BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
LÊ THỊ MỸ HIỀN
ĐÁNH GIÁ BIẾN ĐỘNG TÀI NGUN THIÊN NHIÊN
VÀ MƠI TRƯỜNG VÙNG VEN BIỂN CÀ MAU DO
PHÁT TRIỂN NI TƠM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC ĐỊA LÝ
HÀ NỘI - 2008
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn, tôi đã nhận được sự
hướng dẫn tận tình, chu đáo của TS. Mai Trọng Thông, Viện Địa lý – Viện
Khoa học – Công nghệ Việt Nam. Tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Thầy.
Tôi cũng xin chân thành cám ơn các thầy cô khoa Địa lý, các thầy cô Tổ
Địa lý Tự nhiên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, các thầy cô Viện Địa lý dã
giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập. Tôi cùng xin bày tỏ lòng
biết ơn đến UBND tỉnh, Sở Thủy Sản, Sở Kế hoạch – Đầu tư, Sở Tài nguyên –
Môi trường, Sở Nông nghiệp và phát triển Nông thôn tỉnh Cà Mau; Viện Chiến
lược và Thiết kế Nông nghiệp; Trung tâm thông tin thư viện Trường Đại học Sư
phạm Hà Nội; Phòng đọc tư liệu Khoa Địa lý đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu
thập, tham khảo tài liệu, số liệu phục vụ đề tài.
Và cuối cùng tôi chân thành cám ơn bạn bè, người than đã ủng hộ và giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu.
Tác giả luận văn
Lê Thị Mỹ Hiền
: Công trình
KD : Kinh doanh
WTO : Tổ chức thương mại thế giới
TT : Thị trấn
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Với nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường rất thuận lợi cho nghề
nuôi tôm phát triển, Cà Mau là tỉnh có bờ biển dài (254 km) với ba mặt giáp
biển bị chi phối bởi hai chế độ triều, kết hợp với hệ thống kênh rạch chằng chịt
và ăn thông với cả hai phía biển Đông và Vịnh Thái Lan qua 20 cửa lớn nhỏ, tạo
điều kiện cho nước biển xâm nhập sâu vào trong nội địa, là môi trường thích
hợp phát triển hệ sinh thái ngập mặn ven biển. Đồng thời với diện tích đất ngập
nước lớn và môi trường sinh thái thuận lợi đã tạo điều kiện cho ngành nuôi trồng
thủy sản ở Cà Mau phát triển mạnh, đặc biệt kể từ khi có Nghị quyết 9/2000 và
Quyết định 173/2001 của Chính phủ khuyến khích chuyển dịch cơ cấu nông
nghiệp và phát triển thủy sản ở đồng bằng sông Cửu Long. Và thực tế nghề nuôi
tôm đã trở thành ngành mũi nhọn và ngày càng phát triển cả về qui mô, diện tích
cũng như hình thức, kỹ thuật canh tác.
Nuôi tôm đã mang lại giá trị kinh tế cao góp phần nâng cao chất lượng
cuộc sống của người dân, giải quyết việc làm, thúc đẩy sự tăng trưởng nhanh
nền kinh tế của tỉnh Cà Mau và nền kinh tế chung nước nhà.
Tuy nhiên, nghề nuôi tôm hiện nay ngày càng bộc lộ nhiều tồn tại như:
dịch bệnh, ô nhiễm môi trường, suy thoái tài nguyên đất, nước, sinh vật…gây
thiệt hại lớn về kinh tế và sự phát triển bền vững của môi trường. Một trong
những biểu hiện rõ nhất là việc phá hủy rừng ngập mặn – hệ sinh thái rất nhạy
cảm - để chuyển thành ao nuôi tôm.
Thực tế quá trình nuôi tôm ở Cà Mau đã trải qua những thăng trầm của
Phân tích và đánh giá tổng hợp về sự biến động của tài nguyên đất, nước,
rừng và môi trường và đưa ra những giải pháp nhằm sử dụng hợp lý tài nguyên
thiên nhiên và môi trường theo quan điểm phát triển bền vững.
4. Giới hạn của đề tài:
- Về không gian nghiên cứu: đề tài chỉ tập trung nghiên cứu sự biến động
của tài nguyên thiên nhiên (đất, rừng) và môi trường (môi trường đất, môi
trường nước) do phát triển nuôi tôm mặn - lợ ở vùng ven biển tỉnh Cà Mau.
2
- Về thời gian: khi đánh giá chung về sự phát triển nuôi tôm đề tài sẽ phân
tích cả quá trình phát triển từ 1983 đến nay.
- Nghiên cứu sự biến động tài nguyên đất, rừng và môi trường sẽ chỉ tập
trung vào giai đoạn từ năm 2000 đến nay.
5. Lịch sử nghiên cứu đề tài:
Vùng ven biển Cà Mau với đặc trưng là vùng đất ngập nước, với hệ sinh
thái rừng ngập mặn rất đặc trưng đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều
tác giả như trong nước, trong đó có một số công trình đáng chú ý như:
- Các công trình nghiên cứu của Viện Địa lý - Viện Khoa học và Công
nghệ Việt Nam
+ Dự án "Tự do hóa thương mại, đói nghèo nông thôn và môi trường.
Chương trình nghiên cứu ở Việt Nam" do cộng đồng châu Âu (EU) và World
Bank (WB) tài trợ [24]. Trong dự án này các tác giả đã phân tích tác động của tự
do hóa thương mại đến phát triển nuôi tôm, ảnh hưởng của nuôi tôm đến vấn đề
đói nghèo và sự biến động của các hệ sinh thái và môi trường ở Cà Mau.
+ Dự án “Đánh giá hệ sinh thái đất ngập nước hạ lưu sông Mê Kông”
thuộc chương trình quốc tế Đánh giá thiên niên kỉ, nghiên cứu về hiện trạng, xu
thế biến động và tác nhân gây biến động các hệ sinh thái vùng đồng bằng sông
Cửu Long trong vòng 50 năm qua, trong đó có tác động của việc nuôi tôm ở Cà
4
PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG, PHƢƠNG PHÁP VÀ GIỚI THIỆU
VỀ VÙNG NGHIÊN CỨU
1.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội tỉnh Cà Mau
1.1.1. Vị trí địa lý
Cà Mau là một tỉnh nằm ở cực Nam của Việt Nam, thuộc vùng Đồng
bằng sông Cửu Long và nằm trọn trên bán đảo Cà Mau.
Lãnh thổ được chia làm hai phần: phần đất liền và phần biển chủ quyền .
Phần đất liền có tọa độ từ 8030’ đến 9010’ vĩ độ Bắc, từ 10408’ đến 10505’ kinh
độ Đông. Vùng biển Cà Mau rộng khoảng 1000000 km2 có rất nhiều đảo và
quần đảo lớn nhỏ.
- Phía Bắc giáp tỉnh Kiên Giang và Bạc Liêu.
- Phía Nam và Đông giáp với biển Đông.
- Phía Tây giáp với vịnh Thái Lan.
Diện tích đất liền của tỉnh là 5329,16 km2 chiếm 13,13% diện tích vùng
đồng bằng sông Cửu Long và 1,58% diện tích cả nước.
Về mặt hành chính tỉnh có 9 đơn vị hành chính cấp huyện gồm: Thành
phố Cà Mau, huyện Thới Bình, huyện U Minh, huyện Trần Văn Thời, huyện Cái
Nước, huyện Phú Tân, huyện Đầm Dơi, huyện Năm Căn và huyện Ngọc Hiển.
Cà Mau còn có vị trí đặc biệt quan trọng trong khu vực đồng bằng sông
Cửu Long, là một trong bốn tiểu vùng kinh tế động lực của đồng bằng sông Cửu
Long là Cần Thơ - An Giang - Kiên Giang - Cà Mau. Cà Mau còn là điểm đến
của những tuyến đường bộ và thủy quan trọng.
- Quốc lộ 1A từ thành phố Hồ Chí Minh - Bạc Liêu - Cà Mau - Năm Căn.
- Quốc lộ 63 nối Cà Mau và Kiên Giang.
2006
5329
1165876
1205116
1234896
1
Tp. Cà Mau
250
189998
198642
204895
2
Huyện U Minh
775
87977
Huyện Cái Nước
417
250637
133017
148943
6
Huyện Đầm Dơi
826
176039
181770
186271
7
Huyện Ngọc Hiển
732
136460
1.1.2. Điều kiện tự nhiên
1.1.2.1. Địa hình
Nhìn chung địa hình Cà Mau tương đối bằng phẳng và thấp (đặc trưng
chung của đồng bằng sông Cửu Long) với độ cao trung bình 0,5 - 1m so với
mực nước biển. Các khu vực trầm tích sông hoặc sông biển hỗn hợp có địa hình
cao hơn, các khu vực trầm tích biển hoặc đầm lầy có địa hình thấp hơn (trung
bình và trũng thấp) chiếm tới 89%, phù hợp cho các loại cây chịu nước như rừng
ngập mặn, rừng tràm, lúa nước, nuôi trồng thủy sản.
Địa hình bị chia cắt mạnh bởi hệ thống sông rạch chằng chịt, kết hợp với
phần lớn diện tích của tỉnh thuộc dạng đất ngập nước ven biển nền đất yếu đã
gây khó khăn cho xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển đường giao thông…
1.1.2.2. Địa chất
Tỉnh Cà Mau được phủ bởi lớp phù sa mới cuối kỷ Holoxen, có thành
phần chủ yếu là sét màu xám xanh, đen hoặc nâu với các lớp cát mịn dưới sâu.
Đặc điểm địa chất này có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành và độ phị của các
nhóm đất, từ đó ảnh hưởng đến việc bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi hợp lý.
1.1.2.3. Khí hậu - thủy văn
Khí hậu
Cà Mau có chế độ khí hậu đặc trưng của vùng đồng bằng sông Cửu Long,
là khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo với nền nhiệt cao, ổn định và lượng
mưa lớn.
Nhiệt độ trung bình năm của Cà Mau đạt 26.50C. Tuy nhiên nhiệt độ có sự
chênh lệch giữa các tháng trong năm, tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất là
tháng 4 với 27.60C và tháng có nhiệt độ trung bình thấp nhất là tháng 1 với 250C.
Tổng lượng nhiệt hoạt động lớn từ 8500 - 100000C với số giờ nắng trung
bình năm trên 2000 giờ (năm 2006 đạt 2174.5 giờ).
Lượng mưa trung bình năm cao 2360 mm, có sự phân theo mùa rõ rệt.
Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11 với khoảng 165 ngày có mưa, lượng
mưa chiếm khoảng 90% lượng mưa cả năm, tháng có lượng mưa cao nhất là
7
2003
2004
2005
2006
27.3
27.6
27.8
27.7
27.6
27.6
27.6
2018.5
2148.7
2507.6
2317.7
81
83
Nguồn: Niên giám thống kê. Cục thống kê Cà Mau 2006
Với điều kiện khí hậu như trên, Cà Mau có khí hậu ôn hòa, là yếu tố thuận
lợi cho cả trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản phát triển. Chế độ phân
mùa kết hợp với thủy triều ven biển tạo ra hệ sinh thái thuận lợi cho nuôi trồng
thủy sản kết hợp với trồng lúa có hiệu quả cao…
Bên cạnh những thuận lợi khí hậu Cà Mau có những mặt hạn chế:
- Vào mùa khô thường thiếu nước trong sản xuất nông nghiệp, đồng thời
sự xâm nhập mặn sâu vào trong nội địa (sông đầm nuôi tôm…) gây ảnh hưởng
đến sản xuất lúa, quá trình sinh trưởng và phát triển của tôm. Đây cũng là yếu tố
làm cho mô hình sản xuất một vụ lúa trên đất nuôi tôm của tỉnh Cà Mau chưa
8
thành công trên diện rộng. Nắng hạn kéo dài trong mùa khô còn làm tăng nguy
cơ cháy rừng.
- Trong những năm gần đây, mùa mưa thường diễn biến rất phức tạp,
trong năm thường có nhiều trận dông, lốc và bão càng làm ảnh hưởng đến mọi
hoạt động sản xuất và sinh hoạt của người dân Cà Mau. Ngay cả trong mùa mưa
cũng thường có những đợt nắng hạn kéo dài (hạn Bà Chằn) đã làm tăng sự
nhiễm mặn cho những vùng sản xuất luân canh một vụ lúa trên đất nuôi tôm.
Thủy văn
Chế độ thủy triều: với 3 mặt giáp biển Cà Mau vừa chịu ảnh hưởng của
chế độ nhật triều không đều của Vịnh Thái Lan, vừa bị tác động trực tiếp của
- Đất phèn chiếm đa số, tổng diện tích 279974 ha, chiếm 53.73% diện tích
tự nhiên, phân bố chủ yếu ở các huyện Thới Bình, U Minh, Trần Văn Thời, Ngọc
Hiển, Năm Căn, Cái Nước. Trong đó đất phèn tiềm tàng là 198689 ha, đất phèn
hoạt động là 81285 ha. Nhóm đất này chủ yếu được sử dụng vào trồng rừng ngập
mặn, rừng tràm, trồng cây hàng năm, cây ăn quả và nuôi trồng thủy sản.
- Nhóm đất than bùn: diện tích 8698 ha, chiếm 1.67% diện tích tự nhiên,
phân bố tập trung ở khu vực rừng tràm (vườn quốc gia U Minh hạ).
- Nhóm đất bãi bồi: diện tích 19000 ha, phân bố chủ yếu ở vùng bãi bồi
phía Tây Nam huyện Ngọc Hiển, huyện Năm Căn và huyện Phú Tân. Nhóm đất
này chủ yếu được sử dụng để phát triển rừng phòng hộ.
- Nhóm đất cát giồng: diện tích 671 ha, chiếm 0.13% diện tích tự nhiên,
phân bố tập trung ở khu vực dọc ven bãi Khai Long huyện Ngọc Hiển, được sử
dụng trồng rau màu thực phẩm và cây ăn quả.
Biểu đồ 1.1: Cơ cấu các loại đất Cà Mau năm 2006
4% 2%
40%
54%
đất than bùn
đất phèn
đất mặn
đất bãi bồi
10
Sự chiếm ưu thế của đất mặn và đất phèn ở Cà Mau như vậy đã dẫn dến
1.1
Đất sản xuất nông nghiệp
142020.62
2560643.74
9420276.09
1.1.1
Đất trồng cây hàng năm
87090.42
2024175.50
6309624.52
1.1.1.1
Đất lúa
80623.80
1886194.86
4105835.11
1.3
Đất nuôi trồng thủy sản
228197.25
522726.23
728577.11
1.4
Đất làm muối
121.33
4308.76
13670.73
1.5
Đất nông nghiệp khác
1139.04
6781.93
18012.39
2.3
Đất phi nông nghiệp còn lại
19951.47
238978.39
1211668.22
3
Đất chưa sử dụng
10837.67
45771.18
4732183.78
Nguồn: Niên giám thống kê. Cục thống kê Cà Mau. 2006
1.1.2.5. Tài nguyên nước
Nước là nguồn tài nguyên rất quan trọng, nước ở Cà Mau rất đa dạng và
có ý nghĩa lớn đối với việc phát triển kinh tế và sinh hoạt của người dân.
- Nước mặt: chủ yếu của Cà Mau là nguồn nước mưa và nguồn nước đưa
từ biển vào chưa trong hệ thống sông rạch tự nhiên, kênh thủy lợi, trong rừng
ngập mặn, rừng tràm và ruộng nuôi thủy sản. Nguồn nước mặt chủ yếu phục vụ
12
Cà Mau có hai loại hệ sinh thái rừng đặc thù đó là hệ sinh thái rừng ngập
mặn ven biển và rừng tràm U Minh hạ. Đây là loại rừng có giá trị cao về mặt
cân bằng sinh thái, điều hòa khí hậu và phòng hộ ven biển, đặc biệt là bảo vệ
tính đa dạng sinh học. Tuy nhiên giá trị kinh tế của hai loại rừng này không cao.
Tổng trữ lượng rừng Cà Mau đạt khoảng 2.2 triệu m3, trong đó trữ lượng
rừng tràm khoảng 1.44 triệu m3 và trữ lượng rừng ngập mặn khoảng 770000 m3.
- Về đa dạng sinh học: vùng đất ngập nước Cà Mau rất phong phú gồm
các hệ sinh thái tự nhiên: hệ sinh thái rừng ngập mặn, hệ sinh thái đầm lầy, hệ
sinh thái rừng ngập úng và hệ sinh thái cửa sông.
Trong hệ sinh thái ven biển của tỉnh Cà Mau, có vườn quốc gia Mũi Cà
Mau ( thuộc địa bàn huyện Ngọc Hiển và Năm Căn), có giá trị bảo tồn nguồn
gen quý hiếm (22 loài thực vật ngập mặn, 13 loài thú, 74 loài chim, 17 loài bò
sát và 133 loài động vật phiêu sinh).
Về động vật, Cà Mau rất phong phú với 270 loài lưỡng cư, bò sát chim
thú và rất nhiều loài thủy sinh khác. Trong đó, một số loài có giá trị kinh tế cao
là: ong, thân mềm (ngao, sò huyết…) các loài giáp xác đặc biệt là tôm…
1.1.2.7. Tai biến tự nhiên
Vùng ven biển Cà Mau có ba mặt giáp biển, chịu ảnh hưởng của hai chế
độ triều biển Đông và vinh Thái Lan, biên độ triều lớn. Ven biển là hệ sinh thái
rừng ngập mặn có tác dụng chống sạt lở bờ biển, cửa sông. Hiện nay, hệ sinh
thái này đã bị suy giảm về diện tích và chất lượng mà cụ thể là việc phá rừng
ngập mặn có tác dụng phòng hộ ven biển thành các ao đầm nuôi tôm đã ảnh
hưởng rất lớn đến môi trường. Hậu quả là gây ra các tai biến tự nhiên như sụp lở
đất, gió bão, lũ lụt, sự xâm nhập của nước mặn, triều cường…
- Sụp lở đất là nguy cơ thường xuyên đối với nhiều địa phương trong
vùng, đặc biệt là các huyện Đầm Dơi, Cái Nước, Ngọc Hiển. Hiện tượng sụp lở
+ Việc biến hệ sinh thái rừng ngập mặn thành đầm nuôi tôm đã tạo điều
kiện cho nước biển xâm nhập sâu vào nội địa.
+ Việc tự ý đưa nước mặn vào nội địa để nuôi tôm.
+ Thiếu nước vào mùa khô dẫn đến nước mặn dễ dàng xâm nhập sâu vào
sông rạch.
14
+ Nước mặn theo hệ thống sông rạch, hệ thống thủy lợi vào sâu trong nội
địa do phần lớn hệ thống sông rạch đều ăn thông với biển và hệ thống thủy lợ
ngọt hóa vùng bán đảo Cà Mau (Quản Lộ - Phụng Hiệp) chưa phát huy được tác
dụng tích cực mà có một số biểu hiện ngược lại.
Kết quả là hiện nay sự xâm nhập của nước mặn vào nội địa đã và đang diễn ra
rất mạnh nhất là vào mùa khô, có nơi nước mặn xâm nhập vào đất liền tới 70 km.
1.1.3. Điều kiện kinh tế - xã hội
1.1.3.1. Dân cư - lao động
- Dân cư:
Dân số trung bình của Cà Mau năm 2005 là 1219500 người, năm 2006 là
1234896 người và năm 2007 là 1248770 người.
Mật độ dân số trung bình năm 2005 là 229 người/km2, năm 2006 là 231
người/km2 (đồng bằng sông Cửu Long là 435 người/km2 và cả nước là 256
người/km2.
Tỷ lệ tăng dân số hàng năm cũng giảm dần, năm 2005 là 1.52%, năm
2006 là 1.46% và năm 2007 là 1.36%. Tỷ lệ tăng dân số của Cà Mau giảm do
giảm cả của tỷ suất sinh và gia tăng cơ học do lao động đi làm việc tại các khu
công nghiệp, các nghề dịch vụ ở thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Miền
Đông, một số đi làm ở nước ngoài (riêng năm 2006 số lao động đi làm việc ở
ngoài tỉnh là nước ngoài là khoảng 10300 người.
Bảng 1.4: Dân số Cà Mau qua các năm
Dân số
2002
1165876
224
19.43
3.74
15.69
2003
1188430
228
19.26
3.83
15.43
2004
1205116
231
Năm
Nguồn: Niên giám thống kê. Cục thống kê Cà Mau. 2006
15
Mật độ dân số phân bố không đều theo không gian, thành phố Cà Mau có
mật độ tập trung dân số rất cao 819 người/km2 gấp 3.53 lần mật độ chung của
tỉnh, huyện có mật độ dân số thấp nhất là Ngọc Hiển 114 người/km2 chỉ bằng
0.49 lần mật độ dân số chung của cả Tỉnh.
Tỷ lệ giới tính tương đối cân bằng, tỷ lệ nữ/ nam là 50.68/49.32 và tỷ lệ
nữ luôn cao hơn nam ở tất cả các huyện.
Dân số của tỉnh Cà Mau phân bố không đều, mật độ dân số ở các phường,
thị trấn cao hơn nhiều lần so với các xã, nhất là các xã ven biển. Năm 2006 mật
độ dân số thành thị 1247 người/km2, mật độ dân số vùng nông thôn là 118
người/km2, các xã ven biển chỉ đạt 146 người/km2.
Cà Mau là tỉnh có cơ cấu đa dân tộc, trong đó dân tộc Kinh chiếm đa số,
dân tộc Khơme chiếm gần 3%, dân tộc Hoa 0.95%.
- Lao động:
Cà Mau là tỉnh có cơ cấu dân số trẻ với nguồn lao động đông đảo năm
2005 là 862144 người, chiếm 70.70% dân số, năm 2006 chiếm 70.56% dân số.
Trong đó số người trong độ tuổi lao động là 821994 người năm 2005 và 831917
người năm 2006 chiếm 67.40% dân số cả tỉnh. Và nguồn lao động thực tế đang
làm việc trong các ngành kinh tế năm 2005 là 613456 người, năm 2006 là
620862 người. Qua số liệu trên ta thấy, lực lượng lao động của Cà Mau đông và
tăng nhanh qua các năm.
Nguồn lao động Cà Mau chưa được sử dụng triệt để, số người trong độ
tuổi lao động nhưng chưa tham gia vào các ngành kinh tế là tương đối cao chiếm
25.37% năm 2006 (bao gồm cả những người đang đi học, nội trợ, chưa có việc
25.81
Lao động tốt nghiệp THCS trở lên %
26.6
27.7
Lao động tốt nghiệp THPT
8.6
11.37
Lao động từ qua học nghề trở lên
16.4
16.43
Lao động từ CNKT có bằng trở lên %
6.08
8.04
Nguồn : Báo cáo tổng hợp Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Cà Mau,
thời kỳ đến năm 2020. Cà Mau 2007
nƣớc
Mau bằng SCL
nƣớc
86.4
61.5
67.2
83.0
59.7
56.7
4.4
11.2
12.6
5.2
13.6
17.9
nhiệm của các ngành các cấp trong lúc nền kinh tế đang mở cửa khi Việt Nam
chính thức là thành viên của WTO.
1.1.3.2. Các ngành kinh tế
a. Ngư, nông, lâm nghiệp
- Chuyển dịch cơ cấu sản xuất ngư nông lâm nghiệp:
Từ cuối năm 2000 tỉnh Cà Mau đã chuyển một diện tích lớn đất trồng lúa
và cây trồng khác sang nuôi trồng thủy sản theo Nghị quyết số 09/CP ngày
15/06/2000 của Chính phủ về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm
nông nghiệp và tình hình sản xuất thực tế của địa phương.
Quá trình chuyển đổi đã diễn ra đồng loạt, toàn tỉnh đã chuyển đổi 157895
ha đất trồng lúa và đất vườn sang nuôi trồng thủy sản (chủ yếu là nuôi tôm nước
lợ), nâng diện tích nuôi thủy sản của tỉnh lên 278241 ha (chiếm 52.2%) diện tích
tự nhiên của tỉnh.
18
Việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp đã làm thay đổi cơ bản cơ
cấu sản xuất nông nghiệp, kinh tế thủy sản chiếm tỷ trọng ngày càng lớn và
khẳng định vai trò ngành mũi nhọn trong nền kinh tế của tỉnh.
Biểu đồ 1.2: Cơ cấu giá trị sản xuất ngư - nông - lâm năm 1999 và 2006
Năm 2006
Năm 1999
14%
ngư nghiệp
3%
Cà Mau là tỉnh có sản lượng thủy hải sản đứng hàng thứ hai ở đồng bằng
sông Cửu Long (sau tỉnh Kiên Giang với sản lượng 339000 tấn), chiếm 13.4%
sản lượng thủy hải sản toàn vùng, nhưng về sản lượng tôm thì Cà Mau là tỉnh
đứng đầu, chiếm 27% sản lượng tôm toàn vùng và 7.4% sản lượng thủy hải sản
cả nước (sản lượng thủy hải sản cả nước 2006 khoảng 3.57 triệu tấn, năm 2007
ước đạt 3.97 triệu tấn - BCTH [ ]
Bảng 1.7: Sản lƣợng thủy sản phân theo huyện – thành phố từ 2000 – 2006
Tổng số
Trần Văn Thời
Cái Nước
Phú Tân
Đầm Dơi
Năm Căn
Ngọc Hiển
2000
160140
68506
23626
2001
177749
74370
30492
2002
174794
72649
32330
2006
221992
75303
16509
35566
46690
14714
33210
Nguồn: Niên Giám thống kê. Cục thống kê Cà Mau. 2000 và 2006
Nuôi trồng thủy hải sản của tỉnh Cà Mau được phân bố khắp tỉnh, chủ yếu là
nuôi tôm nước lợ, nhiều nhất là ở huyện Đầm Dơi (60901 ha), thấp nhất là thành
phố Cà Mau 11592 ha. Về cơ bản đã hình thành hai vùng khá rõ rệt: vùng phía
Nam chủ yếu là nuôi tôm chuyên canh và nuôi tôm kết hợp trồng rừng. Vùng phía
Bắc chủ yếu là nuôi tôm chuyên canh và kết hợp luân canh một vụ lúa. Trong năm
2007 hơn 90% diện tích được bà con kết hợp nuôi đa canh đa con (kết hợp tôm với
nuôi cua, cá chẻm, cá chình, bông mú…), diện tích tôm - lúa đạt 31150 ha.
Bảng 1.8: Diện tích, sản lƣợng thủy sản nuôi trồng phân theo huyện
Huyện
2000
2001
2002
2003
10811
3000
25610
3519
27687
1742
27648
4600
28600
6068
28690
Cái Nước
5075
69171
12992
-
-
-
14100
33495
17095
33495
Đầm Dơi
23936
42452
31047
51417
35588
61687
33704
24000
12107
24000
Ngọc Hiển
17036
47118
16205
46344
17208
46334
18089
46838
13400
22512
16800
hiệu quả cao. Cà Mau là tỉnh đứng đầu về kim ngạch xuất khẩu thủy sản cả nước
trong năm 2007 với giá trị hàng hóa xuất khẩu gần 630 triệu USD.
Bảng 1.9: Giá trị thủy sản theo giá hiện hành (triệu đồng)
Tổng số
2000
2001
2002
2003
2005
2006
5075549
6568970
6980763
7260895
9671144
10728876
Nuôi trồng thủy sản
3071724
4537024
5189436
5304652
7383644
8242623
Chia ra
Khai thác thủy sản Dịch vụ thủy sản
1839307
164518
công tác trồng mới, khoanh nuôi và khôi phục lại diện tích rừng bị thiệt hại. Đến
2006 tổng diện tích có rừng tập trung là 97000 ha, năm 2007 ước đạt 99000 ha,
tỷ lệ che phủ rừng đạt 18.6% diện tích tự nhiên.
b. Công nghiệp - dịch vụ
Sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp có tốc độ tăng trưởng cao
và ổn định năm 2005 đạt 6542.8 tỷ đồng, năm 2006 đạt 7001.5 tỷ đồng, năm
2007 ước đạt 8100 tỷ đồng.
Số cơ sở sản xuất công nghiệp đến cuối năm 2005 toàn tỉnh có 2727 cơ
sở, năm 2007 có 3249 cơ sở. Trong cơ cấu ngành công nghiệp, công nghiệp chế
biến vẫn chiếm tỷ trọng tuyệt đối (năm 2000 là 99.73%, năm 2005 là 98.6%,
năm 2007 là 91%).
Kinh tế dịch vụ phát triển nhanh đã đóng góp tích cực vào phát triển kinh
tế chiếm 35.3% trong tăng trưởng kinh tế của tỉnh (đồng bằng sông Cửu Long là
22