Thực trạng phát triển của làng gốm Bát Tràng - Pdf 32

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Mục lục
Lời mở đầu............................................................................................................................2
Chơng I...................................................................................................................................3
Lịch sử hình thành và đặc điểm của...................................................................3
làng gốm Bát Tràng ...................................................................................................3
I. Làng nghề truyền thống ở Việt Nam..........................................................3
1. Khái niệm về làng nghề.....................................................................................3
2. Đặc điểm của các làng nghề..............................................................................4
3. Con đờng hình thành của các làng nghề............................................................6
4. Điều kiện hình thành các làng nghề...................................................................6
II. Lịch sử hình thành và phát triển của làng gốm Bát Tràng......................7
1. Lịch sử hình thành và phát triển của làng gốm Bát Tràng. ................................7
2. Bản sắc làng nghề .............................................................................................9
2.1. Đất hoá nên vàng ...................................................................................................9
2.2. Tổ chức phờng hội trớc cách mạng tháng Tám, 1945..........................................13
2.3. Niềm tự hào của làng gốm .................................................................................17
Chơng II. .............................................................................................................................22
Thực trạng phát triển của làng gốm bát tràng....................................22
I. Những sản phẩm chính của làng gốm Bát Tràng.....................................22
1. Đồ dân dụng....................................................................................................22
2. Đồ thờ..............................................................................................................22
3. Đồ trang trí nội thất và vờn..............................................................................22
II. Tổ chức sản xuất tại làng gốm Bát Tràng................................................22
Trong làng Bát Tràng hiện nay việc sản xuất ra sản phẩm ngoài những
lò gốm nhỏ mang tính chất gia đình đã có những công ty lớn, tất cả là
những công ty t nhân, những công ty này đã cung cấp khoảng 30% sản
phẩm cho thị trờng. Tại toàn bộ các công ty lớn này thì hiện nay đã sử
dụng loại lò tuynel đốt bằng gas để nung sản phẩm, do vậy việc sản xuất
mang tính thơng mại cao hơn. ...............................................................27
Hình 5. Lò gas........................................................................................28

2. Phát triển cơ sở hạ tầng....................................................................................43
3. Có sự liên kết với các công ty du lịch..............................................................44
Kết luận 44
Tài liệu Tham Khảo................................................................................................46
Lời mở đầu
Thăng Long - Hà Nội là mảnh đất có một nền văn hoá lâu đời, nơi đây còn nổi
tiếng với những làng nghề thủ công mỹ nghệ bởi những bàn tay tài hoa của những
bậc nghệ nhân từ cổ chí kim. Các sản phẩm tài hoa của Thăng Long không những
nổi tiếng trong nớc mà còn, bay cao bay xa trên trờng quốc tế.
Một trong những làng nghề cổ truyền nổi tiếng ấy là một làng gốm ven sông,
làng gốm Bát Tràng. Làng gốm đã trải qua trên năm thế kỷ với nhiều thành tựu rất
đáng tự hào, đó là bệ đỡ vững chắc để Bát Tràng hôm nay ngày càng tiến nhanh
hơn cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nớc.
Vốn quý đó của Bát Tràng cũng là một nguồn tài nguyên rất có giá trị đối với
hoạt động kinh doanh du lịch, nó hoàn toàn có thể trở thành điểm du lịch có sức
hấp dẫn rất lớn nếu nh đợc chính quyền địa phơng và ngành du lịch quan tâm và
khai thác đúng mức.
Tuy nhiên, các sản phẩm gốm sứ tại Bát Tràng hiện nay chỉ chủ yếu phục vụ
cho nhu cầu sinh hoạt của ngời dân và sản xuất cũng mới chỉ dừng ở sản xuất thủ
công. Trong khi đó, phát triển du lịch và tạo ra các sản phẩm đặc trng phục vụ cho
khách du lịch mới là hình thức phát triển của kinh tế dịch vụ.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Là một sinh viên của ngành du lịch, em rất mong đợc đóng góp những nghiên
cứu, nhận định của mình và đa ra một số giải pháp để Bát Tràng không những là
địa phơng có sự phát triển kinh tế bằng nghề truyền thống vốn có mà còn trở thành
một nơi cung cấp các sản phẩm, đồ lu niệm cho khách du lịch cũng nh một điểm
du lịch nổi tiếng, đóng góp chung vào sự phát triển du lịch của Việt Nam.

Chơng I
Lịch sử hình thành và đặc điểm của

công cụ thủ công, công nghệ sản xuất mang tính đơn chiếc. Nhiều loại
sản phẩm có công nghệ- kỹ thuật hoàn toàn phải dựa vào đôi bàn tay
khéo léo của ngời thợ mặc dù hiện nay đã có sự cơ khí hoá và điện khí
hoá từng bớc trong sản xuất, song cũng chỉ có một số không nhiều nghề
có khả năng cơ giới hoá đợc một số công đoạn trong sản xuất sản phẩm.
Ba là, đại bộ phận nguyên vật liệu của các làng nghề thờng là tại chỗ.
Hầu hết các làng nghề truyền thống đợc hình thành xuất phát từ sự sẵn
có của nguồn nguyên liệu sẵn có tại chỗ, trên địa bàn địa phơng. Cũng
có thể có một số nguyên liệu phải nhập từ vùng khác hoặc từ nớc ngoài
nh một số loại chỉ thêu, thuốc nhuộm... song không nhiều.
Bốn là, phần đông lao động trong các làng nghề là lao động thủ công,
nhờ vào kỹ thuật khéo léo, tinh xảo của đôi bàn tay, vào đầu óc thẩm mỹ
và sáng tạo của ngời thợ, của các nghệ nhân. Trớc kia, do trình độ khoa
học và công nghệ cha phát triển thì hầu hết các công đoạn trong quy
trình sản xuất đều là thủ công, giản đơn. Ngày nay, cùng với sự phát
triển của khoa học- công nghệ, việc ứng dụng khoa học- công nghệ mới
vào nhiều công đoạn trong sản xuất của làng nghề đã giảm bớt đợc lợng
lao động thủ công, giản đơn. Tuy nhiên, một số loại sản phẩm còn có
một số công đoạn trong quy trình sản xuất vẫn phải duy trì kỹ thuật lao
động thủ công tinh xảo. Việc dạy nghề trớc đây chủ yếu theo phơng thức
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
truyền nghề trong các gia đinh từ đời này sang đời khác và chỉ khuôn lại
trong từng làng. Sau hoà bình lập lại, nhiều cơ sở quốc doanh và hợp tác
xã làm nghề thủ công truyền thống ra đời, làm cho phơng thức truyền
nghề và dậy nghề đã có nhiều thay đổi, mang tính đa dạng và phong phú
hơn.
Năm là, sản phẩm làng nghề, đặc biệt là làng nghề mang tính đơn chiếc,
có tính mỹ thuật cao, mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc. Các sản phẩm
làng nghề truyền thống vừa có giá trị sử dụng, vừa có giá trị thẩm mỹ
cao, vì nhiều loại sản phẩm vừa phục vụ nhu cầu tiêu dùng, vừa là vật

có những kỹ năng và sự sáng tạo nhất định. Từ sự sáng tạo của họ, quy
trình sản xuất và sản phẩm không ngừng đợc bổ sung và hoàn thiện. Rồi
họ truyền nghề cho dân c trong làng, làm cho nghề đó ngày càng lan
truyền ra khắp làng và tạo thành làng nghề.
Thứ ba là, một số làng nghề hình thành do có những ngời đi nơi khác
học nghề rồi về dạy lại cho những ngời khác trong gia đình, dòng họ và
mở rộng dần phạm vi ra khắp làng.
Thứ t, một số làng nghề mới hình thành trong những năm gần đây, sau
năm 1954 đợc hình thành một cách có chủ ý do các địa phơng thực hiện
chủ trơng phát triển nghề phụ trong các hợp tác xã nông nghiệp.
Thứ năm là, trong thời kỳ đổi mới hiện nay, có một số làng nghề đang đ-
ợc hình thành trên cơ sở sự lan toả dần từ một số làng nghề truyền thống,
tạo thành một cụm làng nghề trên một vùng lãnh thổ lân cận với làng
nghề truyền thống.
4. Điều kiện hình thành các làng nghề.
Nghiên cứu sự phân bố của các làng nghề cho thấy, sự tồn tại và phát triển
của các làng nghề cần phải có những điều kiện cơ bản nhất định:
Một là, gần đờng giao thông. Hầu hết các làng nghề cổ truyền đều nằm
trên các đầu mối giao thông quan trọng, đặc biệt là những đầu mối giao
thông thuỷ bộ.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Hai là, gần nguồn nguyên liệu. Hầu nh không có làng nghề nào lại
không gắn bó chặt chẽ với một trong những nguồn nguyên liệu chủ yếu
phục vụ cho sản xuất của làng nghề.
Ba là, gần nơi tiêu thụ hoặc thị trờng chính. Đó là những nơi tập trung
dân c với mật độ khá cao, gần bến sông, bãi chợ và đặc biệt là rất gần
hoặc không quá xa các trung tâm thơng mại.
Bốn là, sức ép về kinh tế. Biểu hiện rõ nhất thờng là sự hình thành và
phát triển của các làng nghề ở những nơi ít ruộng đất, mật độ dân số cao,
đất chật ngời đông, thêm vào đó có khi còn là do chất đất hoặc khí hậu

Thực ra nghề làm gốm ở Việt Nam đã có một lịch sử phát triển từ rất sớm.
Hiện nay khảo cổ học Việt Nam đã phát hiện ra những dấu vết đồ gốm thô có niên
đại 6000 năm trớc. Chuyển đến giai đoạn gốm Phùng Nguyên, Gò Mun (Vĩnh
Phú) thời đầu các vua Hùng, thì chất lợng gốm đã cao hơn, chắc hơn với độ nung
800-900 độ C. Các sản phẩm gốm trong giai đoạn này có xơng gốm bớc đầu đợc
tinh luyện, kỹ thuật tạo dáng đã đẹp và tiện dụng hơn. Hoa văn trang trí đợc thể
hiện bằng các phơng pháp chải, rạch, dập và in. Ngời thợ gốm đã loại bỏ dần
những yếu tố ngẫu nhiên, bắt đầu quan tâm đến cái đẹp của từng loại sản phẩm.
Đến giai đoạn gốm men Đại Việt (từ thế kỷ XI trở đi) thì một số trung tâm gốm đã
hình thành trên đất nớc ta nh vùng gốm Hà Bắc, Thanh Hoá, Thăng Long, Đà
Nẵng,... Những sản phẩm gốm dân dụng kết hợp với nghề làm gạch ngói đáp ứng
yêu cầu xây dựng chùa, tháp nh chùa Phật Tích (Hà Bắc) Quốc Tử giám (Hà Nội),
tháp Chàm (Quảng Nam, Đà nẵng),... Đặc biệt ở thời Trần, có trung tâm gốm
Thiên Trờng (Hà Nam Ninh) với các sản phẩm tiêu biểu nh bát, đĩa, bình lọ phủ
men ngọc, men nâu ,... Nh thế thì đâu phải có sự truyền dạy của thợ gốm Tàu mới
có nghề gốm ở Bát Tràng, Thổ Hà, Phù Lãng... Duy chỉ có truyền thuyết nói về
việc dân làng ở Bát Tràng từ Bồ Bát chuyển c ra Bắc và định c ở hữu ngạn sông
Hồng, phía dới Thăng Long, để tiện việc chuyên chở nguyên liệu và thành phẩm là
phù hợp với lịch sử. Nghề gốm ở Bát Tràng gắn liền với quá trình lập làng. Do vậy,
thời điểm chuyển c hợp lý nhất của ngời làng Bồ Bát phải là vào khoảng cuối thời
Trần (thế kỷ XIV) và có thể coi đó là thời điểm mở đầu của làng gốm .
*
Làng nghề, phố nghề Thăng Long- Hà Nội, Bộ Văn hoá thông tin, Trung tâm Triển lãm văn hoá nghệ thuật Việt
Nam, Hà Nội, năm 2000, trang89.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Một thực tế cho thấy ngời dân làng Bát không thờ tổ nghề nh các làng nghề
thủ công khác. Chỉ có điều vào các dịp lễ hội thờ thành hoàng làng hàng năm, dân
làng rớc các bài vị đề duệ hiệu, mỹ tự của các thần ra đình tế lễ, các dòng họ đợc
rớc tổ của mình ra phối hởng. Riêng họ Nguyễn Ninh Tràng, là họ đầu tiên chuyển
ra làng Bát, đợc quyền rớc bát hơng che lọng vàng, đi vào giữa đình. Còn các họ

sành trắng.
Trong khâu tạo dáng đồ gốm, xa kia ở Bát Tràng phổ bíến là lối be chạch
vuốt tay trên bàn xoay. Tuỳ theo vật dụng định làm mà ngời thợ dùng chân để
xoay, dùng tay để vuốt. Kết quả họ đã tạo ra những sản phẩm đơn chiếc. Kiểu vuốt
này ở Bát Tràng hiện còn rất ít ngời thợ gốm làm đợc. Gần đây tính công nghiệp
của sản phẩm gốm đã đợc đẩy mạnh hơn khi xuất hiện các loại khuôn gỗ và thạch
cao. Ngời thợ sáng tác ra một mẫu nào đó gọi là cốt, sau đó ngời ta làm khuôn để
sản xuất cho ra hàng loạt. Ưu điểm của loại kỹ thuật này là làm ra đợc những mặt
hàng giống nhau và giá thành hạ.
Chế tạo men gốm là một bí quyết nhà nghề. Khoảng cuối thế kỷ XIV về tr-
ớc, men ngọc đã đợc chế tạo từ hai thành phần chính là đất sét trắng phờng Bạch
Thổ và ôxit đồng dạng bột tán nhỏ. Từ thời Lê sơ trở đi (đầu thế kỷ XV), ngời thợ
Bát Tràng đã chế tạo ra loại men gio, có màu trắng đục. Đây là loại men đợc chế
từ ba thành phần chính là: đất sét trắng phờng Bạch Thổ, vôi sống để tởi, gio cây
Lâu cụt và gio Sung, cũng có khi họ dùng gio trấu của làng Quế, làng Lờng. Ngoài
men gio, ngời thợ Bát Tràng đã chế ra loại men nâu sôcôla. Men này bao gồm
men gio cộng thêm 5% đá thối (hỗn hợp ôxit sắt -mangan) lấy từ Phù Lãng (Bắc
Ninh).
Cũng từ thế kỷ XV, ngời thợ Bát Tràng đã chế đợc loại men lam nổi tiếng.
Loại men này đợc chế từ đá đỏ (ôxit coban), đá thối (ôxit mangan) nghiền nhỏ rồi
trộn với men áo. Men này phát màu ở nhiệt độ: 125 độ C. Cho đến đầu thế kỷ
XVII, một loại men mới đã đợc khám phá là men rạn, đây là loại men đợc điều
chế từ vôi sống, gio trấu và riêng thành phần cao lanh Tử Lạc trắng đợc thay thế
bởi cao lanh màu hồng nhạt lấy tại chùa Hội (Bích Nhôi -Hải Dơng). Tỷ lệ của ba
thành phần này đợc thêm gia giảm để tạo ra các loại men rạn khác nhau.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Bao nung đợc coi là một trong những khâu quan trọng của kỹ thuật nung.
Chính những viên gạch vuông - sản phẩm đặc biệt của lò gốm Bát Tràng, xuất
hiện là do yêu cầu của cấu trúc lò, đồng thời cũng là những bao nung sản phẩm.
ở Bát Tràng còn truyền tụng đôi câu đối ca ngợi kỹ thuật nung gốm:

5 cm hoặc 30cm x 15cm x 3.5cm đến 5cm .
Cho tới giữ thế kỷ XIX, ở Bát Tràng đã xuất hiện lò đàn cùng với kiểu lò
gốm cổ Phù Lãng, nhng đợc xây dựng với những cấu kiện hoàn chỉnh hơn và có
hiệu suất nhiệt cao. Bầu lò sâu 9m, rộng 2,5m và cao 2,6m, đợc chia ra 10 bích
bằng nhau. Các bích phân cách nhau bằng hai nống (cột). Cửa lò rộng 0,9m cao
1,2m để ngời thợ vào chồng lò và dỡ lò. Kế tiếp gáy lò là những buồng thu khí,
bích số 10 thông với buồng thu khí qua 3 cửa hẹp. Khói thoát ra từ bích đậu theo
hai ống thu dẫn tới miệng để giữ nhiệt hông lò kéo dài và ôm lấy buồng thu khói.
Lớp vách trong ghép bằng gạch Bát tràng, lớp vách ngoài xây bằng gạch dân dụng.
Mặt dới của cật lò gần nh phẳng còn mặt tên khung vòng tựa nh con thuyền úp.
Cật lò đợc tạo bằng hỗn hợp đất sét Cổ Điển trộn với gạch chín vỡ hoặc gốm vỡ
nghiền nhỏ, hai bên cật lò, từ bích 2 đến bích 9 ứng với khoảng giữa hai bích có
hai cửa nhỏ hình tròn đờng kính khoảng 0,2 mét gọi là các lỗ giời để ném nhiên
liệu vào trong bích. Riêng bích đậu, lỗ giời rộng hơn nửa mét, gọi là lỗ đậu. Nhiệt
độ lò đàn có thể đạt đợc từ 1250
0
C đến 1300
0
C. Sản phẩm gốm men lò đàn rất
phong phú và đó chính là nguồn gốc hình thành phố Bát Đàn ở Hà Nội .
Vào khoảng những năm 1930, ở Bát Tràng bắt đầu xuất hiện và đi vào hoạt
động kiểu lò bầu (cũng gọi là lò rồng). Lò chia nhiều ngăn, thờng có 5 đến 7 bầu.
Bầu lò có vòm cuốn liên tiếp với trục tiêu của lò, tựa nh năm, bảy mảnh vỏ sò úp
nối nhau. Vòm cuốn lò dùng loại gạch chịu lửa. Độ nghiêng của trục lò so với ph-
ơng nằm ngang từ 12ữ15 độ. Lò bầu có thể tích khoảng 50ữ70 m
3
, nhiên liệu chi
phí từ 330 ữ 350 kg (trên dới 40% là củi, còn lại là than). Nhiệt độ của lò bầu có
thể đạt tới 1300
0

2. Phờng dựng lò.
Khi xa, lò ếch cỡ nhỏ còn bao hẹp trong phạm vi gia đình. Mỗi khi dựng lò
đều có những bàn tay, khối óc của những ngời thợ tài giỏi về dựng, các lò trong
cùng phờng Bạch Thổ góp ý, góp công. Ngời chủ gia đình chỉ phải lo bữa cơm
chén nớc thay cho công sá. Đến khi các lò ếch nhỏ lụi dần, những lò đàn, lò bầu
cỡ lớn xuất hiện thì cũng đồng thời hình thành phờng dựng lò. Phờng thợ dựng lò
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
thờng do những thợ giỏi làng Giang Cao đảm nhận. Phờng này chịu trách nhiệm từ
việc xây cất ban đầu đến việc tu bổ, theo dõi sau mỗi mẻ lò.
3. Phờng chồng lò và đốt lò.
Câu ca dao ở Bát Tràng :
"Thứ nhất là cỗ đám ma
Thứ nhì đuổi lửa
Thứ ba chồng lò"
đã khẳng định mức độ nặng nhọc cùng tầm quan trọng của việc chồng lò và
đốt lò trong sản xuất gốm.
Phờng chồng lò và phờng đốt lò do ngời Sài Sơn (Hà Tây) và ở Vân Đình
(Hà Đông) đảm nhận. Phờng chồng lò thờng có 7 ngời: ba thợ cả, ba thợ đệm và
một thợ học việc.
Thời điểm nhóm lò là những giờ phút trọng đại nhất của vùng quê gốm cổ
truyền này. Theo quan niệm xa đó là thời điểm của những sản phẩm kết tạo đẹp
nhất sắp sửa hiến tế cho thần lửa trở nên vĩnh cửu. Ngời thợ cả nhiều tuổi nhất
thắp ba nén hơng với lòng thành kính để thông đạt với trời, với thần Bạch Mã
(Thần lửa). Họ cầu mong : ít củi, nhiều lửa, đứng cửa, vuông cây". Vì vậy, với
quan niệm về niềm tin và con số 9 (cửu) và 3 (tam) biểu tợng của tam tài: Trời,
Đất và Ngời, ngời chồng lò đã chia thành ba chồng xếp sản phẩm cho chín bầu cửa
lò đàn nh sau:
- Nhóm chồng đáy: xếp bao và sản phẩm ba lớp từ đáy lên
- Nhóm chồng giữa: xếp ba lớp giữa
- Nhóm gọi mặt: xếp ba lớp cuối cùng (cao nhất) là gọi mặt (nghĩa là xếp

chật hẹp nên ngời dân Bát Tràng phải tận dụng từng tấc đất để vừa làm nhà ở, vừa
dựng lò sản xuất. Năm 1958, khi tiến hành xây dựng công trình Bắc- Hng - Hải,
ngời ta đã phát hiện đợc dấu tích của bể nớc, sân gạch, lò gốm chìm sâu dới lòng
đất tới 12ữ13 m. Vì đất đai chật hẹp nh thế nên ngời Bát Tràng có câu "Sống ở
chật, chết chôn nhờ" (Đến nay xã Bát Tràng vẫn còn một nghĩa trang chôn nhờ
trên đất Thuận Tốn, xã Đa Tốn).
Mở đầu hơng ớc của làng, ngời dân làng Bát đã nêu cao tình làng nghĩa
xóm, đạo lý sống ở đời:
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Lấy nhân đức khuyên bảo nhau chớ kể giàu nghèo
Lấy điều phải làm lẽ sống, phải luôn tự sửa mình
Đối xử với nhau theo lẽ tục không nên lấn lớt
Hoạn nạn giúp nhau không đợc manh tâm chiếm đoạt .
Dẫu rằng những ngời thợ gốm chỉ đợc xếp vào hạng thứ hai trong làng (sau
các quan văn võ và những ngời giàu có), nhng hàng năm vào tháng hai âm lịch,
ngày đầu tiên vào đám, làng biện lễ ra đình một con trâu tơ thật béo, thui vàng, đặt
trên chiếc bàn lớn, kèm theo là sáu mâm cỗ và bốn mâm xôi. Khi lễ xong cỗ đợc
hạ xuống chia đều cho các vách (hạng) cùng nhau ăn uống vui vẻ.
Đối với việc ma chay, làng lập ra Hội nghĩa không phân biệt giàu nghèo,
nghề nghiệp, tuổi tác. Hàng tháng, hội quy định mỗi ngời đóng góp vài đồng kẽm
làm quỹ để lo việc đèn hơng, phúng viếng ngời quá cố. Gia đình nào có việc hiếu
nếu cần, đến mời sẽ có ngời đến khênh giúp. Làng lại có quy định mỗi đám tang
đều phải vác hai tấm biển đi trớc, nếu là đàn ông thì viết hai chữ Nho Trung tín
bằng vôi trắng, còn đàn bà thì viết hai chữ Trinh thuận. Ngời nào khi sống mắc
phải những lỗi lầm thì hai tấm biển để trắng. Đây là hình thức giáo dục tế nhị đối
với mọi ngời trong trong làng xóm, cộng đồng. Riêng đối với ngời thợ gốm, họ có
tập tục thể hiện tính nghề nghiệp và cảm động. Con dao mây là vật tuỳ thân rất
gần gũi với đàn ông làng gốm Bát Tràng. Khi sống họ luôn mang bên mình, khi
qua đời thì hầu nh ngời thợ gốm nào cũng dặn con cháu hãy chôn theo mình con
dao thân thiết ấy.

May sao, ít năm gần đây, ngời ta đã tìm thấy một vài dấu hiệu đáng mừng ở
Đa Tốn, cách Bát Tràng không đầy hai cây số. Đó là những su tập gốm men cổ
đáng quan tâm, có thể gián tiếp đóng góp vào việc tìm hiểu nghề gốm Bát Tràng.
Đa Tốn vốn không phải là xã có nghề gốm truyền thống. Đa Tốn là xã thuần nông
nghiệp, có lịch sử lập làng cách ngày nay trên 2000 năm. Nhân dân Đa Tốn đã
phát hiện sản phẩm gốm men của nhiều thời đã qua, đặc biệt là các su tập gốm
men thời Trần và Lê sơ tìm thấy ở Đào Xuyên và Lê Xá. Su tập gốm thời Trần có
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
nhiều kiểu dáng: bát, đĩa, âu, mảng bệ tợng, đợc trang trí nổi hoa cúc, hoa sen, hoa
dây cách điệu và phủ men ngọc xanh, hay men vàng ngà thuộc cùng loại đồ gốm
tìm thấy ở Hoa L (Ninh Bình), đền Hùng (Phú Thọ), Vân Đồn (Quảng Ninh). Lý
thú hơn, lại thấy cả bát và đĩa ngây (nung cha chín) và lại có chiếc nứt, rạn,
cong vênh. Rõ ràng đây là những thứ phẩm của lò gốm. Cùng chỗ phát hiện đồ
gốm này còn có nhiều lon sành các cỡ, rất có thể là mấy loại bao nung. Su tập gốm
thời Lê sơ có hai chiếc chậu gốm hoa nâu và mấy chiếc đĩa hoa lam cỡ to. Chậu
gốm hoa nâu vẽ hoa dây cách điệu hình sin khắc chìm rồi tô nâu. Đĩa hoa lam nền
trắng ngà, hoa văn trang trí đơn giản, chỉ là một bông hoa, xung quanh có vài
nhánh lá, xanh màu chì, vẽ bằng bút lông mềm mại. Có lẽ không còn phải nghi
ngờ gì nữa về xuất xứ của những su tập gốm này là của lò gốm Bát Tràng cuối thế
kỷ XIV, đầu thế kỷ XV. Những nguồn thông tin khảo cổ học và bảo tàng còn cho
biết, rất nhiều bảo tàng trên thế giới xây dựng su tập riêng về gốm Việt Nam nh ở
Nhật Bản, Philippin, Pháp, Bỉ, Thổ Nhĩ Kỳ,... Trong số đó chắc hẳn còn nhiều sản
phẩm có xuất xứ nơi sản xuất là lò gốm Bát Tràng. Nhiều học giả nớc ngoài ham
muốn đi tìm mối quan hệ giao lu văn hoá từ những đồ gốm men do dựa trên các dữ
kiện về kiểu dáng và trang trí. Xem tài liệu giới thiệu cuộc triển lãm do Hội gốm
sứ Đông Nam á tổ chức tại Bảo tàng quốc gia Singapo hồi tháng 6/1982, có thể
thấy rõ những bức ảnh chụp bát đĩa chứng minh vấn đề quan hệ giao thơng của đồ
gốm Bát Tràng với đồ gốm Su Khô Thai (Thái Lan), Nam Trung Quốc và Nhật
Bản. Tiêu biểu là loại đĩa cỡ to vẽ hoa lam của Bát Tràng thời Lê sơ.
Tại hải cảng Hacata, một cảng sầm uất từ thế kỷ XII-XIV thuộc đảo Kiusiu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status