Đánh giá tình hình triển khai thuế GTGT ở Việt Nam - Pdf 32

Mục lục
Đề mục Nội dung Số
trang
Phần I Lời mở đầu 2
Phần II Những vấn đề chung về thuế GTGT 3
1 Khái niệm 3
2 Sự ra đời và phát triển của thuế GTGT 3
3 Tại sao lại chọn thuế GTGT 4
II Nội dung chủ yếu của thuế GTGT 6
1 Xác định phạm vi áp dụng 6
2 Các hình thức thuế GTGT 8
3 Thuế suất 9
4 Quản lý thuế GTGT 10
Phần III Tình hình áp dụng thuế GTGT trên thế giới và bài học kinh
nghiệm từ những nớc đã áp dụng.
12
I Tình hình áp dụng thuế GTG T ở một số nớc 12
1 Thuỵ Điển 12
2 Philipine 13
3 Trung Quốc 14
II Một số nớc kinh tế phát triển vẫn cha áp dụng thuế GTGT 15
1 Hoa Kỳ 16
2 Australia 17
III Bài học kinh nghiệm rút ra từ những nớc đã áp dụng thuế GTGT. 17
Phần IV Sự cần thiết phải áp dụng thuế GTGT.
19
I Những tồn tại của hệ thống thuế hiện hành 19
II Sự cần thiế phải cải cách chính sách thuế 20
III Sự cần thiết phải áp dụng thuế GTGT ở Việt Nam 20
Phần V Đánh giá tình hình triển khai thực hiện thuế GTGT ổ Việt Nam
23

tăng.
I./ Thuế giá trị gia tăng (GTGT).
1./ Khái niệm.
Thuế GTGT là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát
sinh trong quá trình từ sản xuất, lu thông đến tiêu dùng.
2./ Sự ra đời và phát triền của thuế GTGT.
Năm 1954 thuế GTGT lần đầu tiên ra đời tại Pháp dới hình thức thuế đánh vào
giai đoạn sản xuất. Đến năm 1968, thuế này đợc nhập vào thuế lu thông đánh vào dịch
vụ và thuế địa phơng đánh vào lu thông bán lẻ thành một loại thuế thống nhất chung thu
ở giai đoạn bán lẻ (viết tắt theo tiếng Pháp là TVA). Từ đó đến nay do tính u viết của
mình, thuế GTGT ngày càng đợc sử dụng rộng khắp ở nhiều nớc trên thế giới. Thuế
GTGT đợc sớm áp dụng ở Châu âu, chỉ hơn hai mơi năm sau khi ra đời hình thức sơ
khai đầu tiên, nó đã đợc coi là một trong những điều kiện tiên quyết để gia nhập khối
EC (năm 1977).
Tính đến năm 1995, trên thế giới có tới hơn 100 nớc áp dụng thuế GTGT. Riêng
Châu á kể từ năm 80 trở lại đây đã có sự gia tăng vợt bậc về số lợng các thành viên sử
dụng VAT. Đầu tiên là Triều Tiên (1977), tiếp đến là Indonexia (1985), Đài Loan
(1986), Philipine (1988), Mông Cổ (1993), Trung Quốc (1994) và Việt Nam (1999).
Việc áp dụng một phơng pháp tính thuế mới ở một quốc gia không phải là vấn đề
đơn giản, hệ thống thuế ảnh hởng trực tiếp đến ngân sách và vấn đề phát triển kinh tế
của quốc gia đó. Chính vì vậy, không chỉ ở những nớc đang phát triển mà ở một số nớc
3
kinh tế phát triển, do những quan điểm khác nhau trong việc nghiên cứu nên quyết định
áp dụng thuế GTGT kéo dài trong nhiều năm nh:
Nhật Bản đa ra đề nghị áp dụng GTGT từ những năm 1955 đến năm 1986 nhng
tháng 4 năm 1989 mới thực hiện.
Newzeland: Phản đối kịch liệt thuế GTGT vào đầu những năm 80 nhng đã ban
hành GTGT tháng 5 năm 1986.
Hy Lạp đồng ý chuyển sang GTGT khi ra nhập EC năm 1981 với t cách một
thành viên chính thức, nhng đến tháng 1 năm 1987 mới ban hành GTGT.

lý thuế cũng không nằm ngoài quy luật ấy.
(2) Nh vậy thuế GTGT ra đời trớc hết để đáp ứng tình hình mới, sau một thời
gian đợc áp dụng và kiểm nghiệm, thuế GTGT đợc đại đa số các nớc trên thế giới thừa
nhận về những u điểm nổi bật của nó ở các mặt sau:
a. Khắc phục đợc một số mặt hạn chế của thuế doanh thu hiện hành. Có
khả năng mang lại nguồn thu lớn cho Ngân sách Nhà nớc. Kinh nghiệm của các nớc:
Indonexia, Newzeland, Bồ Đào Nha và Tuinidi đã chứng minh rõ điều này. Đại đa số
các nớc áp dụng thuế GTGT, khoản thu từ số thuế này thờng đảm bảo từ 12% đến 30%
tổng số thu của Ngân sách Nhà nớc (tơng đơng khoảng 5% đến 10% tổng sản phẩm
quốc dân).
b. Tính trung lập: Với điều kiện số lợng đối tợng đợc miễn hạn chế và sự vận
dụng thuế suất 0% chỉ hạn chế đối với hoạt động xuất khẩu, GTGT là một thứ thuế
trung lập và không dẫn đến bất kỳ một sự méo mó nào. Điều này thể hiện tính u việt của
5
thuế GTGT so với các loại thuế đợc nó thay thế.
c. Tính đơn giản: Tính đơn giản của thuế GTGT bắt nguồn từ cơ chế đánh
thuế và khấu trừ thuế của nó. Đối tợng nộp thuế GTGT sẽ thu số GTGT khi bán hàng và
khấu trừ số thuế GTGT đã nộp khi mua vật t, hàng hoá đầu vào, số chênh lệch còn lại
nộp vào Ngân sách Nhà nớc. (Việc tính thuế căn cứ vào các hoá đơn bán hàng và mua
hàng).
II. Nội dung chủ yếu của thuế GTGT.
1./ Xác định phạm vi áp dụng.
Về đối tợng chịu thuế: GTGT là loại thuế đánh vào sử dụng, có nghĩa là đánh
vào ngời tiêu dùng, ngời nộp thuế là ngời kinh doanh, ngời chịu thuế là ngời tiêu dùng
trực tiếp và gián tiếp nộp thuế thông qua ngời kinh doanh.
Đối tợng nộp thuế: Tất cả các thể nhân và các pháp nhân có cung cấp hoặc nhập
khẩu hàng hoá và dịch vụ trong phạm vi lãnh thổ quốc gia.
Một số nớc dùng doanh thu để giới hạn đối tợng nộp thuế. Ví dụ: Không phải là
đối tợng nộp GTGT, đối với các doanh nghiệp có mức doanh thu hàng năm thấp hơn:
+ 200.000 pê xô (Philipines).

đủ về luật, các văn bản hớng dẫn luật, trình độ hiểu biết của ngời nộp thuế, trình độ
7
quản lý của từng cơ quan thuế, chứng từ hoá đơn, ý thức chấp hành luật...
Hình thức áp dụng GTGT ở từng khâu kết quả bị hạn chế, còn hình thức áp dụng
thí điểm ở phạm vi hẹp, ở một số ngành là không đem lại kết quả.
2./ Các hình thức tính thuế GTGT.
ở các nớc đã thực hiện GTGT hiện nay áp dụng một trong hai phơng pháp khấu
trừ theo hoá đơn và phơng pháp tính chênh lệch theo báo cáo kế toán.
a./ Phơng pháp khấu trừ theo hoá đơn:
Đây là phơng pháp đợc hầu hết các nớc áp dụng do: Tính thuế dựa vào hoá đơn
đảm bảo xác định thuế có cơ sở để kiểm tra thuế. Có thể áp dụng chính sách thuế với
nhiều thuế suất (nếu thu thuế theo chênh lệch chỉ có thể áp dụng một thuế suất). Có thể
tính GTGT thu thuế theo thời gian ấn định một tháng, hai tháng hay một quí.
b./ Phơng pháp thu GTGT trên chênh lệch theo báo cáo kế toán:
Phơng pháp này xác định thuế phải dựa trên số liệu báo cáo kế toán của đơn vị áp
dụng phơng pháp này sẽ có những vấn đề sau:
Thứ nhất: Các xí nghiệp coi GTGT chỉ là thuế bổ xung đánh vào lợi nhuận, còn
các nhân viên của họ thì coi đó là lại thêm một thứ thuế nữa đánh vào quĩ tiền lơng.
Thứ hai: Báo cáo chỉ kêt thúc một lần trong năm, vậy là tất cả các khoản thanh
toán GTGT phải dựa vào kết toán năm.
Thứ ba: Khó kiểm tra thuế phải nộp từng kỳ so với phơng pháp sử dụng hoá đơn
và không có cơ sở để tiến hành các cuộc kiểm tra chéo thuế giữa đơn vị mua và bán.
Mô hình GTGT Nhật Bản đợc sử dụng theo phơng pháp này (1/4/1989): Thu
GTGT trên cơ sở báo cáo kế toán với một thuế suất là 3% và đã quyết định điều chỉnh
lên 5% để thi hành từ tháng 4/1997. Nhật Bản không phát hành hoá đơn áp dụng riêng
8
đối với thuế GTGT vì các doanh nghiệp phản ứng, theo phơng pháp tính thuế hiện hành
các doanh nghiệp tự tính và nộp thuế. Các doanh nghiệp nhỏ không phải nộp thuế
GTGT.
3. Thuế suất.

nộp. Qui định miễn chịu thuế có thể xuất phát từ nhiều lý do: Về kinh tế, xã hội, về
tránh sự đánh thuế chồng chéo, về kỹ thuật: khó xác định giá trị tăng thêm nh: Các dịch
vụ về tài chính tín dụng, dịch vụ vận tải quốc tế về hàng không, đờng sắt.
Ví dụ : Thuỵ Điển qui định 29 mặt hàng và dịch vụ đợc miễn chịu thuế.
Đan Mạch qui định 14 mặt hàng và dịch vụ đợc miễn chịu thuế.
Đức qui định 5 mặt hàng và dịch vụ đợc miễn chịu thuế.
4./ Quản lý GTGT.
Đăng ký thuế: Các đối tợng nộp thuế phải thực hiện nghĩa vụ đầu tiên là đăng ký
thuế tại cơ quan thuế địa phong nơi đặt cơ quan điều hành thờng trú của mình theo mẫu
thống nhất do cơ quan thuế cung cấp. Một số nớc sử dụng mã số đăng ký thuế cũ (thuế
doanh thu) và thêm vào đuôi của dãy số đăng ký một số bổ xung để chỉ rõ là số đăng ký
GTGT. Riêng Nhật Bản không sử dụng hệ thống mã hoá số đăng ký trong công tác quản
lý GTGT.
Nộp thuế: Đa số các nớc áp dụng GTGT thực hiện nộp thuế theo cơ chế tự kê
khai tính và nộp thuế theo mẫu in sẵn do cơ quan thực hiện cung cấp. Nộp tờ khai và
thanh toán thuế theo định kỳ hàng tháng, quí (tuỳ theo chế độ nộp thuế qui định cho
10
từng loại đối tợng).
Việc thoái thuế: Phần lớn đợc giao cho cơ quan thu thuế, trong trờng hợp số thuế
đợc khấu trừ lớn (xuất khẩu hàng hoá hoặc mua sắm tài sản giá trị lớn, đối tợng kinh
doanh có quyền kê khai đề nghị cơ quan thuế thoái trả số tiền đã trả khâu trớc. Cơ quan
thuế kiểm tra và thoái trả tiền thuế đã trả ngay một lần hoặc thoái trả dần trong một thời
gian tuỳ theo qui định của từng nớc và khả năng ngân sách mỗi nớc. Theo cách này cơ
quan thuế thờng có một tài khoản thu GTGT và sử dụng nguồn thu để thoái thuế, khoản
còn lại nộp vào Ngân sách Nhà nớc.
Việc khấu trừ thuế GTGT: Các nớc áp dụng khấu trừ theo hoá đơn đầu vào và cho
khấu trừ toàn bộ số phát sinh từng kỳ, khi tính thuế GTGT phải nộp. Hầu hết các nớc
cho áp dụng khấu trừ thuế đầu vào của tài sản cố định nhằm khuyến khích đầu t, cũng
có nớc không cho áp dụng nh Trung Quốc.
Phần III. Tình hình áp dụng thuế GTGT trên thế

273, có hiệu lực thi hành từ 1/1/1988. Nh vậy, để ban hành thuế GTGT, Philipines đã
trải qua quá trình nghiên cứu và chuẩn bị.
Ngày 1/1/1988, Philipines bắt đầu thực hiện GTGT. Có thể tóm tắt ở mấy điểm
sau:
- Thuế GTGT đợc xây dựng dể hợp lý hoá hệ thống đánh thuế hàng hoá và
dịch vụ chịu thuế, để đơn giản hoá việc quản lý thuế và làm cho hệ thống thuế
Philipines công băng hơn.
- Thuế GTGT đợc áp dụng trên diện rộng hàng hoá và một số dịch vụ, trên
từng hoạt động bán hay nhập khẩu những hàng hoá dịch vụ đó.
- Thuế suất qui định một mức là 10% đánh trên tổng giá bán hay tổng số
tiền nhận đợc từ bán hàng hoá hay dịch vụ, thay cho thuế doanh thu đối với ngời sản
xuất gồm 4 thuế suất: 0%, 10%, 20%, 30%, thuế trên dịch vụ: 15 thuế suất từ 0% đến
30%. Tuy nhiên, có miễn thuế đối với một số hoạt động kinh doanh đợc áp dụng để
khuyến khích một số hoạt động nh sản xuất nông sản, giảm bớt ảnh hởng đến giá cả
một số mặt hàng nh dầu lửa, và để đơn giản việc quản lý thuế đối với doanh nghiệp nhẹ
và các dịch vụ tài chính.
- Thuế suất 0% áp dụng đối với hàng hoá xuất khẩu.
- áp dụng tính thuế theo phơng pháp khấu trừ và cho khấu trừ đối với tài sản
dùng trong thơng mại hoặc kinh doanh.
13
Kết quả thu thuế GTGT của Philipines đợc biểu hiện qua ba năm (bảng kèm theo)
đã cho thấy tỉ lệ về số thu VAT so với số thu CP, GDP, GNP đều tăng sau 10 và 20 năm
áp dụng cơ chế thuế mới.
Năm Số thu
từ
VAT
Số thu
từ thuế
Số thu
của CP

thu thuế trùng lặp.
Bên cạnh đó, GTGT của Trung Quốc có quá nhiều thuế suất, mức chênh lệch giữa
các thuế suất cao từ 43% đến 12%. Vì vậy, khi thực hiện khấu trừ thuế phức tạp, căn cứ
không chính xác, gây ra vận dụng tuỳ tiện, không kiểm soát đợc chặt chẽ việc khấu trừ
tiền thuế ở cơ quan cấp dới.
14
Để khắc phục tình trạng này, đảm bảo thẹc hiện đơn giản, dễ kiểm soát, hiện nay
Trung Quốc thực hiện khoán mức khấu trừ thuế cho các sản phẩm đầu vào, bớc đầu có
nhiều mức, nay thực hiện thống nhất một mức 7%.
Do thu theo phơng pháp khấu trừ chung cho một mức thoát ly hoá đơn, nên phạm
vi khấu trừ thuế rộng thực tế có khi thuế thu thấp vì trong số thuế đợc khấu trừ có phần
thuế cha đợc tính nộp Ngân sách.
Một trong những điều kiện tiên đề để thực hiện thành công GTGT là thực hiện cơ
chế giá thị trờng. Nhng hiện nay Nhà nớc Trung Quốc vẫn quản lý giá hơn 100 mặt
hàng, vì vậy, quá trình thực hiện GTGT của Trung Quốc gặp khó khăn.
Thực hiện GTGT ở khâu sản xuất của Trung Quốc gặp nhiều khó khăn, phức tạp.
Để việc quản lý, thực hiện GTGT có hiệu quả, Trung Quốc phân ra từng đối tợng để có
biện pháp thu thuế: Xí nghiệp qui mô nhỏ thu khoán, Xí nghiệp có qui mô lớn và vừa
thu căn cứ vào sổ sách kế toán. Thực tế hiện nay GTGT chỉ áp dụng trong các xí nghiệp
quốc doanh.
II./ một số nớc kinh tế phát triển vẫn cha áp dụng thuế
GTGT.
Cho dù GTGT là một loại thuế có nhiều u điểm nhng cho đến nay có một sô nớc
kinh tế phát triển cha áp dụng. Chúng ta sẽ nghiên cứu những nguyên nhân của vấn đề
trên thông qua phân tích tình hình hai nớc đại biểu là Mỹ và Austraylia
Hoa Kỳ (Mỹ): Là một nớc có nền kinh tế phát triển bậc nhất thế giới. Một cờng
quốc có ảnh hởng sâu sắc đến nhiều lĩnh vực trên thế giới, tuy nhiên, cho đến nay Mỹ
vẫn cha chấp nhận GTGT. Vì vậy đau là những lý do ngăn cản con đờng GTGT xâm
15
nhập vào Mỹ?

a. Lo sợ về chi phí quản lý cao.
b. Lo sợ về khả năng trốn thuế tăng.
c. Những yêu cầu về hoàn thuế khai tăng thêm có thể là một lỗ hổng cũng
nghiêm trọng tơng đơng nh lập hoá đơn sai.
d. Chi phí cho việc cỡng chế thuế tăng. Lo sợ về tính luỹ thoái.
Nh vậy, những lý do chủ yếu của việc cha ban hành thuế GTGT ở Mỹ và Autralia
là các lý do mang màu sắc chính trị chứ không phải về kinh tế, do đặc thù của các nớc
đó (quan hệ liên bang và bang đang ổn định, họ không muốn có sự xáo trộn đễ dàng gây
nên tình hình mất ổn định chung).
III./ bài hoc kinh nghiểmut ra từ các nớc đã tính thuế
GTGT.
Qua nghiên cứu kinh nghiệm của các nớc áp dụng GTGT cà hội thoả, trao đổi
kinh nghiệm với các chuyên gia thuế GTGT của các tổ chức quốc tế và một số nớc có
thể rut ra một số bài học kinh nghiệm nh sau:
1. Thuế GTGT là một loại thuế có nhiều u điểm cần nghiên cứu áp dụng
nhằm góp phần thúc dẩy hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển theo cơ chế thị trờng,
mở rộng kinh tế đối ngoại, tạo nguồn thu ổn định và phát triển cho Ngân sách quốc gia.
17

Trích đoạn Công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về thuế GTGT.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status