Nghiên cứu khoa học một số kết QUẢ NGHIÊN cứu đặc điểm SINH THÁI, vật hậu, kỹ THUẬT NHÂN GIỐNG cây THANH THẤT (AILANTHUS TRIPHYSA (DENNST) ALSTON) - Pdf 32

MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI, VẬT HẬU, KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG CÂY
THANH THẤT (AILANTHUS TRIPHYSA (DENNST) ALSTON)

Phạm Văn Bốn
Phân viện Nghiên cứu Khoa học Lâm nghiệp Nam Bộ

TÓM TẮT
Kết quả nghiên cứu ban đầu cho thấy Thanh thất có phân bố nhiều ở khu vực Phú Yên và Bình Định.
Loại đất chủ yếu ở đây là feralit phát triển trên đá Granite, tầng đất mỏng, thành phần cơ giới nhẹ, hơi chua.
Thanh thất phân bố chủ yếu ở độ cao dưới 300m so với mực nước biển, chủ yếu ở các trạng thái rừng thứ
sinh, khoảng trống trong rừng, ven đường, ven rừng trồng, ven nương rẫy và dọc theo các khe suối; Khả
năng tái sinh tự nhiên của Thanh thất kém. Mật độ cây tái sinh ở các cấp độ tàn che của tán rừng có sự
khác nhau lớn, giảm rõ rệt theo hướng tăng của cấp độ tàn che của tán rừng; Thanh thất ra hoa vào tháng
2-3, quả chín vào tháng 5-6 ở khu vực Đông Nam Bộ. Ở khu vực Nam Trung Bộ thì chậm hơn khoảng 1
tháng. Tỷ lệ cây ra hoa đạt 90%, tỷ lệ cây đậu quả 50%; Sinh trưởng rừng trồng Thanh thất ở Phú Yên và
Bình Phước có sự chênh lệch lớn. Ở Phú Yên sinh trưởng rất chậm, tăng trưởng bình quân năm về đường
kính chỉ đạt 0,82-1,04cm/năm và chiều cao là 0,46-0,72m/năm. Ở Bình Phước sinh trưởng khá nhanh, tăng
trưởng bình quân năm về đường kính đạt 2,63cm/năm, về chiều cao là 1,65m/năm. Hạt Thanh thất rất dễ xử
lý nẩy mần, có thể xử lý bằng nước lạnh hoặc nước ấm (2 sôi + 3 lạnh); Trong điều kiện môi trường thông
thường hạt mất sức nảy mầm sau 2-3 tháng. Tuy nhiên, trong môi trường lạnh ở 10oC sau 12 tháng tỷ lệ
nảy mầm có thể còn 70%; Ánh sáng có ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây Thanh thất trong giai đoạn gieo
ươm, cấp độ che bóng 25% cho kết quả tốt nhất. Hỗn hợp ruột bầu có ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng
của cây Thanh thất trong giai đoạn gieo ươm. Hai công thức hỗn hợp ruột bầu có hiệu quả tương đương
nhau, vượt trội so với công thức đối chứng và các công thức khác là: hỗn hợp (90%đất + 10% phân bò hoai)
và hỗn hợp (89%đất + 10% phân bò hoai + 1% phân VSSG).
Từ khóa: Sinh thái, Vật hậu, Nhân giống, Cây Thanh thất

I. MỞ ĐẦU
Thanh thất là cây gỗ lớn, mọc nhanh, phân bố rộng ngoài tự nhiên, gỗ mềm, thớ thẳng, mịn, dễ bóc, sử
dụng làm gỗ dán, bao bì, sản xuất diêm..., có khả năng thích hợp cho việc trồng rừng cung cấp gỗ lớn ở Việt
Nam... Theo tác giả Phạm Đình Tam và các cộng sự thì Thanh thất là một trong những cây sẽ được thị

CT2: Bảo quản khô trong lọ kín.
o

CT3: Bảo quản ở nhiệt độ 10 C.
Thời gian theo dõi 12 tháng. Định kỳ kiểm tra tỷ lệ nẩy mầm của hạt 1 tháng/lần. Dung lượng mẫu kiểm
tra 50 hạt, lặp lại 3 lần.

2.4. Nghiên cứu kỹ thuật gieo ươm
Nghiên cứu kỹ thuật xử lý hạt nẩy mầm
CT1: Phương pháp xử lý bằng nước lạnh
CT2: Phương pháp xử lý bằng nước ấm (2 sôi + 3 lạnh)
Dung lượng mẫu 50 cây, 3 lần lặp. Ngâm hạt trong thời gian 8 giờ, rửa chua rồi mang đi ủ trong cát ẩm.
Nghiên cứu ảnh hưởng của che bóng
CT1: Không che bóng
CT2: Che bóng 25%
CT3: Che bóng 50%
CT4: Che bóng 75%
Thời gian theo dõi trong 6 tháng. Định kỳ đo đếm số liệu 1lần/tháng. Dung lượng mẫu kiểm tra là 50 cây,
lặp lại 3 lần.
Nghiên cứu ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu
CT1: 100% đất.
CT2: 99% đất +1% super lân.
CT3: 99% đất + 1% VSSG
CT4: 90% đất + 10% phân bò hoai.
CT5: 89% đất + 10% phân bò hoai + 1% VSSG
CT6: 60% đất + 39% cát + 1% super lân.
CT7: 93% đất + 5% tro + 1% super lân + 1% VSSG
Thời gian theo dõi 6 tháng, định kỳ đo đếm số liệu 1lần/tháng. Dung lượng mẫu 50 cây, lặp lại 3 lần.

2.5. Phương pháp xử lý số liệu


P2O5

K2O



0,054

0,402

24,80

22,25

52,14

0-10

5,84

2,419

0,090

0,082

0,939

25,48

22,15

52,08

10-40


17,66

58,13

Kết quả trên cho thấy đất ở khu vực điều tra có độ phì thấp, đất chua (pH50%). Đây cũng là đặc điểm chung của nhóm
đất xám. Như vậy, có thể nói Thanh thất là loài cây không kén đất có thể gây trồng trên đất xấu, nghèo dinh
dưỡng.

3.2. Đặc điểm phân bố của Thanh thất theo độ cao so với mực nước biển
Độ cao so với mực nước biển có ảnh hưởng lớn đến sự phân bố của các loài cây nói chung và Thanh
thất nói riêng. Do có sự biến đổi về điều kiện tiểu khí hậu, độ phì đất,…. Kết quả điều tra phân bố của cây
Thanh thất theo các cấp độ cao khác nhau ở 2 tỉnh Phú Yên và Bình Định, được thể hiện ở bảng 2:
Bảng 2. Phân bố Thanh thất theo độ cao
TT

Cấp độ cao so
với mực nước
biển

Mật độ Thanh
thất (cây/ha)

1

> 600m

0


Muồng ràng ràng, Mít rừng, Bưởi
bung, Hu đay, …
Thành ngạnh, Lòng mang, Thừng
mực, Gõ đỏ, Thao kén, Muồng ràng
ràng, Thẩu tấu, Sổ, Hu đay,…

Bảng trên cho thấy, phân bố Thanh thất có xu hướng giảm dần theo chiều tăng độ cao so với mực nước
biển, từ 288 cây/ha ở độ cao 100m, xuống còn 100 cây/ha ở độ cao 100-300m, ở độ cao 300-600m chỉ còn
55 cây/ha và tới độ cao trên 600m thì hầu như không thấy Thanh thất xuất hiện. Qua quan sát ngoài thực
địa cho thấy, Thanh thất phân bố nhiều ven đường đi, ven nương rẫy, các khe suối, cùng với các loài cây
tiên phong ưa sáng như Thành ngạnh, Trâm, Dền, Thẩu tấu…. Điều này chứng tỏ Thanh thất cũng là loài
cây tiên phong ưa sáng.

118


Thanh thất mọc ven đường đi, ven rừng trồng Bạch đàn
3.3. Tổ thành cây gỗ theo trạng thái rừng
Tổ thành cây gỗ theo trạng thái có một ý nghĩa quan trọng, nó cho thấy được quan hệ giữa các loài, vai
trò của từng loài trong quần xã; từ đó có biện pháp tác động phù hợp. Trong trồng rừng ta có thể áp dụng
mô hình rừng tự nhiên vào rừng trồng. Kết quả điều tra tổ thành cây gỗ theo các trạng thái rừng ở Phú Yên
và Bình Định, được thể hiện ở bảng 3:
Bảng 3. Tổ thành cây gỗ theo trạng thái rừng
TT

Trạng
thái

1


Ghi chú

Nhận xét
Ở khu vực điều tra, rừng đã bị tác động mạnh, chỉ còn 4 trạng thái rừng phổ biến là: Ic, IIa, IIb, IIIa. Bảng
trên cho thấy, thành phần loài cây tương đối phức tạp; tuy nhiên, phần lớn là các loài cây tiên phong ưa
sáng, cây gỗ có phẩm chất xấu. Trong các trạng thái rừng kể trên, Thanh thất chỉ tham gia vào công thức tổ
thành ở 2 trạng thái Ic và IIa, với tỷ lệ không lớn. Điều này chứng tỏ Thanh thất có vai trò không lớn trong
quần thể rừng ở đây.

119


3.4. Một số đặc điểm tái sinh của cây Thanh thất
Mật độ cây tái sinh theo cấp chiều cao
Bảng 4. Mật độ cây tái sinh theo cấp chiều cao
TT

Thành phần

1
2

Mật độ cây theo cấp chiều cao (cây/ha)
100 cm

Tổng số


Độ tàn che (%)

Mật độ (cây/ha)

Cây có triển vọng
(cây/ha)

Tỷ lệ cây triển vọng
(%)

1


Trong khu vực Nam Trung Bộ, Thanh thất ra hoa vào tháng 3-4, quả chín vào tháng 6-7. Tỷ lệ cây ra hoa
đạt 90%, số cây đậu quả 50%. Ngoài ra Thanh thất còn ra hoa rải rác vào các tháng khác trong năm, tuy
nhiên tỷ lệ đậu quả thấp.
Đặc điểm hình thái quả: Quả dẹt, dạng cánh. Mỗi quả chỉ có 1 hạt. Quả phát tán nhờ gió. Hạt không có
vỏ cứng bảo vệ nên dễ bị ảnh hưởng bởi các tác nhân môi trường. Cần thu hái quả khi vừa chín tới để bảo
quản.
Chỉ thị quả chín: Quả khi non có màu xanh nõn chuối, khi già chuyển sang mầu xanh vàng, chín chuyển
sang mầu vàng cánh gián. Lúc này có thể thu hái quả để chế biến, bảo quản. Thời điểm thu hái tốt nhất vào
lúc lâm phần có trên 50% số cây có quả chín.
Cách thu hái quả: Trèo lên cây hoặc đứng dưới dùng cù nèo, móc giật từng chùm quả chín. Sau khi thu
hái, quả được phân loại. Những quả chưa chín hẳn (chưa chuyển mầu cánh gián hoàn toàn), được đem đi ủ
thành đống 2-3 ngày cho quả chín đều. Quả chín được hong khô trong nhà, tránh phơi trực tiếp dưới ánh
sáng mặt trời. Hạt sau khi bóc tách, tiến hành chế biến và bảo quản ngay.
3.6. Tình hình sinh trưởng của một số mô hình rừng trồng Thanh thất ở Phú Yên và Bình Phước
Hiện đã có một số đơn vị nghiên cứu gây trồng và một số mô hình rừng trồng Thanh thất được trồng thử
nghiệm. Tuy nhiên, diện tích các mô hình không lớn. Kết quả điều tra một số mô hình rừng trồng Thanh thất
ở Phú Yên và Bình Phước được thể hiện dưới đây:

120


Bảng 6. Sinh trưởng rừng trồng Thanh thất ở Phú Yên và Bình Phước

Địa điểm

Năm
trồng

Tg điều
tra


6,09

1,04

0,72

Phú Yên

2001

6/2007

625

83,2

4,42

2,57

0,80

0,47

Phú Yên

2002

6/2007


Bình Phước

2002

7/2007

830

84

13,14

8,24

2,63

1,65

Bảng trên cho thấy sinh trưởng rừng trồng Thanh thất ở Phú Yên rất chậm, tăng trưởng bình quân năm
về đường kính chỉ đạt 0,82-1,04cm/năm và chiều cao là 0,46-0,72m/năm. Rừng trồng Thanh thất ở Bình
Phước sinh trưởng khá nhanh, tăng trưởng bình quân năm về đường kính đạt 2,63cm/năm, về chiều cao là
1,65m/năm. Như vậy sinh trưởng của rừng trồng Thanh thất ở hai khu vực chênh lệch nhau khá lớn.
Kết quả phân tích đất cho thấy độ phì đất tại Phú Yên không kém so với địa điểm Bình Phước thậm chí
còn cao hơn. Mặt khác đây là khu vực mà Thanh thất phân bố ngoài tự nhiên rất nhiều. Từ đó thể nói rằng
nguyên nhân dẫn đến Thanh thất sinh trưởng chậm ở Phú Yên không phải là do tính chất đất hay do khí hậu
mà có thể do kỹ thuật trồng, chăm sóc. Việc đánh giá tìm hiểu kỹ thuật trồng chủ yếu dựa vào hồ sơ rừng
trồng. Thực tế thì việc tìm hiều kỹ thuật trồng rừng gặp nhiều khó khăn do việc triển khai ngoài hiện trường
thường khác nhiều so với thuyết minh thiết kế trong hồ sơ. Về kỹ thuật chăm sóc có thể đánh giá thông qua
thực trạng thực bì dưới tán rừng. Quá trình điều tra cho thấy rừng trồng ở Thanh thất ở Phú Yên có mật độ

Xử lý hạt nẩy mầm là một trong những khâu đầu tiên và quan trọng trong quá trình tạo cây giống trồng
rừng. Tuỳ theo đặc điểm hình thái bên bên ngoài của hạt để lựa chọn biện pháp xử lý hạt cho phù hợp. Hạt
Thanh thất không có vỏ cứng bảo vệ nên rất dễ bị ảnh hưởng bởi các tác nhân bên ngoài như độ ẩm, nhiệt
độ, vi sinh vật, nấm. Căn cứ vào hình thái này đề tài đã thử nghiệm hai phương pháp xử lý hạt là: Phương
pháp xử lý bằng nước lạnh và phương pháp xử lý bằng nước ấm (2 sôi + 3 lạnh). Kết quả cho thấy tỷ lệ nẩy
mầm, thế nẩy mầm, thời gian nẩy mầm ở 2 phương pháp là tương đượng nhau. Điều này cho thấy hạt
Thanh thất rất dễ xử lý nẩy mầm.
Ảnh hưởng của che bóng đến sinh trưởng Thanh thất trong vườn ươm
Bảng 7. Ảnh hưởng của che bóng đến sinh trưởng Thanh thất
Thời
gian

2 tháng
tuổi

3 tháng
tuổi

6 tháng
tuổi

TT

Công
thức

Doo (mm)

Sd



CT2

3,07

0,25

8,1

14,03

1,71

12,2

88,9

3

CT3

2,85

0,17

5,9

13,93

1,62


0,027

0,021

1

CT1

3,95

0,29

7,3

16,03

2,02

12,6

85,3

2

CT2

3,77

0,31


CT4

3,50

0,22

6,3

21,98

2,47

11,2

86,1

LSD

0,26

3,51

Fpr

0,03

0,023

1


14,5

88,9

3

CT3

6,23

1,41

21,6

27,2

4,38

16,1

87,8

4

CT4

5,95

1,0

Ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu tới sinh trưởng Thanh thất
Bảng 8. Ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu tới sinh trưởng của cây Thanh thất
Thời
gian

TT

Công
thức

Doo(mm)

Sd

V%

Hvn (m)

Sd

V%

TL sống
(%)

2 tháng
tuổi

1



0,14

4,4

15,67

1,93

12,3

96,7

3

CT3

2,76

0,14

5,1

14,51

1,89

13,0

86,7


2,23

11,7

90,0

6

CT6

2,80

0,15

5,4

14,62

1,77

12,1

86,7

7

CT7

3,42


0,11

4,4

14,74

1,62

11

84,0

2

CT2

4,09

0,41

10,0

20,59

3,00

14,6

95,6


3,76

10,6

92,2

5

CT5

5,76

0,55

9,6

32,47

3,39

10,4

88,9

6

CT6

3,39


LSD

0,43

3,47

Fpr



4,50

16,4

86,7

4

CT4

11,52

1,45

12,6

65,64

5,38

8,2

92,2

5

CT5

10,84


7

CT7

6,97

1,27

18,2

34,0

4,77

14,0

87,8

LSD

0,87

7,63

Fpr


quả chín có mầu vàng cánh gián. Thời điểm thu hái tốt nhất vào lúc lâm phần có trên 50% số cây có quả
chín.
Rừng trồng Thanh thất ở Phú Yên sinh trưởng rất chậm, tăng trưởng bình quân năm về đường kính chỉ
đạt 0,82-1,04cm/năm và chiều cao là 0,46-0,72m/năm. Rừng trồng Thanh thất ở Bình Phước sinh trưởng
khá nhanh, tăng trưởng bình quân năm về đường kính đạt 2,63cm/năm, về chiều cao là 1,65m/năm.
Hạt Thanh thất có thể xử lý bằng 2 phương pháp: phương pháp xử lý bằng nước lạnh và phương pháp
xử lý bằng nước ấm (2 sôi + 3 lạnh). Hạt giống có thể mất sức nẩy mầm sau 2-3 tháng ở điều kiện thông
thường. Trong môi trường lạnh ở nhiệt độ 10oC, sau 12 tháng tỷ lệ nẩy mầm còn 70%.
Ánh sáng có ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây Thanh thất trong giai đoạn gieo ươm. Trong các cấp độ
che bóng được nghiên cứu thì ở cấp độ che bóng 25% cho kết quả tốt nhất.
Hỗn hợp ruột bầu có ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng của cây Thanh thất trong giai đoạn gieo ươm. Hai
công thức hỗn hợp ruột bầu có hiệu quả tương đương nhau, vượt trội so với công thức đối chứng và các
công thức khác là: CT4 (90%đất + 10% phân bò hoai) và CT5 (89%đất + 10% phân bò hoai + 1% phân
VSSG).

124


Khuyến nghị
Quy mô điều tra đặc điểm sinh thái loài chưa đủ lớn (mới điều tra ở 2 tỉnh Phú Yên và Bình Định), chưa
phản ánh được đầy đủ đặc điểm sinh thái loài, vật hậu của loài. Cần tiếp tục mở rộng quy mô điều tra ra các
khu vực sinh thái khác.
Do hạn chế về thời gian, kinh phí nên một số kết quả nghiên cứu còn chưa thật sự khách quan. Cần tiếp
tục nghiên cứu bổ sung

TÀI LIỆU THAM KHẢO
Lê Mộng chân, Lê Thị Huyên, 2000. Thực vật rừng, NXB Nông nghiệp, Hà Nội.
Ngô Quang Đê, Nguyễn Hữu Vĩnh, 1997. Trồng rừng, NXB Nông nghiệp, Hà Nội.
Nguyễn Huy Sơn, 2007. Đặc điểm sinh lý và phương pháp bảo quản hạt giổi xanh (Michelia mediocris
Dany), Tạp chí Khoa học Lâm nghiệp, No.4/2007 (tr 475-478).


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status