Trờng Đại học Vinh
Khoa gdct
----------------------------
Vũ thị hơng giang
Thực trạng đói nghèo và các giải pháp
nhằm
xoá đói giảm nghèo ở các huyện miền núi
nghệ an trong giai đoạn hiện nay
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Ngành s phạm gdct
Cán bộ hớng dẫn : T.S Đoàn minh duệ
Vinh - 2006
Mở đầu
I. Lý do chọn đề tài
Ngày nay, chúng ta đang sống trong thời đại văn minh tin học, thời đại của
kinh tế trí thức, của toàn cầu hoá. Lò phản ứng hạt nhân, máy tính điện tử, con tàu
vũ trụ, mạng Intermet toàn cầu, bản đồ gen của con ngời đều là thành quả của
việc áp dụng những tri thức khoa học, biểu hiện sức mạnh của trí tuệ, năng lực
nhận thức vô hạn của con ngời, làm cho cuộc sống của con ngời ngày càng giàu
mạnh hơn, no đủ hơn.
Tuy nhiên, mỗi bớc trên con đờng tiến bộ của khoa học và công nghệ, con
ngời luôn phải đối mặt với những vấn đề ngày càng phức tạp, mang tính chất toàn
cầu: Làm thế nào để tránh đợc thảm hoạ đại dịch AIDS? Làm thế nào để thoát khỏi
1
nhân dân tham gia vào các quan điểm, đờng lối, chính sách lớn của Đảng và Nhà nớc. Một bộ phận không nhỏ dân c có thu nhập cao, chính đáng, nhờ biết kinh doanh
hoặc có lao động xuất khẩu (sang Hàn Quốc, Đài Loan, Oxtraylia, Đức...)
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt đợc trong chiến lợc phát triển
kinh tế - xã hội, thì vấn đề đói nghèo và phân hoá giàu nghèo ở nớc ta vẫn đang
diễn ra gay gắt.
Thực tế cho thấy, nghèo đói đối với bất kỳ quốc gia nào trên thế giới đều là
lực cản của sự phát triển. Xoá đói, giảm nghèo, tiến tới xây dựng một nớc Việt
2
Nam Dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh là mục tiêu của
sự nghiệp CNH- HĐH đất nớc, là cái đích hớng tới của CNXH mà chúng ta đang
chung sức xây dựng. Vì vậy, để từng bớc xoá đói, giảm nghèo cần phải có những
giải pháp đồng bộ về kinh tế - xã hội.
Nh vậy, chơng trình xoá đói, giảm nghèo đã và đang trở thành vấn đề mang
tầm chiến lợc trong công cuộc xây dựng đất nớc. Tuy nhiên, để chuyển thành các
biện pháp cụ thể, áp dụng cho từng vùng, từng địa phơng còn rất khó khăn, đòi hỏi
quá trình nghiên cứu, khảo sát công phu của nhiều cấp, nhiều ngành, của cả Trung ơng và địa phơng, và điều quan trọng hơn là phải biết đa những tiến bộ có giá trị
khoa học áp dụng vào cuộc sống.
Đói nghèo ở nớc ta đã và đang là vấn đề nhức nhối mà ở tỉnh nào, địa phơng
nào cũng có, đặc biệt là ở các xã miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và
vùng dân tộc ít ngời. Nghệ An là một tỉnh có diện tích đứng đầu trong cả nớc và
dân số đứng thứ 3. Diện tích miền núi Nghệ An chiếm tỷ lệ cao hơn diện tích đồng
bằng. Tỷ lệ đói nghèo ở các xã vùng miền núi, dân tộc thiểu số ở Nghệ An cao hơn
rất nhiều so với đồng bằng và so với mức bình quân chung của cả nớc. Chính vì
vậy, trong những năm qua, vấn đề xoá đói, giảm nghèo nói chung là một vấn đề đặt
ra cấp bách trong giai đoạn hiện nay, nhất là đối với các huyện miền núi. Giải quyết
đợc vấn đề này là điều kiện then chốt để đa Nghệ An trở thành tỉnh Khá và gơng
mẫu nh lời Hồ chủ tịch hằng mong muốn.
Để góp phần đa quê hơng Xô viết anh hùng từng bớc xoá đói, giảm nghèo,
bằng Bắc bộ và đồng bằng Nam bộ.
Ngoài ra, trong những năm qua, một số sinh viên khoa GDCT khi lựa chọn
đề tài khoá luận tốt nghiệp cũng đã chọn vấn đề đói nghèo và đã bớc đầu đề xuất
các giải pháp xoá đói, giảm nghèo. Đặc biệt có ý nghĩa là đề tài "Xã Kỳ Văn với
công tác xoá đói giảm nghèo - Thực trạng và giải pháp" của sinh viên Nguyễn Thị
Kim Cúc, K41A, GDCT.
Nghệ An là một trong những tỉnh có tỷ lệ hộ đói và hộ nghèo rất cao. Vì vậy,
trong những năm qua, đợc sự chỉ đạo của Thờng trực Tỉnh uỷ và UBND tỉnh, nhiều
cuộc hội thảo về kinh tế trang trại, về nuôi tôm xuất khẩu, trồng cây sở, trồng cây
lạc theo giống mới có ủ ni lon, về phát triển kinh tế hộ gia đình cũng nh các chính
sách xoá đói, giảm nghèo... đã diễn ra.
Nhà xuất bản Nghệ An cũng đã xuất bản các tập sách nh: Kết hợp giữa phát
triển kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội ở nông thôn Bắc Trung bộ trong quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của hai tác giả TS. Đoàn Minh Duệ và TS.
Đinh Thế Định, Nxb Nghệ An, 2003; Giai cấp nông dân Nghệ An trớc yêu cầu
của sự nghiệp CNH, HĐH do TS. Đoàn Minh Duệ và TS. Đinh Thế Định đồng
chủ biên, Nxb Nghệ An, 6/2001; Hội thảo Kinh tế trang trại và xoá đói, giảm
nghèo của Hội nông dân Nghệ An, 2001; Cùng nông dân bàn cách làm giàu,
Hội nông dân Nghệ An, 2001; Các tập sách trên đã phần nào đề cập ở các góc độ
khác nhau về đói nghèo và bớc đầu đề xuất các giải pháp nhằm xoá đói, giảm
nghèo.
Tuy nhiên, khi nghiên cứu ở một cộng đồng dân c nh ở vùng miền núi và
đồng bào dân tộc thiểu số, thì các bài viết nh đã liệt kê ở trên chỉ mang ý nghĩa
tham khảo. Miền núi và dân tộc thiểu số của Nghệ An nói chung và của cả nớc nói
riêng đang có tỷ lệ hộ đói nghèo cao và đang diễn ra sự phân hoá giàu nghèo một
cách sâu sắc. Vì vậy, đòi hỏi phải có sự nghiên cứu sâu sắc về mặt lý luận, nhận
thức đúng đắn về vấn đề đói nghèo theo chuẩn mới, từ đó mới có thể đa ra các biện
4
giúp chúng tôi có cơ sở đánh giá vấn đề một cách biện chứng và trình bày đề tài
một cách logic, khoa học.
V. ý nghĩa thực tiễn của đề tài.
5
Kết quả nghiên cứu có thể sử dụng làm tài liệu trong quá trình thực hiện chơng trình xoá đói, giảm nghèo ở các huyện miền núi Nghệ An cũng nh làm tài liệu
tham khảo cho giáo viên giảng dạy một số bài trong môn GDCD ở trờng THPT.
VI. Kết cấu đề tài.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, khoá luận gồm
hai chơng:
Chơng I: Giới thuyết về vấn đề đói nghèo và thực trạng đói nghèo ở các
huyện miền núi và dân tộc thiểu số Nghệ An trong giai đoạn hiện nay.
Chơng II: Phơng hớng và những giải pháp chủ yếu nhằm xoá đói, giảm
nghèo ở các huyện miền núi và dân tộc thiểu số Nghệ An trong thời gian tới.
nội dung
Chơng I.
Giới thuyết về vấn đề đói nghèo và thực trạng công tác
xoá đói, giảm nghèo ở các huyện miền núi và dân tộc
thiểu số Nghệ An trong giai đoạn hiện nay.
I. Một số quan niệm về đói, nghèo.
I.1. Thế nào là đói nghèo?
Mỗi một con ngời sinh ra ai cũng mong muốn mình có một cuộc sống vật
chất đầy đủ và đời sống tinh thần phong phú, mong muốn đợc học hành, có việc
làm, có cơm ăn áo mặc, có nhà ở và phơng tiện sinh hoạt. Các Mác đã chỉ ra rằng:
còn mang tính xã hội nhân văn, mặc dù sự đói nghèo trớc hết mang tính vật chất.
Nh vậy, đói nghèo không chỉ đơn thuần là thiếu thốn về vật chất, mà còn cả dân trí
nghèo, nghèo vì thiếu thốn về tinh thần, văn hoá, sức khoẻ, suy thoái môi trờng...
bản thân hiện tợng đói nghèo chỉ mang tính tơng đối. Thực tế cho thấy, các chỉ số
xác định đói nghèo và ranh giới phân biệt giữa giàu và nghèo luôn luôn thay đổi ở
từng thời điểm, trong từng vùng, từng nớc khác nhau, từng cộng đồng dân c khác
nhau...Do đó, không thể lấy chỉ số xác định đói nghèo ở thời điểm này vận dụng
một thời điểm khác, bởi các chỉ số đó luôn luôn biến đổi.
Tại Hội nghị bàn về giảm đói nghèo trong khu vực châu á- Thái Bình Dơng
do ESCAP tổ chức ở Băng Cốc (Thái Lan), các nhà nghiên cứu và các chuyên gia
hoạch định chính sách đã đa ra khái niệm, định nghĩa đói nghèo nh sau: "Nghèo
đói là một bộ phận tình trạng dân c không đợc hởng và thoả mãn những yêu cầu cơ
bản của con ngời đã đợc xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế- xã
hội và phong tục tập quán của địa phơng".
Nh vậy, ở đây ta phân biệt đói và nghèo ở 2 phạm vi:
- Nghèo là tình trạng một bộ phận dân c không đợc hởng, hoặc đợc hởng
rất ít ỏi những nhu cầu cơ bản của con ngời đã đợc xã hội thừa nhận tuỳ theo
trình độ phát triển kinh tế- xã hội và phong tục tập quán ở từng địa phơng.
- Còn đói là một bộ phận dân c không đợc hởng những nhu cầu cơ bản của
con ngời và cũng đã đợc thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và
phong tục tập quán ở các dân tộc, ở các địa phơng.
Nh vậy, ranh giới giữa cái đói và cái nghèo ở đây là đợc hởng hoặc hởng rất
ít ỏi và không đợc hởng, không đợc thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của cuộc sống
con ngời. Cái ranh giới đó luôn luôn kề sát bên nhau và rất dễ thay thế, do đó mục
tiêu xoá đói, giảm nghèo bền vững là không để hộ nghèo tụt xuống đói và cũng
không đợc che đậy tình trạng đói nghèo ở nông thôn.
8
trung bình, dới 2.000 đợc gọi là nớc nghèo.
Ví dụ ở một số nớc nh: ấn Độ, Pakistan và Bănglađét là 2.100 calo/ngời/ngày; các nớc Viễn Đông: là 2.500 calo/ngời/ngày;Việt Nam 1.800 calo/ngời/ngày.
Tóm lại, những quan niệm về đói, nghèo do cách tiếp cận khác nhau nên có
những cách lý giải khác nhau. Sự nghèo khổ là một khái niệm mang tính tơng đối
và biến đổi theo thời gian, khu vực sinh sống. Do vậy, về mặt nhận thức khoa học,
9
khái niệm nghèo đói mang tính định tính, phản ánh giới hạn của sự nghèo đói, từ
đó lợng hoá bằng các chỉ số có giá trị xác định và chỉ số này cũng không phản ánh
một cách cứng nhắc mà có sự biến đổi tơng ứng theo độ chênh lệch giữa các vùng,
các nớc và các cụm dân c.
I.2. Quan niệm đói nghèo ở Việt Nam.
Hiện nay, ở nớc ta để đánh giá về sự đói nghèo thờng dựa vào các tiêu chí:
thu nhập, nhà cửa, tiện nghi sinh hoạt, t liệu sản xuất, vốn liếng tích luỹ. Dựa vào
các yếu tố đó, ở Việt Nam có ba cách tiếp cận về đói nghèo.
Bộ LĐTB & XH lấy tiêu chí nghèo là thu nhập bình quân đầu ngời quy ra
gạo đủ bảo đảm cho nhu cầu tối thiểu hàng ngày, còn đói đợc xác định:
Hộ đói là tình trạng một bộ phận dân c nghèo có mức sống dới mức tối
thiểu, cơm không đủ no, áo không đủ mặc, thu nhập không bảo đảm duy trì cuộc
sống.
Trong hộ đói còn phân thành đói gay gắt và thiếu đói.
Thiếu đói là tình trạng dân c có thu nhập 12 kg gạo/ngời/tháng, còn đói gay
gắt là tình trạng dân c có thu nhập dới 8kg gạo/ngời/tháng.
Chuẩn mực nghèo đói đa ra là 15 - 16 kg gạo/ngời/tháng trong đó cơ cấu sử
dụng nh sau:
- Ăn: 13kg gạo/ngời/tháng.
- Mặc + ở: 2kg gạo/ngời/tháng.
- Văn hoá + giáo dục + y tế + đi lại: 1kg gạo/ ngời/tháng.
nhiệt lợng thì một hộ đợc xem là nghèo nếu không đủ thu nhập để mua gạo sao
cho cung cấp đợc 2.100 calo ngời/ngày.
Theo cách tính này, tiêu chí ở thành thị có mức thu nhập dới 70.000đ /ngời/tháng, ở nông thôn dới 50.000đ ngời/ tháng đợc xem là nghèo.
Theo các chuyên gia của Ngân hàng thế giới, ở Việt Nam lấy tiêu chí giàu
nghèo là thu nhập bình quân đầu ngời quy thành tiền đủ đáp ứng các nhu cầu cơ
bản về ăn, mặc, ở, đi lại, học tập, chữa bệnh (trong đó 60% dành cho ăn).
Theo cách tính này, ngời nghèo:
- ở thành thị thu nhập bình quân phải có ít nhất: 1.293.000đ/ngời/năm
- ở nông thôn phải có thu nhập bình quân ít nhất: 1.040.000đ/ngời/năm
Cũng có một tiêu chí để đánh giá hộ đói nghèo nh sau:
- Theo chuẩn cũ: Hộ đói có thu nhập bình quân dới 45000đ/ngời/tháng; hộ
nghèo có thu nhập dới 55 000đ/ngời/tháng đối với miền núi, hải đảo; dới
70.000đ/ngời/tháng đối với khu vực đồng bằng, trung du; dới 90 000đ/ngời/tháng
đối với khu vực thành thị.
- Theo chuẩn mới: Do bình quân thu nhập đầu ngời tăng, do sự tác động của
quá trình hội nhập và nhiều nguyên nhân khác, tháng 9/2005, Thủ tớng Chính phủ
đã đa ra quy định chuẩn đói nghèo mới. Theo chuẩn đó, hộ nghèo có thu nhập dới
80.000đ/ngời/tháng đối với miền núi, hải đảo; dới 100.000đ/ngời/tháng đối với khu
vực đồng bằng, trung du, dới 150.000đ/ngời/tháng đối với khu vực thành thị.
Theo chuẩn mới quốc gia chỉ có tiêu thức cho hộ nghèo, không còn tiêu thức
cho hộ đói, nên không phân hộ đói mặc dù thực tế vẫn còn hộ đói.
Trên đây là tiêu chí để đánh giá mức độ đói nghèo ở Việt Nam. Hiện nay,
chúng ta đang sử dụng tiêu chí của Bộ LĐTB & XH đa ra từ năm 1996, ngoài ra
cha có hệ tiêu chí nào khác.
Từ những tiêu chí nêu trên, chúng ta càng thấy rõ đặc trng kinh tế- xã hội
của hiện tợng đói nghèo nổi bật nhất là về mặt kinh tế. Do đó, xoá đói, giảm nghèo
11
trớc hết và căn bản phải từ kinh tế và bằng các biện pháp kinh tế, đồng thời không
pháp để hạn chế khoảng cách giữa giàu- nghèo và những mặt tiêu cực trong sự phân
hoá giàu nghèo, tránh xu hớng tạo ra bất bình đẳng trong xã hội. Do vậy chúng ta
phải khuyến khích các hộ làm giàu và phơng thức làm giàu chính đáng đúng bằng
sức lao động, tri thức khoa học kỹ thuật và năng lực quản lý điều hành của bản thân
mình. Hạn chế tối đa những mặt tiêu cực, đồng thời phải có chính sách phát triển
đồng bộ tạo điều kiện cho mọi ngời làm giàu, vơn lên giàu hơn, phải có sự điều tiết
12
thu nhập, nhằm từng bớc giải quyết sự chênh lệch giữa ngời giàu và ngời nghèo,
giữa miền xuôi và miền ngợc, giữa nông thôn và thành thị. Có nh vậy mới có thể đa
nền kinh tế xã hội của đất nớc phát triển một cách bền vững và ổn định.
Thực hiện đờng lối Đổi mới của Đảng, sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông
thôn trong những năm qua có nhiều khởi sắc và đạt đợc những thành tựu to lớn. Đời
sống các tầng lớp c dân đợc nâng lên cả về vật chất và tinh thần. Số hộ giàu và mức
giàu ở nông thôn tăng lên, số hộ nghèo và mức nghèo giảm xuống. Công tác xoá
đói, giảm nghèo đợc Đảng và Nhà nớc đặc biệt quan tâm và đầu t thoả đáng, thông
qua hàng loạt cơ chế, chính sách và chơng trình, dự án quốc gia và quốc tế, nên đã
đạt đợc những kết quả đáng khích lệ. Việt Nam đợc quốc tế đánh giá là nớc đi đầu
trong các nớc đang phát triển về tốc độ xoá đói, giảm nghèo nhanh trong những
năm gần đây.
Hội nghị các nhà tài trợ cho Việt Nam, họp tại Hà Nội, tháng 12/2001, ông
A.Xtia, Giám đốc ngân hàng thế giới (WB) tại Việt Nam đã nhận xét rất đúng rằng:
Trong thập kỷ qua, nhờ xây dựng chu đáo và nỗ lực thực hiện chơng trình cải
cách, Việt Nam đã thành công hơn những nớc đang phát triển khác trong những
mục tiêu phát triển và xoá đói, giảm nghèo.
Tổng cục Thống kê đã tiến hành khảo sát mức sống của các hộ gia đình Việt
Nam năm 2004. Cuộc khảo sát dựa trên cơ sở những nội dung của cuộc điều tra
mức sống hộ gia đình năm 2002. Kết quả sơ bộ nh sau:
Về thu nhập của dân c: trong năm 2003, 2004, thu nhập bình quân 1 ngời/tháng chung cả nớc theo giá hiện hành đạt 484.000đ, tăng 36% so với năm 2001,
so với 11,9% năm 2001- 2002.
Về chi tiêu của dân c : Tính chung cả nớc chi tiêu cho đời sống năm 20032004 bình quân 1 ngời/tháng theo giá hiện hành đạt 370 nghìn đồng, tăng 37,5% so
với năm 2001- 2002, bình quân mỗi năm tăng 17,2%, cao hơn thời kỳ 1999- 2002
(+10,3%) và thời kỳ 1996- 1999 (+6,6%). Nếu tính theo giá so sánh, năm 2002 là
gốc, chi tiêu thực tế năm 2003- 2004 đạt 328 nghìn đồng, tăng 12,1%, ở tất cả các
vùng, chi tiêu cho đời sống bình quân 1 ngời/tháng tăng khá so với năm 20012002.
Mức sống tiếp tục có bớc chuyển biến tích cực thông qua số liệu chi tiêu
cho đời sống. Theo số liệu chi tiêu qua cuộc khảo sát mức sống hộ gia đình năm
2004, tỷ lệ nghèo chung cả nớc giảm từ 37,4% năm 1997- 1998 xuống còn 28,9%
năm 2001- 2002 và 24,1% năm 2003- 2004.
Nh vậy, năm 2003- 2004 thu nhập của c dân tăng khá so với năm 20012002, tỷ lệ nghèo giảm, đời sống của các tầng lớp dân c có sự chuyển biến tiến bộ.
Theo ý kiến tự đánh giá của 44 068 hộ đợc điều tra ở 64 tỉnh, thành phố về mức
sống gia đình năm 2003- 2004 so năm 1999, có 84% hộ trả lời cuộc sống gia đình
đợc cải thiện hơn, 11,2% hộ trả lời nh cũ, 4,8% hộ trả lời giảm đi.
1.3.2. Phân hoá giàu nghèo là một xu hớng tất yếu của xã hội Việt Nam
hiện nay.
Theo báo cáo của Liên hợp quốc năm 1996, trong hơn 3 thập kỷ qua, mặc dù
nền kinh tế thế giới có tốc độ tăng trởng kinh tế nhanh, thu nhập kinh tế quốc dân
bình quân đầu ngời tăng lên 3 lần, GDP của thế giới tăng 6 lần, từ 4 000 tỷ USD
năm 1994 lên 23 000 tỷ USD năm 1996, nhng hố ngăn cách giữa ngời giàu và ngời
nghèo trên thế giới ngày càng sâu sắc, thu nhập của 385 nhà tỷ phú trên thế giới
hơn tổng thu nhập của hơn 2,3 tỷ ngời nghèo nhất chiếm 45% dân số toàn thế giới.
14
Trong hơn 30 năm qua, thu nhập của nhóm 20% ngời nghèo nhất hành tinh đã giảm
xuống còn 1,4% thu nhập của thế giới, trong khi đó, phần thu nhập của nhóm 20%
ngời giàu nhất đã tăng lên đến 85%.
Mang những đặc điểm chung của thế giới, ở nớc ta hiện nay, phân hoá giàunghèo là một vấn đề đang nổi lên mang tính thời sự cấp bách và đợc xem là cái
trục trung tâm của sự phân tầng xã hội.
biến động của sự phân hoá thu nhập qua bảng số liệu sau:(Bảng 1):
15
Mức chênh lệch 10% số hộ có mức thu nhập
Năm
cao với 10% số hộ có mức thu nhập thấp
1996
10,6
1999
12
2001 - 2002
12,5
2003 - 2004
13,5
Phân hoá giàu nghèo là một hiện tợng có tính hai mặt: tích cực và tiêu cực,
trong đó mặt tích cực vẫn là chủ yếu vì xét một cách toàn diện, cơ bản mức độ phân
hoá giàu nghèo ở nớc ta vẫn còn diễn ra ở mức thấp, nó gắn với sự phân phối theo
lao động, ngời lao động có kết quả hơn tất nhiên thu nhập sẽ cao hơn. Trong tính
hai mặt của sự phân hoá giàu nghèo, chúng ta phải có cách nhìn biện chứng để phát
huy mặt tích cực của nó với tính cách là chỉ báo sự phát triển kinh tế- xã hội và sự
phân phối theo kết quả lao động. Do vậy, cần khuyến khích làm giàu chính đáng,
nhng mặt khác phải hạn chế mặt tiêu cực của sự phân hoá giàu nghèo nh là: Sự bất
bình đẳng trong xã hội; những thủ đoạn làm giàu bất hợp pháp, bất chính nh: tham
nhũng, buôn lậu, trốn thuế... hạn chế những tệ nạn xã hội. Để hạn chế mặt tiêu cực
này không những khuyến khích mọi ngời làm giàu chính đáng mà còn phải mở
rộng và đẩy mạnh cuộc vận động xoá đói, giảm nghèo.
Sự phân hoá giàu nghèo về kinh tế ở nớc ta kéo theo sự "phân hoá" về giáo
dục, y tế, văn hoá. Hậu quả phổ biến ở khắp mọi nơi là những ngời giàu đợc hởng
những thành quả của giáo dục, văn hoá, y tế của xã hội nhiều hơn ngời nghèo. Điều
văn minh, đó cũng vừa là nội dung của sự phát triển theo định hớng xã hội chủ
nghĩa ở nớc ta, trong đó năm yếu tố luôn đi liền với nhau, không đợc biệt lập,
không đợc cắt khúc, mỗi thời gian phải đạt đợc một trình độ cao hơn.
Công cuộc Đổi mới đã đa nớc ta ngày càng khởi sắc, nền kinh tế phát triển
triển năng động với tốc độ cao (trên 7%). Trên cơ sở những thành tựu kinh tế đã đạt
đợc, Đảng ta đặc biệt chú trọng tới việc giải quyết các vấn đề xã hội. Đó chính là
một giải pháp quan trọng nhằm củng cố lòng tin của nhân dân ta với Đảng, Nhà nớc và với chế độ.
Có thể nói, trong các vấn đề xã hội thì vấn đề đói nghèo đóng vai trò quan
trọng mà việc giải quyết nó là biểu hiện trực tiếp nhất, dễ thấy nhất bản chất của
chế độ ta, thể hiện đợc tính u việt của chế độ xã hội mà chúng ta đang ngày đêm ra
sức xây dựng. Có ngời ngộ nhận rằng : Giàu mạnh và văn minh thì chủ nghĩa t bản
đã đạt tới lâu rồi. Nhng thực chất không phải. Nhiều nớc t bản rất giàu có, nhng
nhất quyết không phải là dân giàu mà chỉ là một nhóm ngời giàu. Dới chủ nghĩa
t bản không có khái niệm Dân giàu mà chỉ có khái niệm ngời giàuvà đây
chính là hạn chế của xã hội t bản, của nền dân chủ t sản. Đúng nh C. Mác đã chỉ
rõ: Các nhà t bản không thể làm giàu trên lng nhau mà chỉ có thể làm giàu bằng
nghệ thuật bóc lột nhân dân lao động và càng hiện đại thì nghệ thuật càng tinh
vi. Một xã hội mà nền văn minh, giàu sang chỉ là của một nhóm ngời và trên cơ
thể xã hội còn đầy thơng tích, bệnh hoạn. Chẳng hạn nh ở nớc Mỹ- một nớc đợc
coi là nơi chứa đựng những thành tựu văn minh nhất của tiến bộ xã hội, một đất nớc
19
giàu có. Nhng sự giàu có ấy thuộc về ai khi mà 30 triệu dân da đen hoàn toàn bị bỏ
rơi, năm 1993 có tới 37,5 triệu ngời sống dớc mức nghèo khổ, tăng 12,5 triệu ngời
so với năm 1970, hiện nay 20% ngời giàu của nớc Mỹ chiếm tới 85% tổng số tài
sản của nớc Mỹ. Richard Bergerron trong tác phẩm: Phản phát triển, cái giá phải
trả của chủ nghĩa tự do đã viết: Xã hội Mỹ đã làm cho những ngời nghèo của họ
nghèo thêm và làm cho những ngời giàu của họ giàu thêm, và phân cực giàunghèo rõ rệt hơn Và : Trong các nền văn minh đợc coi là phát triển của chúng
ta, tồn tại một tình trạng kém phát triển thảm hại về văn hoá, trí não, đạo đức và
Các cuộc điều tra về đói nghèo là cơ sở để các cấp, các ngành, các tổ chức
đoàn thể nắm đợc thực trạng đói nghèo của từng hộ trên từng địa bàn hành chính
với các nội dung nh: Mức thu nhập bình quân đầu ngời/tháng, đối tợng, nguyên
nhân dân tới đói nghèo, nguyện vọng đợc trợ giúp, tình trạng tài sản Kết quả điều
tra là hệ thống số liệu cơ bản nhất để căn cứ vào đó, các cấp, các ngành đề ra những
quyết sách cho phù hợp.
Nh vậy, vấn đề xoá đói, giảm nghèo có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với nớc ta trong mọi giai đoạn cách mạng cả hôm nay và mai sau.
II. thực trạng đói nghèo ở các huyện miền núi nghệ an.
2.1. Các nguồn lực phát triển kinh tế- xã hội của các huyện
miền núi Nghệ An.
Nghiên cứu thực trạng đói nghèo ở Nghệ An, trớc hết chúng ta phải hiểu sâu
sắc điều kiện tự nhiên và địa lý vì đó là những yếu tố ảnh hởng rất lớn sắc đến cuộc
sống của cộng động c dân miền núi Nghệ An.
2.1.1. Nguồn lực tự nhiên.
2.1.1.1. Vị trí địa lý.
Nghệ An là một tỉnh thuộc vùng Bắc Trung bộ, Bắc giáp tỉnh Thanh Hoá,
Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh, phía Tây giáp nớc Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào (các
tỉnh Xiêng khoảng, Pôlikhămxay và Hủa phăn) với đờng biên giới dài 419 km, phía
Đông giáp biển Đông với chiều dài trên 80 km. Diện tích tự nhiên của Nghệ An có
16.370 km2, đứng thứ 3 trong cả nớc sau Đaklak và Lai Châu. Địa hình Nghệ An
dài và rộng, có cả miền núi, trung du, đồng bằng và vùng biển. Phía Tây có dãy Trờng Sơn trùng điệp, phía Đông có biển Đông bao la. Rừng núi Nghệ An chiếm
khoảng 3/4 diện tích của tỉnh, phần lớn chạy theo hớng Tây bắc- Đông nam, thấp
dần về phía Đông. Núi rừng Nghệ An chủ yếu đợc tạo nên bởi vùng núi Phù Hoạt
và dãy Trờng Sơn. Vùng đất rừng núi Nghệ An chứa nhiều khoáng sản và kim loại
quý nh vàng, thiếc, chì, kẽm, măngan... Về khoáng sản phi kim loại có các loại đất
sét để làm sành, sứ, đá hoa, đặc biệt các dãy núi đá vôi có trữ lợng rất lớn (ớc
khoảng 250 triệu m3), đó là nguồn nguyên liệu dồi dào cho các công trình xây
dựng, làm đờng, các nhà máy xi măng và các lò vôi...
2.1.2. Nguồn lực kinh tế- xã hội của tỉnh Nghệ An nói chung và các
huyện miền núi.
- Sự phân bố dân c ở Nghệ An nói chung:
Nhân khẩu thực tế của Nghệ An tính đến 8/2002 thuộc các huyện, thị nh sau:
Huyện
Anh Sơn
Con Cuông
Cửa Lò
Diễn Châu
Đô Lơng
Số dân
108.657
59.877
45.978
257.225
228.040
Số hộ
22.054
11.760
9.427
39.661
44.998
Số xã
20
13
7
39
357.680
52.396
50.219
56.335
65.360
257.342
130.280
228.468
32.599
61.565
8.473
38.034
49.135
38.680
77.512
23.257
9.433
9.370
11.453
50.206
32.810
54.638
23
37
21
24
33
32
592.066
446
5.357
Bảng 2: (Nguồn: Hội nông dân Nghệ An, cung cấp tháng 3/2003)
Thực tế đó cho thấy, dân c Nghệ An sinh sống ở nông thôn còn chiếm tỷ lệ
quá lớn, chứng tỏ ở Nghệ An thành thị và các vùng kinh tế trọng điểm cha phát
triển, sự phân công lao động giữa nông nghiệp và công nghiệp và dịch vụ tuy đã
diễn ra nhng còn cha mạnh mẽ. Thực trạng đó cũng đặt ra cho lãnh đạo Nghệ An
phải nhanh chóng phát triển các đô thị, các khu kinh tế, phải tạo ra sự chuyển biến
to lớn trong trong chuyến dịch kinh tế và phân công lao động.
- Sự phân bố dân c ở các huyện miền núi:
Từ một góc độ khác, ta nhận thấy, tuy dân c Nghệ An trên 90% sống ở nông
thôn, nhng lại tập trung chủ yếu ở đồng bằng, ven biển và trung du, còn 6 huyện
miền núi: Con Cuông, Tơng Dơng, Kỳ Sơn, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Quế Phong tổng
dân số chỉ có 335.474 ngời. Nh vậy, tổng số dân c 6 huyện miền núi, định c trên
địa bàn chiến lợc quan trong, chiếm trên 60% tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh
mà số dân chỉ chiếm 11,38%. Dân c sống tha thớt, mật độ dân số bình quân 62- 64
ngời/km2 , có nơi chỉ có 2- 4 ng/km 2. Tổng số dân c của 6 huyện miền núi thấp hơn
số dân của huyện Quỳnh Lu hoặc gần tơng đơng dân c huyện Diễn Châu. Sự bất
cập đó cho thấy, Nghệ An còn nhiều tiềm năng về đất đai tự nhiên cha đợc khai
thác đúng mức và sinh lợi. Bình quân đầu ngời/km2 của Nghệ An còn thấp hơn bình
quân cả nớc (Tất nhiên so với một số tỉnh ở Tây Bắc và Tây Nguyên thì Nghệ An
cao hơn) với 174 ngời/km2. Nhng trong nội bộ tỉnh Nghệ An thì bình quân đó có sự
chênh lệch rất lớn giữa đồng bằng và vùng núi. ở xã Quỳnh Thuận (Quỳnh Lu)
bình quân 1.700 ngời/km2, thì ở xã Nậm Giải (Quế Phong) chỉ có 4 ngời/km2...
Số hộ
228 978
185 779
129 335
109 946
46 063
50 225
115 167
56 642
70 052
58 445
1 068 632
2 893 199
48 867
39 872
26 539
24 134
12 635
9 511
23 454
9 803
12 722
8 873
216 410
620 267
23
dựng và ngày càng hoàn thiện nh công trình nớc sạch, công trình thuỷ lợi, các công
trình điện- đờng- trờng- trạm... bớc đầu đã phát huy hiệu quả, góp phần xoá ranh
giới giữa miền núi và đồng bằng, miền xuôi và miền ngợc. Tuy nhiên, cơ sở hạ
tầng ở đây cơ bản vẫn còn lạc hậu, cha đáp ứng đợc nh cầu của đất nớc trong thời
kỳ CNH- HĐH. Một số công trình đã xuống cấp trầm trọng đang đòi hỏi phải xây
dựng lại.
2.2. Thực trạng đói, nghèo của các huyện vùng miền núi và dân
tộc thiểu số Nghệ An trong giai đoạn Hiện nay.
2.2.1. Vấn đề đói nghèo ở Nghệ An.
24
Căn cứ vào tiêu chí của Nhà nớc ta quy định về sự giàu nghèo, đối chiếu vào
thực tế do nhóm đề tài điều tra, khảo sát, nghiên cứu ở Nghệ An, chúng tôi mạnh
dạn đa ra một số con số về thực trạng giàu nghèo ở Nghệ An nh sau:
2.2.1.1. Một số vấn đề về chênh lệch giàu nghèo ở Nghệ An.
So với nhiều địa phơng khác trong cả nớc mà đặc biệt là Hà Nội, Hải Phòng,
Đà Nẵng, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Tp. Hồ Chí Minhthì tỷ lệ ngời giàu
trong cộng đồng dân c và giá trị thu nhập tuyệt đối của ngời giàu của Nghệ An thấp
hơn. Nếu nh ở nhiều địa phơng khác trong cả nớc, bình quân thu nhập của hộ giàu
gấp từ 40 đến 100 lần bình quân thu nhập của hộ nghèo, thì ở Nghệ An theo khảo
sát, bình quân đó chỉ khoảng 16 đến 18 lần.
Bảng 5. Bình quân thu nhập của một số địa phơng:
TT
B/q thu nhập
năm 2000
Địa phơng
Huyện
Năm 1999
Năm 2000
Năm 2001
1
2
3
4
5
Tp. Vinh
Cửa Lò
Nghi Lộc
Hng Nguyên
Nghĩa Đàn
176
86
127
136
195
253
92
138
168