Chương 1. Những vấn đề lý luận về cạnh tranh, chiến lược cạnh tranh và tăng
cường năng lực cạnh tranh ngân hàng.
1.1.Những vấn đề lý luận về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh:
1.1.1 Các quan niệm về cạnh tranh:
Cạnh tranh được hiểu bằng nhiều cách khác nhau. Từ “cạnh tranh” được giải thích là
sự cố gắng giành phần hơn, phần thắng về mình giữa những người, những tổ chức hoạt
động nhằm những lợi ích như nhau.
(1)
Trong tác phẩm “Quốc phú luận” của Adam
Smith, tác giả cho rằng cạnh tranh có thể phối hợp kinh tế một cách nhịp nhàng, có lợi
cho xã hội. Vì sự cạnh tranh trong quá trình của cải quốc dân tăng lên chủ yếu diễn ra
thông qua thị trường và giá cả, do đó, cạnh tranh có quan hệ chặt chẽ với cơ chế thị
trường. Theo Smith, “Nếu tự do cạnh tranh, các cá nhân chèn ép nhau, thì cạnh tranh
buộc mỗi cá nhân phải cố gắng làm công việc của mình một cách chính xác”, “Cạnh
tranh và thi đua thường tạo ra sự cố gắng lớn nhất. Ngược lại, chỉ có mục đích lớn lao
nhưng lại không có động cơ thúc đẩy thực hiện mục đích ấy thì rất ít có khả năng tạo ra
được bất kỳ sự cố gắng lớn nào”.
Trong tác phẩm “Về nguồn gốc của các loài”, Charles Robert Darwin đã đề ra tư
tưởng “vật cánh thiên trạch, thích giả sinh tồn”, đó là sự mô tả hay nhất về sự cạnh tranh
trong giới sinh vật. Quả vậy, không có cạnh tranh thì không có sự tiến bộ của sinh vật,
toàn bộ giới sinh vật, trong đó gồm cả loài người sẽ vì thiếu sức sống mà suy vong.
Trong lý luận cạnh tranh của mình, trọng điểm nghiên cứu của Các Mác là cạnh
tranh giữa những người sản xuất và liên quan tới sự cạnh tranh này là cạnh tranh giữa
người sản xuất và người tiêu dùng. Những cuộc cạnh tranh này diễn ra dưới ba góc độ:
cạnh tranh giá thành thông qua nâng cao năng suất lao động giữa các nhà tư bản nhằm
thu được giá trị thặng dư siêu ngạch; cạnh tranh chất lượng thông qua nâng cao giá trị sử
dụng hàng hoá, hoàn thiện chất lượng hàng hoá để thực hiện được giá trị hàng hoá; cạnh
tranh giữa các ngành thông qua việc gia tăng tính lưu động của tư bản nhằm chia nhau
giá trị thặng dư.
(1) Từ điển Tiếng Việt, Viện ngôn ngữ học, NXB Đà Nẵng, 1998.
Ba góc độ cạnh tranh cơ bản này diễn ra xoay quanh sự quyết định giá trị, sự thực
Theo Fafchamps, sức cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp đó
có thể sản xuất sản phẩm với chi phí biến đổi trung bình thấp hơn giá của nó trên thị
trường, có nghĩa là doanh nghiệp nào có khả năng sản xuất ra những sản phẩm có chất
lượng tương tự như sản phẩm của doanh nghiệp khác nhưng có chi phí thấp hơn thì được
coi là có năng lực cạnh tranh
Một quan niệm khác cho rằng: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được hiểu
là tích hợp các khả năng và nguồn nội lực để duy trì và phát triển thị phần, lợi nhuận và
Trang: 2
định vị những ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp đó trong mối quan hệ với đối thủ
cạnh tranh trực tiếp và tiềm tàng trên một thị trường mục tiêu xác định”
(2)
Theo PGS, TS Nguyễn Thị Quy, “năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp là khả
năng doanh nghiệp đó tạo ra, duy trì và phát triển những lợi thế nhằm duy trì và mở rộng
thị phần; đạt được mức lợi nhuận cao hơn mức trung bình của ngành và liên tục tăng
đồng thời đảm bảo sẹ hoạt động an toàn và lành mạnh, có khả năng chống đỡ và vượt
qua những biến động bất lợi của môi trường kinh doanh.”
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện qua hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp, được đo thông qua lợi nhuận, thị phần của doanh nghiệp, thể hiện qua chiến lược
kinh doanh của doanh nghiệp. Đồng thời năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng thể
hiện qua năng lực cạnh tranh của các sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh.
1.1.3 Các quan niệm về các cấp độ năng lực cạnh tranh
1.1.3.1 Năng lực cạnh tranh quốc gia.
Là năng lực của một nền kinh tế đạt được tăng trưởng bền vững, thu hút được
đầu tư, bảo đảm ổn định kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống người dân.
1.1.3.2 Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp
Được đo bằng khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh
nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong và ngoài nước. Một doanh nghiệp có thể kinh
doanh một hay nhiều sản phẩm dịch vụ, vì vậy, người ta còn phân biệt năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp với năng lực cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ.
(2) Nguyễn Bách Khoa, (2004) Phương pháp luận xác định năng lực cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế của
Một đất nước có môi trường chính trị ổn định, luật pháp được quy định rõ ràng,
minh bạch, sự thay đổi luật diễn ra không thường xuyên, phù hợp với thông
(3) Phát triển, cải cách kinh tế và năng lực cạnh tranh ở Việt Nam. Triển vọng và thách thức, Lê Đăng Doanh
www.fetp.edu.vn/events/theFilename/E041208V.ppt
lệ quốc tế sẽ khuyến khích các doanh nghiệp nói chung và các tổ chức tín dụng nói
riêng an tâm hơn trong hoạt động kinh doanh của mình, có khả năng phát huy hết tối đa
lợi thế cạnh tranh của mình. Ngược lại, nếu môi trường chính trị, xã hội luôn biến động
thì dẫn đến sự kém hiệu quả trong hoạt động của ngân hàng do sự không an toàn và sự
thay đổi liên tục, sự kém minh bạch của hệ thống luật pháp.
Môi trường văn hoá- xã hội.
Có thể nói, ngân hàng là một ngành kinh doanh lòng tin. Ngân hàng là người giữ
túi tiền cho người dân cũng như các doanh nghiệp, là người nắm hầu bao của nền kinh tế
quốc dân, vì thế, nếu ngân hàng không hiểu được các tập quán văn hoá, xã hội của người
dân như thói quen tiêu dùng, trình độ dân trí, mức thu nhập của người dân... thì sẽ không
thể lấy được lòng tin của khách hàng và từ đó sẽ bị đào thải khỏi thị trường.
Môi trường công nghệ.
Cuộc cách mạng công nghệ đang diễn ra như vũ bão trên toàn thế giới, công nghệ
quyết định đến sự thành công của một doanh nghiệp nói chung và một ngân hàng nói
Trang: 4
riêng, nếu ngân hàng có công nghệ lạc hậu hơn đối thủ cạnh tranh thì sớm muộn cũng sẽ
bị đối thủ cạnh tranh đánh bật ra khỏi thị trường.
Một ngân hàng chú trọng đến công nghệ của mình sẽ làm cho khách hàng tin
tưởng và từ đó có thể dễ dàng thu hút khách hàng mới hay lôi kéo khách hàng của đối
thủ cạnh tranh.
Môi trường quốc tế.
Quá trình hội nhập của nền kinh tế đòi hỏi một đất nước cũng phải tuân thủ các luật
chơi của quốc tế. Sự biến động của nền kinh tế thế giới, đặc biệt là các chỉ số như lãi
suất, tỷ giá, giá dầu, vàng, đô la...cũng tác động rất lớn tới nền kinh tế trong nước và từ
đó ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động của ngân hàng. Đặc biệt, sự hội nhập kinh tế thế giới
làm cho các ngân hàng không chỉ cạnh tranh nội địa với nhau mà còn cạnh tranh với các
Những người mua được xem như là một đe dọa cạnh tranh khi họ ở vị thế yêu
cầu giá thấp hoặc yêu cầu cung cấp những dịch vụ tốt hơn. Ngược lại khi người mua ở vị
thế yếu hơn trong đàm phán thì ngân hàng có cơ hội thu được lợi nhuận cao hơn. Người
vay sẽ có quyền lực nhất khi:
- Ngành cung cấp được tạo bởi nhiều công ty nhỏ và người mua là một số ít và
lớn
- Khi người mua mua sắm với khối lượng lớn
- Khi ngành cung cấp phụ thuộc vào người mua vì phần lớn doanh số phụ thuộc
vào các đơn hàng của khách hàng
- Khi chi phí chuyển đổi giữa các nhà cung cấp là thấp
- Khi đặc tính kinh tế của người mua là mua sắm từ vài công ty cùng lúc.
Ngân hàng là đối tác trung gian giữa người vay và khách hàng gửi tiền, sử dụng
tiền của người có nguồn vốn nhàn rỗi để cho người có nhu cầu về vốn vay trong một
khoảng thời gian nhất định. Chính vì vậy, người vay có tác động rất lớn đến hoạt động
của ngân hàng. Nếu ngân hàng huy động nhiều mà giải ngân ít do ít nhu cầu vay thì vốn
sẽ bị ứ đọng, không sinh lãi, khả năng trả lại tiền cho khách hàng gửi tiền sẽ bi hạn chế,
từ đó có nguy cơ dẫn đến phá sản.
Khả năng thương lượng của nhà cung cấp ( khách hàng gửi tiền)
Những người bán được xem là một đe dọa khi họ yêu cầu tăng giá hoặc giảm chất
lượng đầu vào, do đó làm giảm khả năng sinh lợi của công ty và ngược lại nếu nếu nhà
cung cấp yếu thì công ty có thể mua được với mức giá thấp hơn hoặc yêu cầu chất lượng
cao hơn. Các nhà cung cấp có quyền lực nhất khi:
- Sản phẩm của nhà cung cấp ít có khả năng thay thế và quan trọng đối với công
ty
- Công ty không phải là một khách hàng quan trọng của nhà cung cấp
- Chi phí chuyển đổi giữa các nhà cung cấp tương đối cao
- Đe dọa hội nhập xuôi chiều về phía ngành ,cạnh tranh trực tiếp với công ty.
- Các công ty không thể đe dọa hội nhập ngược về phía nhà cung cấp để tự đáp
ứng nhu cầu đầu vào cho công ty
Trang: 6
Trong lĩnh vực ngân hàng, công nghệ đang ngày càng đóng vai trò như là một
trong những nguồn lực tạo ra lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất của mỗi ngân hàng.
Công nghệ ngân hàng không chỉ bao gồm những công nghệ mang tính tác nghiệp như hệ
thống thanh toán điện tử, hệ thống ngân hàng bán lẻ, máy rút tiền tự động ATM,...mà
còn bao gồm hệ thống thông tin quản lý MIS, hệ thống báo cáo rủi ro...trong nội bộ ngân
Trang: 7
hàng. Khả năng nâng cấp và đổi mới công nghệ của các ngân hàng thương mại cũng là
chỉ tiêu phản ánh năng lực công nghệ của một ngân hàng. Vì thế, năng lực công nghệ
không chỉ thể hiện ở số lượng, chất lượng công nghệ hiện tại mà còn bao gồm cả khả
năng mở (khả năng đổi mới) của các công nghệ hiện tại về mặt kỹ thuật cũng như kinh
tế.
1.1.5.3 Nguồn nhân lực, quản trị và điều hành.
Năng lực cạnh tranh của nguồn nhân lực của một doanh nghiệp nói chung thể
hiện ở những yếu tố như: trình độ đào tạo, trình độ thành thạo nghiệp vụ, động cơ phấn
đấu, mức độ cam kết gắn bó với doanh nghiệp...Nếu một ngân hàng có tốc độ lưu
chuyển nhân viên cao hay yếu kém trong nghiệp vụ thì ngân hàng đó sẽ không có khả
năng cạnh tranh.
Ngân hàng có một Ban giám đốc hay Hội đồng quản trị yếu kém, không có khả
năng đưa ra những chính sách, chiến lược hợp lý, thích ứng với những thay đổi của thị
trường...sẽ làm lãng phí các nguồn lực và làm yếu đi năng lực cạnh tranh của ngân hàng
đó.
1.1.5.4 Danh tiếng, uy tín, hệ thống phân phối và mức độ đa dạng hoá các dịch
vụ cung cấp.
Uy tín là tài sản vô hình mà không phải bất cứ ngân hàng nào cũng có được. Uy
tín ngân hàng phải được xây dựng và củng cố trên cơ sở mạng lại nhiều lợi ích cho xã
hội và cho khách hàng. Uy tín ngân hàng là yếu tố quan trọng, là cơ sở để doanh nghiệp
có thể dễ dàng vươn lên trong cạnh tranh với các ngân hàng khác. Uy tín ngân hàng
được hình thành sau một thời gian dài hoạt động trên thị trường và là tài sản vô hình mà
doanh nghiệp cần phát huy và sử dụng như một thứ vũ khí chủ lực trong điều kiện cạnh
tranh hiện nay.
nhóm khách hàng được thỏa mãn.
Có bốn loại chiến lược kinh doanh chính:
- Dẫn đạo chi phí: cung cấp những sản phẩm có đặc tính được khách hàng chấp
nhận với mức chi phí thấp nhất trong so sánh với các đối thủ cạnh tranh
- Tạo sự khác biệt: tạo ra và cung cấp những sản phẩm được khách hàng cảm
nhận là độc đáo về một vài đặc tính quan trọng
- Chiến lược kết hợp: kết hợp giữa dẫn đạo chi phí và tạo sự khác biệt
- Tập trung vào các khe hở của thị trường: hướng trực tiếp vào phục vụ cho nhu
cầu của nhóm hay phân đoạn thị trường hạn chế, sử dụng cách tiếp cận khác biệt hóa
hoặc chi phí thấp
1.2.3 Khái niệm về chiến lược cấp công ty.
Chiến lược cấp công ty xác định các hành động mà công ty thực hiện nhằm giành
lợi thế cạnh tranh bằng cách lựa chọn, quản trị một nhóm các hoạt động kinh doanh khác
nhau cạnh tranh trong một số ngành và thị trường sản phẩm.
Trang: 9
Có ba loại chiến lược cấp công ty chính:
- Hội nhập dọc: doanh nghiệp tìm cách đầu tư vào các giai đoạn của quá trình sản
xuất kinh doanh hay tìm cách đầu tư để kiểm soát đối thủ và thị trường.
- Đa dạng hoá: doanh nghiệp đầu tư mở rộng sản phẩm, thị trường hay đầu tư
phát triển những ngành hàng mới. Có ba loại đa dạng hoá: hàng ngang, đa dạng hoá
đồng tầm và đa dạng hoá kết khối.
- Phát triển tập trung: (chiến lược phát triển nhanh) doanh nghiệp chỉ tập trung
vào một lĩnh vực, một ngành hàng, một dãy sản phẩm nhất định (thậm chí chỉ là một sản
phẩm duy nhất) nhằm tạo ra tốc độ phát triển nhanh.
1.2.4 Sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty
Năng lực cạnh tranh (lợi thế cạnh tranh) của một doanh nghiệp sẽ xác định nguyên
nhân tại sao các công ty trong cùng một ngành nhưng lại có một số công ty thì thành
công còn một số khác lại thất bại.
Như là một quy luật đào thải tự nhiên, những doanh nghiệp nào không thích nghi được
với cơ chế kinh doanh, không đủ năng lực cạnh tranh với các doanh nghiệp khác thì sẽ
không còn là lợi thế. Và vì vậy thường xuyên đánh giá và nâng cấp các lợi thế cạnh
tranh, tạo ra những lợi thế mới phù hợp với điều kiện cạnh tranh hiện tại sẽ mang lại
hiệu quả cao.
1.3 Khái niệm về năng lực cốt lõi
1.3.1 Khái niệm năng lực cốt lõi:
Năng lực cốt lõi là các nguồn lực và khả năng của ngân hàng được sử dụng như
nguồn lực tạo ra lợi thế cạnh tranh. Năng lực cốt lõi làm cho một ngân hàng có tính cạnh
tranh và phẩm chất riêng có của nó.
Năng lực cốt lõi phát sinh theo thời gian qua quá trình học tập, tích luỹ một cách
có tổ chức về cách thức khai thác các nguồn lực và khả năng khác nhau. Các năng lực
cốt lõi là “đồ phục sức sạng trọng của một công ty”, các hoạt động mà công ty thực hiện
tốt so với đối thủ cạnh tranh và thông qua đó, nó làm tăng giá trị cho các hàng hoá và
dịch vụ trong suốt thời gian dài.
Không phải tất cả các nguồn lực và khả năng của ngân hàng đều là các tài sản có
tính chiến lược. Các tài sản có tính chiến lược phải có giá trị cạnh tranh và có tiềm năng
sử dụng như một nguồn lợi thế cạnh tranh.
1.3.2 Các tiêu chuẩn xác định năng lực cốt lõi:
Trang: 11
- Đáng giá: cho phép ngân hàng khai thác các cơ hội và hoá giải các đe doạ từ
môi trương bên ngoài. Bằng việc khai thác một cách hữu hiệu các cơ hội, ngân hàng có
thể tạo giá trị cho khách hàng.
- Hiếm: khả năng này không có hoặc rất ít đối thủ cạnh tranh có được khả năng
đó.
- Khó bắt chước: là những khả năng mà các đối thủ không dễ dàng phát triển
được nó.
- Không thể thay thế: có nghĩa là không có chiến lược tương đương.
……………………………………………………….
Chương 2 : Đánh giá năng lực cạnh tranh của ngân hàng Á Châu Việt Nam.
Trang: 12
2.1. Ngành ngân hàng Việt Nam trước thách thức cạnh tranh.
đến tận các thị tứ, liên xã...Nhưng hiện nay gần 50 % số chi nhánh Ngân hàng nước
ngoài chỉ có Chi nhánh hoặc ở Hà Nội, hoặc ở TP.Hồ Chí Minh. Khoảng 4-5 ngân hàng
có chi nhánh tại hai nơi. Một số ngân hàng Liên doanh tình tình có khá hơn, nhưng cũng
chỉ có mạng lưới ở một vài chi nhánh chính. Mà một trong các lợi thế cạnh tranh là phải
gần khách hàng, hiểu khách hàng.
Trang: 13
Không những thế, với gần 800 máy ATM của các NHTM Việt Nam có đến thời
điểm hiện nay đều đã và đang chiếm các vị trí thuận lợi cho giao dịch, như: khách sạn
lớn, trung tâm thương mại, siêu thị, sân bay,…. Sau này các Ngân hàng có vốn đầu tư
nước ngoài có lắp đặt máy ATM sẽ rất khó tìm được vị trí lắp đặt thuận lợi cho giao dịch
đối với khách hàng như hiện tại.
Số lượng chi nhánh và phòng GD của một số NHTM năm
2006
832
303
207
1568
146
111
0
500
1000
1500
2000
NHNN Incombank BIDV Sacombank VCB ACB
(Nguồn: tổng hợp từ các báo cáo của các ngân hàng Việt Nam)
Thị phần ổn định.
Do tâm lý của người dân Việt Nam vẫn chưa tin tưởng lắm vào các ngân hàng nước
ngoài, đồng thời mạng lưới chi nhánh rộng khắp nên thị phần cho vay cũng như nhận
tìên gửi của các ngân hàng Việt Nam rất cao và tương đối ổn định.
luồng vốn chảy vào và có thể gây ra rủi ro bùng nổ tín dụng.
- Sự biến động của các ngành kinh tế khác :
Trước thách thức hội nhập nhiều doanh nghiệp ra đời, đồng thời cũng sẽ có
nhiều doanh nghiệp giải thể, phá sản. Vì vậy nhu cầu vay, khả năng thu hồi nợ vay cũng
sẽ có nhiều biến động, ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng, đến khả năng sinh lợi của
ngân hàng. Nếu nền kinh tế phát triển, các doanh nghiệp làm ăn có lời thì khả năng thu
hồi vốn vay cao, nhưng ngược lại, nếu nền kinh tế suy thoái, nhiều doanh nghiệp làm ăn
thua lỗ thì rủi ro tín dụng là rất cao.
Môi trường pháp lý đầy biến động
Trong lĩnh vực kinh tế nói chung và dịch vụ ngân hàng nói riêng, môi trường
pháp lý luôn luôn biến động, là do:
Có rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật được ban hành chồng chéo, mâu
thuẫn nhau đòi hỏi phải luôn được rà soát, thay đổi.
Chẳng hạn như: các quy định về đảo nợ, lãi suất nợ quá hạn, cho vay hợp vốn,
các quy định về bảo đảm tiền vay, về đăng kí giao dịch bảo đảm với các quy định của
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các TCTD và Bộ luật Dân sự 2005; hay các
quy định về thương phiếu cũng không đồng nhất với các quy định của Luật Thương mại
2005… Không những thế, các quy định trong Luật các TCTD cũng đã bộc lộ nhiều
nhược điểm về phát triển thương mại dịch vụ ngân hàng.
Trang: 15
Tính thống nhất trong hệ thống pháp luật ngân hàng còn cần phải được đặt
trong mối tương quan với hệ thống pháp luật kinh tế đã và đang được hoàn thiện.
Một số văn bản vừa mới ban hành trong thời gian ngắn đã phải sửa đổi, bổ
sung hoặc bị thay thế do không phù hợp với yêu cầu thực tiễn.
Nguyên nhân do quá trình soạn thảo chưa lường hết được biến động của thực
tiễn, trình độ, năng lực của cán bộ tham gia soạn thảo văn bản còn hạn chế... Việc ký,
ban hành văn bản hành chính của một số đơn vị trực thuộc có trường hợp chưa phù hợp.
Những thiết chế thị trường tiền tệ còn khá sơ khai, nhiều chỉ tiêu hoạt
động theo thông lệ quốc tế chưa được áp dụng - Đặc biệt là những chỉ tiêu về an toàn
vốn, về chất lượng tín dụng, về kế toán, kiểm toán và thanh tra.
Tokyo and Misubishi Bank của Nhật; Deutshe Bank, Berlin Bank của Đức; ABN –
Amro Bank của Hà Lan; Hongkong and Shanghai Banking Coporation, Standard
Chartered Bank, của Anh;...
Với lợi thế về tiềm lực tài chính, kinh nghiệm quản trị và công nghệ, các ngân
hàng nước ngoài sẽ là một áp lực lớn đối với các ngân hàng trong nước. Khi thâm nhập
vào Việt Nam, các ngân hàng nước ngoài sẽ triển khai cung cấp các sản phẩm hiện đại
như: Giúp các doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận thị trường vốn quốc tế; thực hiện các
giao dịch hoán đổi (lãi suất, hoán đổi các đồng tiền) và các công cụ phái sinh khác để
giúp khách hàng giảm rủi ro trong hoạt động tài chính; tín dụng hàng hoá...Với những
danh mục sản phẩm, dịch vụ tuy không nhiều nhưng rõ ràng là vượt trội so với khả năng
của các ngân hàng nội địa. Như vậy, các chi nhánh ngân hàng nước ngoài đang cạnh
tranh bằng phương châm không cung cấp nhiều dịch vụ mà cung cấp các dịch vụ tốt
hơn.
Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật
Ngày nay, công nghệ cao đang được áp dụng ngày càng nhiều trong kinh doanh,
đặc biệt trong các tổ chức dịch vụ có liên quan đến việc giao dịch trực tiếp đối với khách
hàng như ngân hàng, môi giới chứng khoán, khách sạn, nhà hàng v.v... Có thể nói, việc
phát triển và ứng dụng công nghệ hiện đại trong hoạt động ngân hàng đã tạo điều kiện
thức đẩy hoạt động kinh doanh của các NHTM tăng trưởng và phát triển, nâng cao hiệu
quả kinh doanh, năng lực cạnh tranh, thu hút nhiều khách hàng giao dịch và giảm các chi
phí liên quan.
Nhờ công nghệ các dịch vụ ngân hàng phát triển đa dạng và phong phú, cho đến
nay các tổ chức tín dụng đã triển khai và phát triển nhiều sản phẩm mới, đặc biệt là dịch
vụ ngân hàng điện tử: internet-banking, mobil-banking, phonebanking, dịch vụ thẻ,
thanh toán điện tử.
Như vậy, sự phát triển của công nghệ hiện đại cho phép các NHTM nâng cao năng
lực cạnh tranh, phát triển bền vững trong điều kiện hội nhập, khi mà các ngân hàng nước
ngoài đã đi trước và có bước phát triển nhanh mạnh về công nghệ và dịch vụ ngân hàng.
Các nhà quản trị ngân hàng phải đặt yếu tố công nghệ là ưu tiên hàng đầu trong
chiến lược phát triển, mở rộng ngân hàng, thường xuyên học hỏi, tìm hiểu các công nghệ
Thách thức đặt ra cho các nhà quản trị ngân hàng là phải xây dựng được chiến
lược phát triển sản phẩm, dịch vụ mới cho ngân hàng của mình, và cụ thể hoá cho từng
nhóm sản phẩm hoặc những sản phẩm chủ lực, phù hợp với đặc điểm của mỗi ngân
hàng trong thời kỳ mới sao cho tối đa hoá lợi nhuận, đồng thời tránh việc để mất thị
phần.
Trang: 18
Những thay đổi liên tục trên thị trường vốn và tiền tệ.
2.1.2. Chiến lược của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh hội
nhập quốc tế và khu vực về ngân hàng.
Xây dựng một hệ thống ngân hàng có uy tín, có khả năng cạnh tranh, hoạt động
có hiệu quả, an toàn, có khả năng huy động tốt hơn các nguồn vốn trong xã hội và mở
rộng đầu tư đáp ứng nhu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hoá đất nước trong
quá trình hội nhập quốc tế. Trước hết, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm
tạo hành lang pháp lý có hiệu lực, đảm bảo sự bình đẳng an toàn cho mọi tổ chức hoạt
động dịch vụ ngân hàng tài chính trên lãnh thổ Việt Nam.
Xây dựng các qui chế quản lý và hoạt động phù hợp với chuẩn mực quốc tế như
quản trị rủi ro, quản trị nguồn vốn, kiểm tra kiểm toán nội bộ, xây dựng quy trình tín
dụng hiện đại và sổ tay tín dụng, xây dựng và hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu đánh giá mức
độ chỉ số an toàn và hiệu quả kinh doanh ngân hàng phù hợp với chuẩn mực quốc tế và
thực tiễn Việt Nam.
Tiếp tục mở cửa thị trường trong nước trên cơ sở xoá bỏ dần các giới hạn về số
lượng, loại hình tổ chức, phạm vi hoạt động, tỷ lệ góp vốn của nước ngoài, đảm bảo
quyền kinh doanh của các ngân hàng và tổ chức tài chính nước ngoài theo các cam kết
đa phương và song phương.
Đổi mới mô hình tổ chức bộ máy của các Ngân hàng thương mại, trước hết là
Ngân hàng thương mại quốc doanh. Từng bước đổi mới cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, chức
năng của hệ thống NHNN nhằm nâng cao vai trò và hiệu quả điều hành vĩ mô của
NHNN, nhất là việc thiết lập, điều hành chính sách tiền tệ quốc gia và trong việc quản
lý, giám sát hoạt động của các trung gian tài chính. Trước hết, thực hiện tái cơ cấu lại hệ
thống ngân hàng theo các đề án đã được Chính phủ phê duyệt và phù hợp với các cam
Một số chỉ tiêu phát triển chính của ngành ngân hàng đến năm 2010 như sau:
- Tốc độ tăng huy động vốn: 18-20%/năm
- Tốc độ tăng tín dụng: 18-20%/năm
- Tỷ trọng nguồn vốn trung, dài hạn: 33-35% (trong tổng nguồn vốn huy động)
- Tăng trưởng bình quân tổng phương tiện thanh toán (M2): 18-20%/năm
- Tỷ lệ M2/GDP đến cuối năm 2010: 100-115%
- Tỷ trọng tiền mặt lưu thông ngoài hệ thống ngân hàng/M2 đến năm 2010:
không quá 18%
- Tỷ lệ nợ xấu: 5-7% (so tổng dư nợ)
- Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu: 8%
- Chuẩn mực giám sát ngân hàng đến năm 2010: BASEL I
2.2. Vai trò của ngành ngân hàng Việt Nam và hệ thống ngân hàng Á Châu Việt
Nam đối với nền kinh tế:
Trang: 20
2.2.1 Vai trò của hệ thống Ngân hàng Việt Nam đối với nền kinh tế:
- Thứ nhất, đóng vai trò quan trọng trong việc đẩy lùi và kiềm chế lạm phát, từng
bước duy trì sự ổn định giá trị đồng tiền và tỷ giá, góp phần cải thiện kinh tế vĩ mô, môi
trường đầu tư và sản xuất kinh doanh.
- Thứ hai, góp phần thúc đẩy hoạt động đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh và
hoạt động xuất nhập khẩu. Dịch vụ ngân hàng cũng phát triển cả về chất lượng và chủng
loại, góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh;
- Thứ ba, tín dụng ngân hàng đã đóng góp tích cực cho việc duy trì sự tăng
trưởng kinh tế với nhịp độ cao trong nhiều năm liên tục. Với dư nợ cho vay nền kinh tế
chiếm khoảng 35-37% GDP, mỗi năm hệ thống ngân hàng đóng góp trên 10% tổng mức
tăng trưởng kinh tế của cả nước;
Tổng huy động vốn và cho vay của hệ thống NHVN qua
các năm
220
300
400
triển bền vững.
2.2.2 Quá trình phát triển hệ thống ngân hàng Á Châu:
2.2.2.1 Lịch sử hình thành ngân hàng.
Pháp lệnh về Ngân hàng Nhà Nước và pháp lệnh về Ngân hàng thương mại, hợp
tác xã tín dụng và công ty tài chính được ban hành vào tháng 5/1990, đã tạo dựng một
Trang: 21
khung pháp lý cho hoạt động Ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Trong bối cảnh đó,
Ngân hàng TMCP Á Châu đã được thành lập theo giấy phép số 0032/NH-GP do NHNN
cấp ngày 24/04/1993, Giấy phép số 533/GP-UB do Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí
Minh cấp ngày 13/05/1993. Ngày 04/06/1993, ACB chính thức đi vào hoạt động.
Vốn điều lệ ban đầu là 20 tỷ đồng cho thời hạn hoạt động 50 năm.
+ Hội sở chính: 442 Nguyễn Thị Minh Khai - Quận 3 – TP Hồ Chí Minh
+ Tên giao dịch: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu.
+ Tên nước ngoài: Asia-Commercial-Bank (gọi tắt là ACB).
+ Logo:
2.2.2.2 Ngành nghề kinh doanh:
- Huy động vốn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn dưới các hình thức tiền gửi có kỳ
hạn, không kỳ hạn, tiếp nhận vốn ủy thác đầu tư và phát triển của các tổ chức
trong nước, vay vốn của các tổ chức tín dụng khác;
- Cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn; chiết khấu thương phiếu, trái phiếu và
giấy tờ có giá; hùn vốn và liên doanh theo luật định;
- Làm dịch vụ thanh toán giữa các khách hàng;
- Thực hiện kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc và thanh toán quốc tế, huy động các
loại vốn từ nước ngoài và các dịch vụ ngân hàng khác trong quan hệ với nước
ngoài khi được NHNN cho phép;
- Hoạt động bao thanh toán
2.2.2.3 Các công ty có liên quan:
Công ty trực thuộc:
- Công ty Chứng khoán ACB (ACBS).
- Công ty quản lý và khi thác tài sản ngân hàng Á Châu (ACBA).
Tốc độ tăng trưởng cao của ACB trong cả huy động và cho vay cũng như số lượng
khách hàng suốt hơn 13 năm qua là một minh chứng rõ nét nhất về sự ghi nhận và tin
cậy của khách hàng dành cho ACB. Đây chính là cơ sở và tiền đề cho sự phát triển của
ACB trong tương lai.
Nhìn nhận và đánh giá của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Kể từ khi NHNN ban hành Quy chế xếp hạng các tổ chức tín dụng cổ phần (năm
1998), một quy chế áp dụng theo chuẩn mực quốc tế CAMEL để đánh giá tính vững
mạnh của một ngân hàng, thì liên tục tám năm qua ACB luôn luôn xếp hạng A. Hơn nữa,
ACB luôn duy trì tỷ lệ an toàn vốn trên 8%. Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu là 8% được quy
định trong Thỏa ước Basel I của Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS - Bank for
International Settlements) mà NHNN áp dụng. Đặc biệt là tỷ lệ nợ quá hạn trong những
Trang: 23
năm qua luôn dưới 1%, cho thấy tính chất an toàn và hiệu quả của ACB.
2.2.3 Cơ cấu tổ chức.
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC CỦA ACB
Trang: 24
(Nguồn: Báo cáo hoạt động kinh doanh của ACB năm 2007)
2.2.4 Vai trò của ACB đối với nền kinh tế.
Được công nhận là một trong những NHTM hàng đầu của Việt Nam, kể từ khi ra
đời đến nay vừa tròn 15 năm. ACB đã vượt qua nhiều khó khăn và thử thách, không
ngừng phấn đấu vươn lên, khẳng định được vị trí là một trong những NHTM Cổ phần
hàng đầu ở Việt Nam, có bước phát triển và tăng trưởng nhanh, đạt được nhiều thành
tựu to lớn trên mọi mặt hoạt động kinh doanh đối nội và đối ngoại, công nghệ ngân hàng
tiên tiến, có uy tín với khách hàng trong nước và quốc tế, là niềm tự hào của hệ thống
ngân hàng Việt Nam, đã góp phần không nhỏ khẳng định với quốc tế rằng, hệ thống
ngân hàng Việt Nam có thể cạnh tranh, đạt được nhiều thành công hơn so với các ngân
hàng ở nước ngoài, mặc dầu quy mô của ngân hàng nước ngoài lớn hơn.
Trang: 25