Lê Thị Hồng Thủy
Khóa luận tốt nghiệp
Lời cảm ơn
Để hoàn thành khoá luận này, trớc hết tôi xin chân thành
cảm ơn thầy giáo Nguyễn Đôn Quế cùng với các thầy cô trong tổ
Lịch sử Việt Nam. Xin cảm ơn các đơn vị và cá nhân trên địa bàn
huyện Tân Kỳ đã giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài này.
Đề tài này đợc tiến hành trong một thời gian có hạn với khả
năng còn hạn chế của bản thân và nguồn tài liệu khó tìm, do vậy
không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế. Tôi rất mong nhận đợc
sự góp ý của thầy cô và các bạn sinh viên.
Vinh, tháng 5 năm 2005.
Tác giả
Lê Thị Hồng Thủy
=1=
Lê Thị Hồng Thủy
Khóa luận tốt nghiệp
Mục lục
Trang
Mở đầu............................................................................................................
Nội dung.........................................................................................................
ít. Tuy vậy Tân Kỳ vẫn rất tự hào và có quyền tự hào với truyền thống lịch sử
hào hùng nh bao huyện khác trong tỉnh và trong cả nớc.
Truyền thống đó là từ các xã, bởi vì đó là những xã đã có từ lâu đời của
các huyện Anh Sơn, Đô Lơng, Nghĩa Đàn và huyện Yên Thành tách ra để
thành lập huyện Tân Kỳ. Do vậy Tân Kỳ còn có nét khác biệt đó là mang
nhiều sắc thái và phong phú hơn.
Tân Kỳ cũng rất tự hào rằng tuy mới đợc thành lập nhng đã có những
đóng góp không nhỏ của mình vào công cuộc xây dựng CNXH và kháng
chiến chống Mỹ giành đợc toàn thắng của cả toàn dân tộc đủ để viết đợc một
cuốn lịch sử của huyện.
Với những lý do trên, khi đợc thầy giáo hớng dẫn gợi ý tôi đã mạnh dạn
chọn đề tài: Một số vấn đề về lịch sử Tân Kỳ trong giai đoạn (1963 - 1975)
để nghiên cứu và biên soạn làm khoá luận tốt nghiệp chuyên ngành lịch sử
Việt Nam (khoá 2000 - 2005 ) của mình.
Tôi hy vọng với đề tài của mình sẽ góp một phần nhỏ cho việc học tập
và nghiên cứu lịch sử địa phơng. Đồng thời là một tài liệu góp phần giúp nhân
dân Tân Kỳ sẽ thấy đợc mảnh đất quê hơng của mình một cách đầy đủ và toàn
diện hơn.
2. Lịch sử vấn đề:
Là một huyện miền núi thành lập muộn, tài liệu viết về Tân Kỳ cha
nhiều, trớc hết đó là các bản báo cáo đề nghị phong tặng danh hiệu anh hùng
lực lợng vũ trang nhân dân Tân Kỳ trong cuộc kháng chiến chống mỹ cứu nớc
nhng trong đó cũng chỉ đề cập đến một cách tóm tắt những thành tích của
nhân dân Tân Kỳ trong công cuộc xây dựng CNXH và kháng chiến chống Mỹ
(1963 - 1975).
=3=
Lê Thị Hồng Thủy
Để hoàn thành đề tài này chúng tôi đã sử dụng các phơng pháp nghiên
cứu sau đây:
Phơng pháp lịch sử, phơng pháp lô gíc là chủ yếu đồng thời kết hợp với
các phơng pháp chuyên ngành, phơng pháp so sánh đối chiếu, kết hợp t liệu
thành văn, t liệu điền dã để xử lý các số liệu.
5. Bố cục của đề tài:
=4=
Lê Thị Hồng Thủy
Khóa luận tốt nghiệp
Luận văn gồm phần mở đầu nh đã trình bày
Phần nội dung
Chơng I:
Vị trí địa lý tự nhiên, truyền thống yêu nớc và cách mạng.
1.1. Vị trí địa lý
1.2. Truyền thống yêu nớc và cách mạng
Chơng II: Tân Kỳ trong công cuộc xây dựng CNXH và kháng chiến
chống Mỹ cứu nớc (1963 - 1975)
2.1 Tân Kỳ trong công cuộc xây dựng CNXH và là hậu
phơng quan trọng cho tiền tuyến.
2.2. Tân Kỳ chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của Đế
Quốc Mỹ bảo vệ quê hơng.
Phần kết luận
Tài liệu tham khảo
=5=
Tân Kỳ chủ yếu là rừng núi chỉ có một số cánh đồng hẹp lại bậc thang nằm
ven Sông Con, 2/3 các xã trong huyện đều nằm ven Sông Con, con sông này
duy nhất chạy theo hớng Đông Bắc - Tây Nam của huyện.
Địa hình Tân Kỳ thấp dần về phía Sông Con và nếu nhìn bao quát cả
bốn phía ta thấy Tân Kỳ nh lòng chảo, vùng cao nhất là các xã: Tân Hợp, Tân
Xuân, Giai Xuân. Vùng thấp nhất là các xã nằm dọc theo Sông Con.
Núi cao nhất là: - Pù Loi
1.100 m
- Pù Hà
490 m
- Bồ Đồ
472 m
Ngoài ra núi lô nhô nằm ngổn ngang khắp các địa bàn huyện. Nh vậy
qua tìm hiểu ta thấy Tân Kỳ có các dạng địa hình sau:
=6=
Lê Thị Hồng Thủy
Khóa luận tốt nghiệp
1, Dạng địa hình tơng đối bằng phẳng gồm các xã: Nghĩa Đồng, Nghĩa
Hoàn, Nghĩa Thái... vùng này đất đai màu mỡ thuận tiện cho việc trồng các
loại cây nh: Lúa, ngô, sắn, đậu, lạc và chăn nuôi.
2, Dạng địa hình nghiêng hẳn về một phía, tức là từ chân núi Bồ Đồ tới
Sông Con, chạy từ Bắc chí Nam gồm các xã: Nghĩa Bình, Nghĩa Hợp, Nghĩa
Dũng, Kỳ Sơn, Kỳ Tân. Vùng nay đất đai canh tác hẹp, đồi núi nhiều.
3, Dạng địa hình đồi núi bát úp, sát sát kề nhau, cái cao, cái thấp gồm
các xã: Nghĩa Hành, Hơng Sơn, và Phú Sơn vùng này tơng đối bằng phẳng để
canh tác.
Theo số liệu tổng hợp 3 năm 1973, 1974, 1975 của Trạm khí tợng Phủ
quỳ thì trung bình lợng ma và nhiệt độ đợc ghi nh sau theo từng tháng.
Tháng
Thành phần
Nhiệt độ (0C)
Lợng ma
(mm)
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
15,5
179
220
240
360
228
73
Qua bảng trên ta thấy:
- Nhiệt độ trung bình hàng tháng là 230c
- Nhiệt độ cao nhất 420c ( tháng 7/1973) và thấp nhất (12/1973)
- Lợng ma trung bình hàng năm là 1.525 mm.
Nh vậy ở Tân Kỳ, sự chênh lệch về nhiệt độ giữa 2 mùa nóng và lạnh có
một khoảng cách khá rõ, lợng ma giữa các mùa ở các vùng cũng có sự chênh
lệch nhất định. Do đó cũng gây cho nhân dân Tân Kỳ không ít khó khăn trong
làm ăn.
1.1.3. Giao thông:
Tân Kỳ ở vào một vị trí không thuận lợi về mặt lu thông: Đờng sắt, đờng bộ rải nhựa đã cha có, đờng sông chỉ có Sông Con với độ dài 72 km chảy
dài trên đất Tân Kỳ nhng sông này độ sâu không đồng đều, quanh co nên chỉ
thuyền bè nhẹ chở vài ba tấn mới đi lại đợc.
Các con đờng khác trên đất Tân Kỳ:
=8=
1.1.4. Dân c:
Khi mới thành lập, dân số huyện Tân Kỳ mới gần 2 vạn ngời bao gồm
hai nhóm ngời chủ yếu:
1. Nhóm Việt-Mờng:
Nhóm này gồm 2 thành phần đó là ngời Việt (kinh) và ngời Thổ. Trớc
hết cần nói ngay rằng, tất cả c dân ở miền Bắc Việt Nam hiện này đều thuộc
=9=
Lê Thị Hồng Thủy
Khóa luận tốt nghiệp
tiểu chủng Nam Mông - Gôlôidô (thờng gọi là Nam á) hoặc các ngành Anh
đơ - nê - điêng, tức là một hỗn chủng giữa ngời da đen với ngời da vàng.
Các c dân ở Nghệ Tĩnh, đặc biệt là nhóm Việt - Mờng, dù ở trong một
mảnh đất nhỏ nhoi nh Tân Kỳ cũng không thoát khỏi quy luật đó, họ là những
thổ dân ở đây từ xa xa.
Số đông ngời Việt (kinh) hiện sinh sống ở Tân Kỳ là di duệ trực tiếp
hoặc gián tiếp của những con ngời làm chủ các thời văn hoá nh văn hoá đồ
đồng ở Làng vạc, Làng đình, Làng bồi...
Từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945 với chủ trơng khai thác vùng núi
phát triển kinh tế miền núi của Đảng, Nhà nớc ta, bao đợt di dân, chuyển dân
do Nhà nớc tổ chức đã ồ ạt đa bà con miền xuôi lên Tân Kỳ, họ đến đây nhiều
nhất vào những năm 1948 -1949, 1960 -1961, 1964 - 1965, 1970 - 1971 để lập
nên các nông trang, các đơn vị khai thác sản xuất, các làng mới hoặc ở xen
ghép với bà con dân tộc, với ngời Kinh đã ở lâu đời tại Tân Kỳ, giờ họ trở
thành ngời Tân Kỳ.
Về ngời Thổ: Là một nhóm Việt - Mờng c trú lâu đời tại địa phơng này,
đến Kỳ sơn phần lớn là đất ngô.
Trong số 70.680 ha đất tự nhiên có 24,091 ha là đất nông nghiệp
chiếm1/2 diện tích trồng ngô.
Có 3 nơi thờng xuyên trồng ngô đó là:
- Vùng Sen, Sẻ
(Nghĩa Đồng)
- Vùng làng Dũng
(Nghĩa dũng)
- Vùng Mng, Rom
( Kỳ tân, Kỳ sơn)
ở Tân Kỳ giao thông vận tải đi lại gặp nhiều khó khăn, đờng chủ yếu
là đờng đất, ma lũ thì lầy lội, đờng dốc quanh do đó rất khó khăn cho việc vận
chuyển hàng hoá. Nên 2 bữa ăn của bà con Tân Kỳ trớc đây ngô thay cơm là
chủ yếu.
Bên cạn trồng ngô thì bà con Tân Kỳ cũng trồng lúa, chủ yếu là lúa Lốc
cằn và Lốc dành và lúa nơng. Tuy nhiên trồng lúa lúc đầu cũng gặp không ít
khó khăn, giống tốt thì hiếm do vậy mà đời sống của bà con Tân Kỳ gặp rất
nhiều khó khăn. Đến bây giờ nhờ khoa học, kỷ thuật đợc cải tiến, giao thông
đợc mở mang đi lại làm cho đời sống của bà con Tân Kỳ có nhiều thay đổi
đáng kể.
Ngoài ra bà con Tân Kỳ cũng trồng các loại lơng thực khác nh khoai,
sắn, đậu... Bên cạnh trồng trọt, bà con Tân Kỳ còn sống bằng nghề rừng, trồng
tre, mét, khai thác gỗ. Tân Kỳ là một vùng rừng núi có nguồn gỗ phong phú và
qúy hiếm và có giá trị khai thác, có nhiều động thực vật quý hiếm có giá trị
nay. Trải qua những bớc thăng trầm lịch sử của dân tộc, nhân dân Tân Kỳ
cũng nh nhân dân các địa phơng khác trong cả nớc nơi đây đã có nôi văn hoá
và truyền thống dân tộc, truyền thống cách mạng đầy tự hào.
1.2.1. Nghĩa quân Lam Sơn trên địa bàn của Tân Kỳ ngày này:
Nghe lời tâu của Nguyễn Chích: Nghệ An là nơi hiểm yếu, đất rộng
ngời đông. Tôi đã từng qua lại Nghệ An nên rất thông thạo đờng đất. Nay ta
trớc hãy đánh lấy Trà Long chiếm giữ cho đợc Nghệ An để làm chỗ đứng
chân, rồi rồi dựa vào nhân lực, tài lực đất ấy mà quay cờ tiến ra Đông đô thì
có thể tính xong đợc việc dẹp yên thiên hạ [2; 1]
Lê Lợi thấy đó là một ý kiến có tầm quan trọng chiến lợc vô cùng sáng
suốt, nên ngay sau đó quyết định mở cuộc hành quân vào Nghệ An để xây
dựng căn cứ địa.
Sau trận thắng Đa Căng ở Thọ Xuân (Thanh Hóa) nghĩa quân Lam Sơn
theo đờng núi vào đất Nghệ An là Bồ Đằng nay thuộc xã Châu nga huyện Quỳ
châu làm nên: Trận Bồ đằng sấm vang chớp giật (Nguyễn Trãi - Bình Ngô
đại cáo).
Đại thắng này nghĩa quân lại tiếp tục cuộc hành quân về phía thành Trà
Long. Một trong những con đờng nghĩa quân đi có lẽ vẫn là con đờng Thợng
đạo mà chúng tôi đã nói trên. Từ Châu nga qua Châu hội rồi Cổ ba, Bãi đinh,
Làng đong, Làng rạch cổ (Qùy châu, Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn) tức là con đờng
48 chạy men Sông Con tới Nghĩa Đồng, Nghĩa Thái, Nghĩa Hoàn, Nghĩa Phúc
rồi tập kết ở bãi Lơi Lơi thuộc đất của 3 xã Nghĩa Hành, Hơng Sơn, Phú Sơn
bây giờ.
Tại vùng rừng núi này của Tân Kỳ Lê Lợi đã thiết lập hành dinh tạm
thời để đánh tan đạo quân của S hu tại Trang Trinh Sơn bên kia Sông Con và
chỉ huy việc bao vây thành Trà Long.
Tại Tân Kỳ nhân dân 2 xã Tiên Kỳ và Đồng văn đã theo Trơng Hán một
tù trởng ngời Thái ở Khe trăng (trớc thuộc Tiên Kỳ hay thuộc xã Thọ sơn Anh Sơn) gia nhập nghĩa quân. Trơng Hán cùng 2 em ruột là Trơng Tâm và
Trơng Tham đã đem voi, ngựa, trâu, bò, gà, vịt và lơng thực giúp đỡ nghĩa
quân. Chính Trơng Hán đã dẫn đờng cho nghĩa quân tiến vây thành Trà Long
sử nớc nhà, tạo ra một bớc ngoặt lớn của lịch sử dân tộc. Khi đánh giá về
nguyên nhân thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, một trong những nhân
tố chủ yếu làm nên thắng lợi là sức mạnh đoàn kết toàn dân. Đây là điều mà
không có ý kiến nào phản bác đợc vì nó thể hiện rõ và xuyên suốt trong quá
trình khởi nghĩa. Một truyền thống tốt đẹp của nhân dân Việt Nam đợc thể
hiện trong khởi nghĩa Lam Sơn nhiều khía cạnh, trong đó không thể không
nhắc đến nhân dân Tân Kỳ với truyền thống vẻ vang đầy tự hào đó, nhân dân
Tân Kỳ đã góp một phần không nhỏ cho khởi nghĩa giành thắng lợi, để tỏ rõ
lòng biết ơn và những kỷ niệm sâu sắc về một thời chiến đấu oanh liệt trờng
phổ thông cơ sở ở thị trấn Tân Kỳ mang tên Nguyễn Trãi, trờng trung học phổ
thông mang tên Lê lợi. Đó là những đóng góp của nhân dân Tân Kỳ trong
khởi nghĩa Lam Sơn.
1.2.2. Nghĩa quân Lê Duy Mật trên đất Tân Kỳ:
= 15 =
Lê Thị Hồng Thủy
Khóa luận tốt nghiệp
Vào thế kỷ XVIII do chế độ phong kiến Việt Nam đã đi đến chỗ suy
yếu một phong trào nông dân đã nổi lên khởi nghĩa rầm rộ khắp nơi.
ở ngoài Bắc chúng ta thấy nào Vũ Tác Danh, Nguyễn Tuyến, Nguyễn
Cừ khởi nghĩa ở Hải hng.
Nguyễn Danh Phơng, Hoàng Công Chất nổi dậy ở Tây Sơn.
Nguyễn Hữu Cầu và các bộ tớng của ông tung hoành ở miền Hải hng,
Thái bình, Kiến an rồi Nghệ Tĩnh... các cuộc khởi nghĩa ấy tuy mạnh mẽ nhng
chỉ đợc một thời gian ngắn. Cuộc khởi nghĩa Lê Duy Mật vừa có quy mô lớn,
vừa lâu dài hơn cả.
Trong 31 năm (1738 - 1769) Lê Duy Mật đã vùng vẫy từ Tây Bắc đến
Vậy trong 18 năm trời 1751 đến 1769 Lê Duy Mật đã biến vùng Tân Kỳ
và cả miền Trấn ninh, Phủ quỳ, Tơng dơng... thành một căn cứ khá vững chắc.
Về mặt chính trị: Ông dựa vào nông dân thuộc các dân tộc khác nhau
nh Thái, Thổ, Kinh, Thanh... xây dựng một lực lợng khá mạnh để mu đồ cuộc
chống đối lâu dài.
Về mặt kinh tế xã hội: Thực hiện nhiều biện pháp nhằm cải thiện đời
sống cho nhân dân. Vì vậy nhân dân Tân Kỳ, nhân dân Nghệ Tĩnh càng hởng
ứng tích cực, càng củng cố, đoàn kết dới cờ khởi nghĩa của Lê Duy Mật.
Không hững thế ông còn xoá số nợ cho dân nghèo. Gia phả họ Nguyễn ở Tân
Kỳ có câu: Ai đi theo ( Lê Duy Mật) đợc miễn trả nợ, bọn chủ nợ lấy làm
đau.
Cũng theo truyền thuyết ở vùng Giai Xuân, Tân Hợp Lê Duy Mật còn
cấp ruộng Binh khố cho dân và quân cày cấy, ruộng này có đợc là do binh
sỹ khẩn hoang nơi mình đóng quân. Ngoài ra Lê Duy Mật còn chủ trơng di
dân, lập ấp, đào nông giang đa nớc vào ruộng, rèn đúc nông cụ lập chợ buôn
bán... Những vùng đất đai bằng phẳng màu mỡ, đặc biệt là những nơi quanh
đồn nghĩa quân đóng Lê Duy Mật kêu gọi ngời ở đồng bằng và những dân
phiêu tán về lập thành trại ấp để tính kế lâu dài. Chính vì vậy mà bà con Tân
Kỳ nói riêng, Nghệ Tĩnh nói chung rất hởng ứng lời kêu gọi của Lê Duy Mật,
nghĩa quân tập hợp dới ngọn cờ của ông.
Đàn áp xong cuộc khởi nghĩa ở ngoài Bắc, tập đoàn thống trị Lê Trịnh
kéo quân vào Nghệ An để dẹp phong trào Lê Duy Mật, với ý đồ nhanh chóng
ổn định vùng Nghệ Tĩnh Tháng 7 năm 1769 Trịnh Sâm phong Bùi Thế Đạt
làm Đại tớng quân đem 3 đạo quân lớn tiến theo 3 đờng:
- Đạo từ Hng hoá kéo xuống do Binh Nhung, Hoàng Đình dẫn đầu
- Đạo từ Thanh Hóa do Phan Thái Hầu, Nguyễn Phan dẫn đầu
- Đạo quân từ cửa Sông lam tiến lên do đích thân Bùi Thế Đạt chỉ huy.
Tháng 9 năm 1769 đạo quân Nghệ An đã hội quân với đạo quân Thanh
Hóa để tìm đờng tiến đánh Trình Quang. Trên đờng đi bọn chúng làm cỏ các
dâng toàn cõi Việt Nam cho thực dân Pháp. Một số quan lại chủ chiến đứng
đầu là Tôn Thất Thuyết sau vụ đánh úp kinh đô Huế đêm 5/7/1885 không
thành đem Hàm Nghi cùng toàn bộ lực lợng có thể có đợc ra Bắc, định dùng
Thanh Nghệ Tĩnh làm căn cứ chống Pháp.
Tại sơn phòng Phú gia (Hà tĩnh) Hàm Nghi xuống chiếu Cần Vơng
lần thứ 2 kể tội bọn cớp nớc và hô hào sĩ phu cùng nhân dân toàn quốc đứng
lên kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lợc.
Hởng ứng chiếu Cần Vơng của Hàm Nghi các sỹ phu yêu nớc Phan
Đình Phùng, Nguyễn Xuân Ôn, Lê Doãn Nhã, Nguyễn NguYên Thành... đã
vùng dậy chiêu mộ nghĩa quân để đánh Pháp.
Chúng ta vô cùng tự hào truyền thống cứu nớc và ý chí kiên cờng bất
khuất của nhân dân ta, nhng vì phong trào mang nặng tính cục bộ, tính địa phơng, tính tự phát thiếu sự lãnh đạo thống nhất nên sớm muộn đều bị thực dân
Pháp dìm trong bể máu. Tại Tân Kỳ không có sỹ phu nào dùng Tân Kỳ làm
căn cứ địa đầu tiên của cuộc khởi nghĩa Cần Vơng, chỉ có một số ngời gần
Anh Sơn ở các xã Hơng Sơn, Phú Sơn, Tiên Kỳ... đứng dới cờ của nghĩa quân
Lê Doãn Nhã tại đồn Mục hoặc cờ nghĩa quân của quân Bông tại Con Cuông.
Phía Tây Bắc cũng có một số ngời ở xã Nghĩa Đồng, Nghĩa bình, Nghĩa
Hợp đứng dới cờ nghĩa quân Nguyễn Xuân Ôn tại Lơng Điền - Diễn Châu.
= 18 =
Lê Thị Hồng Thủy
Khóa luận tốt nghiệp
Song cũng có một số làng nh: Làng Sen, Làng Sẻ (này là xã Nghĩa Đồng)
vùng lên. Tại Làng Sen những ngày trống mõ Cần Vơng rầm rập để mu đồ
khôi phục nớc Việt Nam cũng nh toàn quốc, nhân dân với lòng yêu nớc thiết
tha, trớc sau sẵn sàng hy sinh tài sản và cả tính mạng để cứu nớc nhng họ
thiếu lực lợng lãnh đạo có năng lực để tổ chức.
= 19 =
Lê Thị Hồng Thủy
Khóa luận tốt nghiệp
Nh vậy trong những năm cuối thế kỷ XIX đất nớc Tân Kỳ, con ngời Tân
Kỳ đã góp một phần không nhỏ vào phong trào cứu nớc dới các sỹ phu Cần Vơng điều đó thể hiện tình yêu quê hơng đất nớc của nhân dân Tân Kỳ.
Trong những năm cuối của thế kỷ XIX nhân dân Tân Kỳ, cùng với nhân
dân cả nớc nói chung, nhân dân Nghệ An nói riêng rất tự hào với truyền thống
yêu nớc và ý chí kiên cờng, bất khuất, ý chí chiến đấu đến cùng để khôi phục
giang sơn của họ còn lu mãi trên những trang sử hào hùng và đợc con cháu
phát huy mạnh mẽ, rạng rỡ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ góp phần quan
trọng để thống nhất đất nớc.
1.2.4. Tân Kỳ trong những năm 1930 - 1945:
Trong thời gian từ 1930 - 1945 Tân Kỳ cha phải là một khu vực hành
chính độc lập mà dân số nhiều lắm cũng chỉ trên dới 1 vạn ngời. Không có tổ
chức tiền bối của Đảng và khi Đảng ra đời Tân Kỳ cũng không có một tổ chức
nào là cơ sở của Đảng, mặc dù Tân Kỳ ngoài diện nông thôn còn có 2 đồn
điền là Vực Rồng và Đào Nguyên. Mãi đến gần cuối phong trào Xô Viết Nghệ
Tĩnh ảnh hởng cách mạng mới tới Tân Kỳ.
Tuy cha có tổ chức Đảng lãnh đạo nhng những năm 1930 - 1931 làn
sóng đấu tranh cao của công nhân Vinh - Bến Thủy và công nhân khắp nơi
trên đất Nghệ Tĩnh đã dội vào các đồn điền trong đó có Vực Rồng và Đào
Nguyên ở Tân Kỳ. Tuy cha có phong trào tăng lơng, giảm giờ làm hay phản
đối chính sách hà khắc của bọn địa chủ nh các đồn điền khác, song công nhân
Vực Rồng, Đào Nguyên đã lãn công ngầm và Quần tam tụ ngũ bàn
chuyện Cộng sản, chuyện Xã hội chuyện ruộng đất, chuyện đấu tranh.
lùng bắt. Một số đồng chí bị bắt và xử tử, phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh ở
Tân Kỳ mới nhóm lên đã bị khủng bố giữ dội.
Trong thời kỳ mặt trận dân chủ (1936 - 1939) khi mặt trận bình dân ở
Pháp lên nắm chính quyền. Đảng Đông Dơng đại hội thu thập nguyện vọng
của quần chúng để trao cho phái đoàn Gôđa do Chính phủ mặt trận nhân dân
Pháp cử sang, một tổ chức quần chúng cách mạng ở các làng xã Tân Kỳ cũng
ra đời.
Tại Tri Lễ, Tri Chỉ, Yên Hòa, Yên Thái... đều có hội tơng kế, tơng ái nh
hội hiếu, hội hộ sản, hội truyền bá quốc ngữ.
Còn trong các đồn điền phải đến tháng 8 năm 1938 sau đại hội Đảng bộ
tỉnh Nghệ An, một số đảng viên có kinh nghiệm mới đợc cử vào hoạt động ở
các đồn điền. Đồng chí Lê Văn Tiến ngời Đô Lơng đợc cử về gây cơ sở ở 2
đồn điền Vực Rồng và Đào Nguyên. Vừa truyền đơn giác ngộ công nhân vừa
nhen nhóm đợc tổ chức ban đầu là hội Tán trợ cách mạng thì nguy cơ đại
chiến thế giới thứ 2 bùng nổ, chính phủ của mặt trận nhân dân Pháp ngả về
phía hữu, việc hoạt động của đồng chí Lê Văn Tiến gặp nhiều khó khăn.
Nhng công nhân đồn điền với tình cảm giai cấp, với lòng căm thù giặc
sâu sắc đã đấu tranh bằng phá hoại sản xuất lãn công.
Đến năm 1923 theo Tập san kinh tế Đông Dơng thì Nghệ An lúc
này có tới 32 đồn điền, phần lớn nằm tại Phủ quỳ, đáng chú ý nhất là các đồn
điền Cát Mộng, Cao Trai, Tiên Sinh, Đông Hiếu, Nghĩa Hng... còn Tân Kỳ có
2 đồn điền Vực Rồng và Đào Nguyên. Đồn điền Vực Rồng thuộc địa phận xã
Nghĩa Hoàn ngày nay, đồn điền Đào Nguyên thuộc địa phận xã Nghĩa dũng
ngày nay.
= 21 =
Lê Thị Hồng Thủy
Khóa luận tốt nghiệp
Qua cái mốc lớn là tổng khởi nghĩa mùa xuân năm 1975, cách mạng
Việt Nam còn có nhiều thời kỳ và giai đoạn đầy khó khăn thử thách nữa. Hoà
mình vào cộng đồng dân tộc và nhân dân Việt Nam anh hùng, các thế hệ con
ngời trên mảnh đất Tân Kỳ tiếp tục phấn đấu vợt qua mọi khó khăn và thử
thách, giành đợc những thắng lợi tiếp theo, với lòng yêu quê hơng, đất nớc sẵn
sàng hy sinh vì tổ quốc, nhân dân Tân Kỳ đã đạt đợc những thành tựu to lớn
trong cách mạng tháng 8 giành thắng lợi.
= 22 =
Lê Thị Hồng Thủy
Khóa luận tốt nghiệp
1.2.5. Tân Kỳ cách mạng tháng 8 -1945 đến 1963:
Cách mạng tháng 8 - 1945 thành công, nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà
ra đời, đất nớc sang trang một kỷ nguyên mới trong lịch sử, bao nhiệm vụ cấp
bách mà chính quyền và cách mạng phải giải quyết, đó là chống giặc đói, giặc
dốt và ngoại xâm.
Từ năm 1945 đến năm 1963 khi huyện Tân Kỳ có trên bản đồ tổ quốc,
nhân dân Tân Kỳ đã trung thành với chế độ mới đi theo Đảng tiên phong, tích
cực thực hiện lời kêu gọi của chủ tịch Hồ Chí Minh là Tăng gia sản xuất!
Tăng gia sản xuất ngay! Tăng gia sản xuất mới để cứu đói, cứu bản làng
no ấm, chỉ trong một thời gian ngắn đời sống của bà con Tân Kỳ đã đợc ổn
định. Rồi công cuộc vận động xây dựng văn hoá mới, đời sống mới bà con
Tân Kỳ cũng nô nức hởng ứng. Việc quan trọng là cho mọi ngời biết chữ
Kinh, Thổ, Thái ở Tân Kỳ già, trẻ, trai, gái đều hăng hái đến các lớp học chữ
quốc ngữ và bài trừ các hủ tục của chế độ cũ nh đánh bạc, nghiện rợu, bói
toán, mê tín dị đoan đợc tiến hành, chính quyền dân chủ nhân dân đang đứng
trớc một nhiệm vụ nặng nề vô cùng khẩn trơng là lãnh đạo nhân dân chuẩn bị
mu xảo quyệt của đế quốc Mỹ - Ngụy vẫn phải tiếp tục cuộc cách mạng dân
tộc dân chủ nhân dân.
Nh vậy mặc dù thực dân Pháp thất bại, nhng sự nghiệp giải phóng dân
tộc và thống nhất tổ quốc cha hoàn thành. Đế quốc Mỹ tên hung nô thời đại
thay chân Pháp, nhân dân miền Nam còn bị áp bức dới chế độ thực dân kiểu
mới, cả miền Nam trở thành căn cứ quân sự của Mỹ, kẻ thù đã thay đổi, ý đồ
thâm độc của chúng không chỉ dừng lại vĩ tuyến 17 mà còn xã hơn với tham
vọng Bắc tiến lấp sông Bến hải cả nớc một lòng tiến tới phải giải
phóng miền Nam, chấp nhận cuộc đụng đầu lịch sử với kẻ thu xâm lợc mới
hung tàn nhất, xảo quyết và tàn bạo nhất trong cả mấy ngàn năm chống ngoại
xâm của dân tộc Việt Nam.
Nghệ An lúc này lại đứng trớc sứ mệnh mới, có thời cơ và thuận lợi mới
đồng thời cũng có không ít những khó khăn và thử thách mới cha hề có tiền lệ
với vị trí của mình, hơn bao giờ hết Nghệ An phải làm trọn nghĩa vụ hậu phơng trực tiếp của tiền tuyến lớn miền Nam và tiền tuyến của hậu phơng lớn
miền Bắc, đồng thời làm tốt nhiệm vụ quốc tế giúp nớc bạn Lào. Nghệ An trở
thành một trong những trọng điểm phải đơng đầu với nhiều âm mu chiến lợc
và thủ đoạn của kẻ thù.
Việc đầu tiên nhân dân Tân Kỳ phải làm là hàn gắn vết thơng chiến
tranh, phục hồi và đẩy mạnh sản xuất, bắt tay vào việc cải cách ruộng đất và
cải cách dân chủ ở tất cả các xã. Tiếp theo đó là cuộc vận động hợp tác hoá
nông nghiệp để xoá bỏ quan hệ sản xuất cũ lạc hậu, xây dựng quan hệ sản
xuất mới.
Đối với miền Nam ruột thịt từ năm 1955 Tân Kỳ đã ân cần tiếp cán bộ,
bộ đội và đồng bào tập kết ra bắc tại nông trờng Sông Con, lo cho họ sớm ổn
định việc làm và đời sống. Nhân dân Tân Kỳ tích cực hởng ứng các phong
trào, các cuộc đấu tranh nh đòi thống nhất đất nớc, đòi lập lại quan hệ bình thờng giữa hai miền Nam, Bắc. Nhân dân Tân Kỳ đã sát cánh với Tổ quốc để
đấu tranh giành độc lập cho nớc nhà.
Chỉ là một mảnh đất nhỏ của Tổ quốc, giữa núi rừng âm u nhng con ngời Tân Kỳ đã có những truyền thống yêu nớc thiết tha, truyền thống cách
mạng từ bao đời xa xa. Một mảnh đất Tân Kỳ nhng chính đó cũng là cái nơi