanh toán cổ tức
●Các nhân tố ảnh hưởng tới nhu cầu thanh khoản bao gồm
Thứ nhất, nhóm nhân tố tạo nên sự hoảng loạn trong khách hàng gửi tiền
như bất ổn chính trị, tham nhũng..
Thứ hai, nhóm nhân tố liên quan đến thu nhập và chi tiêu của khách hàng
như tính thời vụ trong sản xuất và tiêu dùng, mức thu nhập và hệ số tiết kiệm,
mật độ dân số và doanh nghiệp..
Thứ ba, nhóm nhân tố cạnh tranh trên địa bàn giữa các trung gian tài
chính như chính sách lãi suất huy động, chính sách tín dụng..của mỗi tổ chức.
Thứ tư, nhóm nhân tố tạo nên sức mạnh và uy tín của bản thân ngân hàng
như cán bộ, công nghệ, thị phần, uy tín…
●Cách thức mà NH áp dụng để quản lý cầu thanh khoản:
-Phân tích nhu cầu thanh khoản trong quá khứ
-Đo mối liên hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng và nhu cầu thanh khoản để
xác định tần suất và độ lớn trong nhu cầu thanh khoản.

Bao gồm các công việc:
+Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thời gian và chi phí huy động
+Lựa chọn cung thanh khoản từ phía bên nguồn thông qua việc phân tích
thời gian và chi phí để mở rộng nguồn
+Nghiên cứu các công cụ nợ mới nhằm tiết kiệm thời gian và chi phí
+So sánh chi phí nắm giữ tài sản thanh khoản và huy động mới
1.2.2.3.Quản lý kết hợp
Chiến lược quản lý thanh khoản kết hợp đã trở nên phổ biến, dựa trên duy
trì thanh khoản của cả tài sản và nguồn vốn.Nhìn chung ngân hàng lớn, gần
trung tâm tiền tệ có xu hướng dựa chính vào thanh khoản của bên nguồn, còn
các ngân hàng nhỏ, xa trung tâm tiền tệ có xu hướng duy trì thanh khỏan dựa
vào tài sản thanh khoản.
Nguyễn Thị Thu Trang Lớp TCDN 47C
9
Hơn nữa, do những rủi ro cố hữu của việc dựa quá nhiều vào vay thanh
khoản và mức chi phí đáng kể của việc dự trữ thanh khoản, hầu hết ngân hàng
đã thực hiện một sự thỏa hiệp trong chính sách quản lý thanh khỏan, sử dụng cả
quản lý thanh khoản tài sản và quản lý thanh khoản nợ.Theo chiến lược quản lý
kết hợp, một phần nhu cầu thanh khoản dự tính sẽ được đáp ứng bằng việc dự
trữ tài sản thanh khoản(chủ yếu là chứng khoán và các tiền gửi tại các NH khác)
trong khi phần còn lại của nhu cầu thanh khoản sẽ được giải quyết bằng những
hợp đồng hạn mức tín dụng từ các ngân hàng đại lý hoặc từ những người cho
vay khác.Những yêu cầu tiền mặt bất thường sẽ được giải quyết chủ yếu bằng
việc vay vốn.Ngân hàng cần lập kế hoạch cho các nhu cầu vốn dài hạn và cho
các nguồn vốn dùng để đáp ứng yêu cầu này dưới hình thức vay ngắn hạn, dài
hạn và chứng khoán những tài sản sẽ được chuyển thành tiền khi yêu cầu thanh
khoản xuất hiện.
1.2.3.Các chỉ số đánh giá khả năng thanh khoản
(1)Tỷ lệ Tín dụng/Tiền gửi
(2)Tỷ lệ Tiền vay/Tổng tài sản:

1.3.1.Lý thuyết cho vay thương mại
Hình thành dựa trên việc nghiên cứu thanh khoản của các NH từ đầu thế
kỉ19 trở về trước.Khi đó thị trường tài chính còn chưa phát triển cao, cho vay
được coi là tài sản lớn nhất trong ngân hàng nên một ngân hàng muốn duy trì
tính thanh khoản của tài sản thì phải dựa vào việc nắm giữ ngân quỹ (chủ yếu là
tiền mặt) và các khoản cho vay của nó phải là các khoản cho vay thương mại.Lý
thuyết này chứng minh rằng, trong điều kiện các nguồn của ngân hàng phần lớn
là ngắn hạn thì cho vay thương mại, tức tài trợ ngắn hạn cho tài sản lưu động
của doanh nghiệp sẽ đảm bảo sự phù hợp về kì hạn của tài sản và nguồn vốn của
ngân hàng tạo cho NH khả năng nhận được nguồn trả nợ trong ngắn hạn do hàng
hóa được bán, vì vậy sẽ là phương pháp tốt nhất đảm bảo thanh khoản.
Lý thuyết cho vay thương mại bên cạnh việc phân tích tính thanh khoản
của các khoản cho vay thương mại đã không chú ý tới tính chất thanh khoản của
nguồn vốn của ngân hàng và tính thanh khoản của các khoản cho vay phi thương
mại, từ đó đã cho rằng các khoản cho vay phi thương mại là không đảm bảo tính
thanh khoản và không thích hợp với ngân hàng thương mại.Nhưng thực tế lại
ngược lại vì có rất nhiều khoản tiền gửi không bị rút ra khi đến hạn mà tiếp tục
kì hạn mới. Những nguồn tiền như vậy có thể sử dụng cho vay trung và dài hạn.
Lý thuyết cho vay thương mại đã ảnh hưởng tới chính sách của NHTW
đối với NHTM như là qui định về tỷ lệ nguồn ngắn hạn thường cao hơn nguồn
Nguyễn Thị Thu Trang Lớp TCDN 47C
11
trung và dài hạn, quy định về tỷ lệ nguồn ngắn hạn được chuyển sang cho vay
trung và dài hạn…
1.3.2.Lý thuyết về khả năng chuyển đổi của tài sản
Dựa trên việc phân tích số lượng các ngân hàng Anh và Mỹ phá sản trong khủng
hoảng 29-33, các tác giả của lý thuyết này cho rằng, số lượng các ngân hàng
Anh (chủ yếu cho vay thương mại) bị phá sản cũng chẳng kém gì các ngân hàng
Mỹ (mở rộng cho vay đối với bất động sản và người tiêu dùng).Như vậy, cho
vay thương mại cũng không đảm bảo an toàn thanh khoản cho NHTM khi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status