L ờ i n ó i đ ầ u
Trong những thập kỷ cuối cùng của thế kỷ 20, loài ngời đã đợc
chứng kiến những bớc phát triển mang tính đột phá của nhiều nghành
khoa học và công nghệ, trong đó có công nghệ thông tin và công nghệ
sinh học. Cách đây hơn 10 năm, mạng Internet còn là một lĩnh vực bí ẩn
của riêng các nhà vật lý thì nay nó đã trở thành cuốn bách khoa toàn th
bình thờng của hàng triệu học sinh trên toàn thế giới. Các nhà khoa học
và kinh tế đều khẳng định rằng, sự phát triển nh vũ bão của cuộc cách
mạnh thông tin đợc đánh dấu bằng sự ra đời của mạng internet, các ph-
ơng tiện khác nh Email, máy vi tính các thế hệ, tạp chí điện tử, là một b-
ớc tiến đáng kể, góp phần nâng cao chất lợng cuộc sống của con ngời,
nâng cao đáng kể năng suất lao động, làm cho thế giới ngày càng hẹp
lại, chất lợng và tốc độ truyền tin ngày càng nhanh. Chính những phát
triển đó đã góp phần tạo nên một nền kinh tế toàn cầu hóa, nền kinh tế
mạng và nền kinh tế tri thức.
Đơng nhiên, thừa hởng thành tựu của công nghệ hiện đại và khoa
học ngân hàng, thẻ thanh toán, một loại thanh toán an toàn, nhanh
chóng, tiện lợi, gọn nhẹ mà không phải dùng tiền mặt đã ra đời, từng bớc
thay thế cho một số kiểu thanh toán cũ lỗi thời, không còn thích hợp ở
những lúc và nơi có thể. Cùng với thời gian, các loại thẻ cứ lần lợt ra đời
và đợc đa vào sử dụng với quy mô ngày càng lớn, đặc biệt là trong hệ
thống thanh toán toàn cầu trong mấy thập kỷ qua. Thậm chí ở nhiều nớc
những loại thẻ này không còn là phơng tiện thanh toán độc tôn của ngân
hàng mà nó đã trở thành phổ biến, quen thuộc với cả nhiều dân thờng.
1
Là con chim đầu đàn của hệ thống ngân hàng Việt Nam trong
giao dịch thanh toán quốc tế, đợc phép của Ngân hàng Nhà nớc, Ngân
hàng Ngoại thơng Việt Nam đã bắt đầu thực hiện chế độ thanh toán thẻ
tín dụng quốc tế tù năm 1990. Không dừng ở đó, hơn 10 năm qua, Ngân
hàng Ngoại thơng Việt Nam còn phát hành thẻ tại Việt Nam.
cứu, cung cấp cho tôi tài liệu, số liệu và những thông tin cần thiết khác.
Hà Nội, ngày 27, tháng 4, năm 2003.
3
C H Ư Ơ N G I
Lí LUậN CHUNG Về THẻ THANH TOáN
I.tổng quan về thẻ thanh toán
1.1 lịch sử ra đời và phát triển của thẻ thanh toán
Thẻ thanh toán là một phơng thức thanh toán không dùng tiền mặt hiện
đại và hữu ích. Thẻ ra đời vào năm 1949 do ông Frank Mc Namara, một doanh
nhân ngời Mỹ sáng chế. Có một lần sau khi dùng bữa tối tại một nhà hàng,
ông bỗng phát hiện ra mình không mang theo tiền mặt. Ông phải gọi điện cho
vợ nhanh chóng mang tiền đến thanh toán. Tình trạng khó xử này đã khiến
ông mày mò chế tạo một phơng tiện chi trả tiền mặt trong những trờng hợp t-
ơng tự nh thế. Thế là lần đầu tiên Mc Namara cho ra đời loại thẻ mang tên
Diners Club.
Theo chân Diners Club, hàng loạt thẻ mới ra đời nh Trip Charge,
Golden Key, Gourmet Club, Espire Club và đến năm 1995, Carte Blanche và
American Express ra đời (1958) và thống lĩnh thị trờng. Lúc đầu phần lớn thẻ
chỉ dùng cho giới doanh nhân nhng các ngân hàng đã thấy rằng giới bình dân
mới là đối tợng sử dụng chủ yếu trong tơng lai. Với sự thay đổi chiến lợc
khách hàng của mình, các ngân hàng nhanh chóng thâm nhập vào thị trờng thẻ
và coi đây là thị trờng đầy tiềm năng.
Ngân hàng Mỹ quốc là nơi đầu tiên phát hành thẻ Bank Americard mà
ngày nay là Visa Card. Năm 1966, Bank Americard bắt đầu liên kết với các
liên bang khác để phát triển mạng lới thẻ này.
4
Trong khi thẻ Bank Americard đang thành công rực rỡ thì các tổ chức
phát hành thẻ khác cũng đang tìm kiếm khả năng cạnh tranh với loại thẻ này.
ra còn một đặc điểm không thể thiếu, đó là biểu tợng riêng của tổ chức thẻ
quốc tế (Ví dụ: Tổ chức thẻ Master Card có biểu tợng là hai hình tròn giao
nhau nằm ở góc dới bên phải của thẻ. Hình tròn bên phải màu vàng cam, bên
trái là màu đỏ, có chữ Master Card màu trắng chạy ngang giữa. Phía bên trên
hai hình tròn này là hai nửa hình tròn giao nhau in chìm). Riêng số thẻ, ngày
hiệu lực và tên số thẻ đợc in nổi, Mặt sau của thẻ là một dải băng từ có khả
năng lu giữ thông tin cần thiết. Phía dới băng từ là dải ô chữ ký của chủ thẻ.
Trên thế giới hiện nay, có nhiều loại thẻ do các tổ chức khác nhau phát
hành nhng dù là loại thẻ nào thì về cơ bản cũng có đặc điểm nêu trên nhằm
đảm bảo an toàn và thuận tiện cho các bên tham gia.
1.2.2 Phân loại thẻ
Phân loại theo công nghệ
Thẻ khắc chữ nổi: Đây là loại thẻ đợc làm dựa trên kỹ thuật khắc chữ
nổi. Đó cũng là loại thẻ đầu tiên đợc sản xuất theo công nghệ tiên tiến này.
Trên bề mặt thẻ những thông tin cần thiết đợc khắc nổi. Hiện nay ngời ta
không dùng loại thẻ này nữa vì kỹ thuật sản xuất qua thô sơ, dễ bị làm giả.
Thẻ băng từ: Thẻ này đợc sản xuất dựa trên kỹ thuật th tín với hai băng
từ chứa thông tin ở mặt sau của thẻ. Thẻ loại này đợc sử dụng phổ biến trong
vòng 20 năm trở lại đây nhng đã bộc lộ một số điểm yếu: dễ bị lợi dụng do
thông tin ghi trong thẻ không tự mã hoá đợc, có thể đọc thẻ dễ dàng nhờ thiết
bị đọc gắn với máy vi tính; thẻ chỉ mang thông tin cố định; khu vực chứa tin
hẹp, không áp dụng các kỹ thuật đảm baỏ an toàn.
6
Thẻ thông minh (Smart Card): Đây là thế hệ mới nhất của thẻ thanh
toán. Thẻ thông minh đợc sản xuất dựa trên kỹ thuật vi xử lý tin học, nhờ gắn
vào thẻ một chíp điện tử mà thẻ có cấu tạo giống nh một máy tính hoàn hảo.
Thẻ thông minh có nhiều nhóm với dung lợng nhớ khác nhau.
Hiện nay, thẻ thông minh đuợc sử dụng rất phổ biến trên thế giới vì có
u điểm về mặt kỹ thuật độ an toàn cao, khó làm giả đợc, ngoài ra còn làm cho
Phân loại theo phạm vi lãnh thổ:
- Thẻ trong nớc: Là lợi thẻ đợc sử dụng trong phạm vi một quốc gia,
do vậy đồng tiền giao dịch là đồng bản tệ. Thẻ cũng có các đặc điểm nh các
loại thẻ khác, song điểm khác chủ yếu là phạm vi sử dụng.
- Thẻ quốc tế: Là loại thẻ đợc chấp nhận thanh toán trên toàn cầu, sử
dụng ngoại tệ mạnh để thanh toán. Thr này đợc khách hàng a chuộng do tính
thuận lợi, an toàn. Các ngân hàng cũng có đợc lợi ích đáng kể với loại thẻ này
nh nhận đợc nhiều sự giúp đỡ trong nghiên cứu thị trờng, chi phí xây dựng cơ
sở chấp nhận thẻ thấp hơn so với tự hoạt động...
Nh vậy, mặc dù có nhiều cách phân loại thẻ khác nhau nhng các loại
thẻ trên đều có đặc điểm chung là dùng để thanh toán hàng hóa và rút tiền
mặt. Do vây, một cách tổng quát ngời ta gọi là thẻ thanh toán.
1.3 Quy trình phát hành và thanh toán thẻ
8
1.3.1 Một số khái niệm về các chủ thể tham gia vào công tác phát
hành, sử dụng và thanh toán thẻ
- Ngân hàng phát hành (NHPH): là thành viên chính thức của các tổ
chức thẻ quốc tế, là ngân hàng tiến hành các thủ tục để in thẻ cho khách hàng.
Ngân hàng phát hành có trách nhiệm: xem xét việc phát hành thẻ, hớng dẫn
chủ thẻ sử dụng và thực hiện các quy định cần thiết khi sử dụng thẻ, thanh
toán số tiền trên hoá đơn do ngân hàng đại lý chuyển đến, cấp phép cho các
thơng vụ vợt hạn mức. Từng định kỳ, ngân hàng phát hành phải lập sao kê ghi
rõ và đầy đủ các giao dịch phát sinh và yêu cầu thanh toán đối với chủ thẻ tín
dụng hoặc khấu trừ trục tiếp vào tài khoản của chủ thẻ đối với thẻ ghi nợ.
- Chủ thẻ: là ngời có tên ghi trên thẻ, đợc dùng thẻ để thanh toán hàng
hoá, dịch vụ thay tiền mặt. Do vậy không áp dụng chế độ uỷ quyền sử dụng
thẻ cho ngời thứ hai. Chỉ có chủ thẻ mới có quyền sử dụng thẻ. Mỗi khi thanh
tóan cho cơ sở chấp nhận thẻ, chủ thẻ xuất trình thẻ để cơ sở kiểm tra theo quy
định và lập biên lai thanh toán. Ngoài ra chủ thẻ có thể sử dụng thẻ để rút tiền
phát hành thẻ, chủ thẻ cần xuất trình các giấy tờ tuỳ thân nh chứng minh th
nhân dân hoặc quân đội hoặc hộ chiếu. Ngoài ra còn phải xuất trình một số
giấy tờ khác nh: giấy thông hành, biên lai trả lơng, nộp thuế thu nhập...
Khi nhận đủ hồ sơ, ngân hàng tiến hành thẩm định lại. Thông thờng
ngân hàng xem xét tính chính xác của hồ sơ, tình hình tài chính (nếu khách
hàng là công ty), hay các khoản thu nhập thờng xuyên của khách hàng (nếu là
cá nhân) hoặc số d trên tài khoản tiền gửi của khách hàng, mối quan hệ tín
dụng trớc đây (nếu có).
10
Nếu hồ sơ xin phát hành thẻ đã phù hợp thì ngân hàng sẽ tiến hành
phân loại khách hàng. Đối với thẻ ghi nợ, việc phát hành thẻ đơn giản vì khách
hàng đã có tài khoản tại ngân hàng. Còn đối với thẻ tín tụng, ngân hàng phải
tiến hành phân loại khách hàng để có một chính sách tín dụng riêng. Thông th-
ờng có hai loại hạn mức tín dụng:
+ Hạn mức theo thẻ vàng: Thờng cấp cho nhân vật quan trọng, có quan
hệ tốt với ngân hàng hoặc có thu nhập cao và ổn định. Hạn mực tín dụng theo
thẻ vàng thờng cao hơn nhiều so với thẻ chuẩn (hiện nay quy định tối đa là
90.000.000 VND, tối thiểu là 50.000.000 VND).
+ Theo hạn mức chuẩn: Hạn mức tín dụng theo thẻ chuẩn thấp hơn so
với thẻ vàng, chủ yếu cung cấp cho giới bình dân nhng khách hàng ở đây cũng
phải đủ tiêu chuẩn, điều kiện để nhận thẻ tín dụng (quy định từ 50.000.000
VND và tối thiểu là 10.000.000 VND).
Sau khi thẩm định và phân loại khách hàng, nếu khách hàng đáp ứng
đủ điều kiện thì ngân hàng tiến hành in thẻ cho khách hàng. Trớc khi phát
hành thẻ, ngân hàng yêu cầu chủ thẻ ký tên và đăng ký chữ ký mẫu ở ngân
hàng. Sau đó bằng kỹ thuật riêng của từng ngân hàng phát hành, ngân hàng
tiến hành đa những thông tin cần thiết lên thẻ, đồng thời mã hoá và ấn định mã
số các nhân (PIN) cho chủ thẻ, nhập các thông tin, dữ liệu cần thiết để quản lý
sau này.
Tổ chức thẻ
quốc tế
Trờng hợp giá trị giao dịch bằng hoặc vợt mức thanh toán, ĐVCNT
phải liên hệ với ngân hàng phát hành thông qua ngân hàng thanh toán và trung
tâm xử lý số liệu thuộc tổ chức thẻ quốc tế để xin cấp phép. Ngân hàng phát
hành sau khi kiểm tra hạn mức tín dụng sẽ trả lời cấp phép cho ĐVCNT thông
qua trung tâm và ngân hàng thanh toán.
Sơ đồ tổng quát về cấp phép
+Thanh toán
Tại ngân hàng thanh toán: khi tiếp nhận hoá đơn và bảng kê, ngân hàng
phải tiến hành tính hợp lệ của các thông tin trên hoá đơn. Nếu không có vấn đề
gì thì ngân hàng tiến hành ghi nợ vào tài khoản của mình và ghi có vào tài
khoản của ĐVCNT. Việc ghi sổ này phải tiến hành ngay trong ngày nhận đợc
hoá đơn và chứng từ của ĐVCNT.
Sau đó ngân hàng thanh toán tổng hợp dữ liệu gửi đến trung tâm xử lý
dữ liệu (trờng hợp nối mạng trực tiếp). Nếu ngân hàng thanh toán không đợc
nối mạng trực tiếp thì gửi hoá đơn, chứng từ đến ngân hàng mà mình làm đại
lý thanh toán
Trung tâm sẽ tiến hành chọn lọc dữ liệu, phân loại để bù trừ giữa các
ngân hàng thanh toán và ngân hàng phát hành, đồng thời thực hiện báo có và
13
Ngân hàng
phát hành
Ngân hàng
thanh toán
Trung tâm xử
lý số liệu
Đơn vị chấp
nhận thẻ
hiệu lực mới có thể đảm bảo đầy đủ quyền lợi của các bên tham gia vào quá
trình phát hành thẻ.
1.4.3 Các yếu tố ảnh hởng đến sự thanh toán thẻ
* Thu nhập của ngời dùng thẻ
Thu nhập cao đồng nghĩa với mức sống cao hơn. khi đó, nhu cầu của
con ngời không chỉ đơn thuần là mua đợc hàng hoá mà họ yêu cầu phải mua
hàng hoá đó với một đọ thoả dụng tối đa. Thẻ thanh toán sẽ đáp ứng đợc nhu
cầu của họ. Khi mức sống đợc nâng cao, nhu cầu du lịch, giải trí của con ngời
cũng cao hơn. Khi ấy thẻ thanh toán là phơng tiện hữu hiệu nhất đáp ứng nhu
cầu này của họ. Vì vậy, thu nhập của ngời dùng thẻ càng cao thì nhu cầu thanh
toán bằng thẻ càng nhiều.
* Trình độ kỹ thuật công nghệ của ngân hàng
Thanh toán thẻ gắn liền với các máy móc thiết bị hiện đại. Nếu hệ
thống máy móc này có trục trặc thì sẽ gây ra ách tắc trong toàn hệ thống. Vì
vậy, đã đa ra dịch vụ thẻ thì ngân hàng phải đảm bảo một công nghệ thanh
toán hiện đại theo kịp công nghệ của thế giới.
Hơn nữa, chỉ có trình độ kỹ thuật cao thì việc vận hành, bảo sỡng và
duy trì hệ thống máy móc phục vụ cho phát hành và thanh toán thẻ mới có
hiệu quả cao, giảm đợc giá thành phục vụ, từ đó thu hút thêm đợc ngời sử
dụng nó.
* Thói quen tiêu dùng của ngời dân
Đây là yếu tố ảnh hởng trực tiếp đến sự phát triển của thẻ. Thói quen
tiêu dùng của ngời dân sẽ tạo ra một môi trờng thanh toán cho thanh toán thẻ.
15