Một số vấn đề về phương pháp dạy học thơ đường ở nhà trường phổ thông - Pdf 32

phần mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Nh chúng ta đã biết, đời Đờng (618-907) là thời kỳ toàn thịnh của xã hội
phong kiến ở Trung Quốc. Vào đời Đờng, lãnh thổ Trung Quốc đợc mở rộng cha từng có, tình hình chính trị tơng đối ổn định, kinh tế phát triển, văn hóa nghệ
thuật phồn vinh. Trên cơ sở phồn vinh xơng thịnh ấy, văn học đời Đờng đã phát
triển hơn bất kỳ thời đại nào trớc đó. Thơ Đờng nh một vờn hoa trăm sắc nở rộ,
nhiều nhà văn nhà thơ xuất hiện, nhiều thể loại văn học phát triển, đã để lại
những thành tựu rực rỡ, ghi dấu ấn một thời hoàng kim của thơ ca. Giai đoạn
này có nhiều tác giả đã đi vào lịch sử thơ ca nh Lý Bạch, Đỗ Phủ, Vơng Duy,
Bạch C Dị...
Thơ Đờng du nhập sang nớc ta từ rất sớm, nó đợc ngời Việt Nam tiếp
nhận nh một loại thơ nội sinh. Cho đến hôm nay, thơ Đờng vẫn rất gần gũi với
ngời Việt Nam, vì vậy, không có gì khó hiểu khi ta thấy trong chơng trình môn
Văn ở trờng phổ thông thuộc cả hai cấp học là THCS và THPT, thơ Đờng có
một vị trí đặc biệt (Chơng trình THCS có 10 bài, học ở lớp 9; chơng trình THPT
có 6 bài, học ở lớp10). Một khối lợng thơ Đờng lớn nh vậy trong chơng trình
dạy học quả đã đặt ngời GV văn trớc một thử thách lớn, đòi hỏi họ phải tìm cách
vợt qua.
Hiện nay, ở trờng phổ thông, tình hình dạy thơ nhìn chung cha đạt hiệu
quả cao. Riêng đối với thơ Đờng, cha có nhiều GV giúp cho học sinh cảm nhận
đợc cái hay cái đẹp của nó. Phần lớn GV mới chỉ phân tích đợc nội dung tác
phẩm mà cha làm nổi bật các thủ pháp nghệ thuật cùng đặc trng thi pháp của thơ
Đờng. Khi dạy thơ Đờng, nhiều GV chỉ biết thuyết giảng, ít đàm thoại với HS vì
sợ thiếu thời gian. Cách làm ấy vô hình trung đã đi ngợc lại cái phép của thơ
Đờng là nói ít gợi nhiều. Mặt khác, việc dạy học thơ Đờng ở trờng phổ thông
cha đạt hiệu quả cao còn do việc cung cấp tri thức lý truyết về thơ Đờng còn
1


thiếu (sách giáo khoa ở cả hai cấp học chỉ có một bài giới thiệu chung về đời Đờng và thơ Đờng nên tri thức làm nền tảng cho HS tiếp nhận còn nghèo nàn),
vậy nên, khi học thơ Đờng, HS có ấn tợng thơ Đờng "khó tiếp nhận. Xuất phát

trang nghiêm, tính chặt chẽ của niêm luật thơ thất ngôn bát cú đời Đờng.
ở sách Thi pháp thơ Đờng, tác giả: Nguyễn Thị Bích Hải đã nghiên cứu
sâu về thi pháp thơ Đờng, trình bày những quan niệm về con ngời, thời gian,
không gian trong thơ Đờng... Tác giả đã cho thấy thi pháp ở đây là thi pháp của
một thời đại, một giai đoạn thơ trong tiến trình lịch sử của thơ Trung Quốc.
Song do định hớng riêng của mình, chuyên luận này mới chỉ dừng lại ở bớc khái
quát chung chứ không đi vào phân tích những tác phẩm cụ thể, nhất là những tác
phẩm đợc chọn đa vào chơng trình văn học phổ thông.
Cũng tác giả Nguyễn Thị Bích Hải, trong cuốn Văn học Châu á trong
nhà trờng phổ thông, đã chú trọng tìm hiểu những tác phẩm văn học của Châu á
ở chơng trình phổ thông. Tác giả dành nhiều thời gian và tâm huyết viết về
mảng văn học Trung Quốc, đặc biệt là thơ Đờng. Ngoài ra, trong phần thứ hai,
tức là phần Tài liệu tham khảo, tác giả đã dành mấy bài nghiên cứu về thơ Đờng, chú ý khai thác chữ tâm trong thơ Đờng và đề xuất hớng tiếp cận thơ Đờng luật. Bên cạnh đó, tác giả còn giới thiệu một số vấn đề về thi pháp thơ Đờng.
Một tài liệu nữa cũng có giá trị tham khảo quan trọng đối với chúng tôi là
cuốn Thơ Đờng bình giải của tác giả Nguyễn Quốc Siêu. Cuốn sách này đã hớng
vào nghiên cứu những tác phẩm có trong chơng trình phổ thông lớp 9 và lớp 10.
Trong chuyên khảo này, tác giả đi vào khái quát về thơ Đờng theo từng mảng và
đa ra những lời bình tuy ngắn gọn nhng đầy đủ ý nghĩa. Bởi vậy cuốn chuyên
khảo đã có đợc những đóng góp nhất định đối với công tác giảng dạy thơ Đờng
ở trờng phổ thông. Mặc dù vậy, theo chúng tôi, công trình mang tính ứng dụng
nhiều hơn là xây dựng lý thuyết về phơng pháp giảng dạy thơ Đờng.
3


Trong hai cuốn sách Về thi pháp thơ Đờng và cuốn Thơ văn cổ Trung
Hoa mảnh đất quen mà lạ, Nguyễn Khắc Phi có bài viết về trình tự phân tích bài
thơ thất ngôn bát cú đờng luật theo bố cục của bài thơ. ở đây tác giả đa ra một
số ý kiến, quan niệm về kết cấu của bài thơ và nêu cách áp dụng hiểu biết đó
vào việc phân tích các tác phẩm thơ cụ thể. Nh vậy, tác giả mới chỉ đề cập đến
phơng pháp khai thác tác phẩm thơ, xuất phát từ một đặc trng thi pháp của thể

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung luận văn
đợc triển khai qua 3 chơng:
Chơng 1: Một số vấn đề về thi pháp thơ Đờng và vị trí của thơ Đờng trong
chơng trình văn học phổ thông.
Chơng 2: Những thuận lợi và khó khăn của việc dạy học thơ Đờng ở trờng
phổ thông.
Chơng 3: Về phơng pháp tiếp cận, phân tích thơ Đờng ở trờng phổ thông

Chơng 1
Một số vấn đề về thi pháp thơ Đờng và vị trí của
thơ Đờng trong chơng trình văn học phổ thông
1.1. Một số vấn đề thi pháp thơ Đờng

5


Trong gần 300 năm tồn tại của triều đại Đờng, ngời Trung Quốc đã tạo
nên một nền thơ ca vĩ đại. Bộ Toàn Đờng thi (biên soạn đời Thanh) thu thập đợc 489000 bài thơ của hơn 2300 nhà thơ. Con số khổng lồ này cha hẳn đã là
toàn bộ thơ thực có ở đời Đờng, vì việc su tập đợc tiến hành sau 1000 năm. Nhng đó mới chỉ nói về số lợng, cái quan trọng hơn là chất lợng nội dung và nghệ
thuật của thơ Đờng.
Thơ Đờng phản ánh một cách toàn diện xã hội đời Đờng, thể hiện quan
điểm, nhận thức, tâm t của con ngời một cách sâu sắc với một hình thức hoàn
mỹ.
Một số vấn đề thi pháp thơ Đờng chúng tôi tổng hợp ở đây thuộc về thi
pháp thơ của của một thời đại, một giai đoạn trong tiến trình thơ Trung Quốc.
Thi pháp là hệ thống hình thức, hệ thống phơng tiện nghệ thuật của thơ, hệ
thống hình thức này bản thân nó là một mắt khâu trên tiến trình thi pháp thơ
Trung Quốc, chịu ảnh hởng của thời đại, của quan điểm triết học. Trong hệ
thống thi pháp này chúng ta sẽ lần lợt đề cập đến các phơng diện: quan niệm
nghệ thuật về con ngời, không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, thể loại và

nhìn đặc biệt. Thử đọc bài Đăng U Châu đài ca của Trần Tử Ngang:
Tiền bất kiến cố nhân
Hậu bất kiến lai giả
Niệm thiên địa chi du du
Độc thơng nhiên nhi thế hạ
(Ngời trớc chẳng thấy ai
Ngời sau thì cha thấy
Ngẫm trời đất thật vô cùng
Riêng lòng đau mà lệ chảy)
Điểm nhìn nghệ thuật đợc đặt giữa trung tâm của vũ trụ, trung tâm của
không gian thiên địa (vũ) trung tâm của thời gian tiền - hậu (trụ), con ngời đứng

7


ở giao điểm của thời gian mà lên tiếng, đó là tiếng nói của một tiểu thiên địa
giữa lòng đại thiên địa và giữa thời gian vô thủy vô chung. Cái nhìn tiểu thiên
địa ấy chỉ biết Độc thơng nhiên nhi thế hạ khi dối diện với cái vô hạn, vô
cùng của vũ trụ.
Mặt khác con ngời vũ trụ trong thơ Đờng mang khí phách, hoài bão, lý tởng lớn lao, cao cả, do đó con ngòi có uy phong rung động đất trời, con ngời khí
phách khi thất vọng cũng không chịu quẩn quanh, mà khát vọng vợt không gian
để có mặt ở bốn phơng.
1.1.1.2. Con ngời đời thờng
Nếu con ngời vũ trụ thể hiện quan hệ thống nhất tơng giao hòa hợp với vũ
trụ thì con ngời đòi thờng đợc phản ảnh trong các mối quan hệ xã hội đầy mâu
thuẫn, đối lập, tơng phản và chủ yếu xuất hiện trong bộ phận sáng tác theo
khuynh hớng hiện thực, theo nguyên tắc khách quan.
Con ngời đời thờng trong thơ Đờng là con ngời đợc xem xét trong những
mối quan hệ xã hội của nó, con ngời là tổng hòa của những mối quan hệ xã
hội. Khi xã hội phồn vinh ổn định, đặc biệt là thời thịnh trị 100 năm đầu đời Đờng, con ngời vũ trụ ngự trị trong tác phẩm của các thi nhân; tâm hồn họ khát

Đình Sử phân biệt: không gian nghệ thuật là hình tợng không gian trong tác
phẩm.
Mỗi loại hình văn học có cái mã không gian riêng của nó, nh trong thơ
ca dân gian Việt Nam thì không gian là sân đình, giếng nớc. Nhng trong thơ bác
học Trung Quốc thì là không gian rộng lớn, bao la giữa càn khôn.
Thơ Đờng có cái "mã" riêng của nó, nếu nói rằng con ngời trong thơ Đờng có hai kiểu vũ trụ và đời thờng, thì tơng ứng với hai kiểu con ngời đó cũng
có hai kiểu không gian: không gian vũ trụ và không gian đời thờng.
1.1.2.1. Không gian vũ trụ

9


Trong bài Tìm hiểu tứ thơ của thơ Đờng, tác giả Nhữ Thành lý giải rằng:
"bầu trời và thiên nhiên là cái nền của thơ Đờng vì thơ Đờng cốt yếu là nêu lên
tính thống nhất, mà tính thống nhất chủ yếu là thống nhất giữa con ngời và
thiên nhiên cho nên tất yếu nó hớng về thiên nhiên.
Tác giả Bích Hải viết: Sở dỉ thơ Đờng thể hiện sự thống nhất giữa con
ngời với thiên nhiên vì quan niệm nghệ thuật về con ngời của thơ Đờng là con
ngời vũ trụ.
Trong thơ Đờng không gian vũ trụ bao bọc con ngời, đại vũ trụ bao bọc
tiểu vũ trụ. Trong văn học cổ ta thấy con ngời ở giữa vòng thiên phú địa tái
(trời đất che chở) và t thế con ngời là đầu đội trời chân đạp đất.
Con ngời với vũ trụ có sự hỗ trợ tơng thông, tơng cảm với đất trời thiên
nhiên, vạn vật, con ngời đợc bao bọc giữa sơn thủy hữu tình.
Con ngời ở vị trí trung tâm nên không gian mang tính đối ứng, con ngời
là tâm đối xứng của không gian ấy:
Bạch nhật y sơn tận
Hoàng Hà nhập hải lu
Dục cùng thiên lý mục
Cánh thớng nhất tằng lâu.

hoài cổ... Trong ý niệm, thậm chí trong tiềm thức thi nhân, cái gì của ngày xa
cũng đẹp. Ngời ta ngỡng vọng thời xa nh vậy là vì mọi cái của cổ nhân đã đợc
kiểm nghiệm rồi, còn tơng lai thi biết lấy gì mà nói đến.
Thời cổ xa với chiều dài lịch sử, với bao tên tuổi, sự kiện đủ độ tin cậy, đủ
để ngỡng vọng. Lấy quá khứ làm điểm tựa để vọng về tơng lai là cái lý của thời
gian hoài cổ. Ngời ta nghĩ rằng càng hồi tởng quá khứ xa xăm thì càng gửi mình
đợc vào hậu thế, vào tơng lai. Bạn thì "bạn cũ" (cố nhân) mới quý:
Cố nhân tây từ Hoàng Hạc lâu
(Hớng về phía tây bạn cũ từ giã lầu Hoàng Hạc)
(Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên... - Lý Bạch)
Quê hơng cũng phải là "quê cũ" (cố hơng, cố quốc, cố viên):
Tùng cúc lỡng khai tha nhật lệ

13


Cô chu nhất hệ cố viên tâm
(Khóm cúc nở hoa hai lần làm tuôn rơi nớc mắt ngày trớc
Con thuyền lẻ loi buộc mãi tấm lòng nhớ nơi vờn cũ)
(Thu hứng - Đỗ Phủ)
Không gian, cảnh vật, con ngời, trình tự đợc đóng con dấu cổ hay ít ra
cũng là cũ mới có giá trị, dù cái mới có hấp dẫn nhng cũng cha có đủ độ tin cậy
vì nó cha qua sự kiểm nghiệm của thời gian. Mặt khác hoài cổ cũng chính là
vì thơng kim, hoài cổ là phơng tiện biểu hiên lòng xót thơng, lo âu cho thực tại
của thi nhân. Đời Đờng dù ở giai đoạn cực thịnh cũng có biết bao nhiêu bất
công ngang trái, bao nỗi đau lòng mà nhà thơ phải thể hiện, phải nói ra. Ngoài
chiến trận máu đổ vậy mà dới trớng gái đẹp vẫn múa hát...
Mỗi lần gặp thời gian hoài cổ, ngời ta lại cảm thấy tác giả đang không
bằng lòng với thực trạng đau khổ và xót xa cho hiện tại:
Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ

gần nh tức thời.
Con ngời đời thờng không còn nhàn rỗi để mà hoài niệm hay mộng mơ,
mà bận rộn rất nhiều vậy nên thời gian đời thờng cũng chính là thời gian sinh
hoạt, là thời gian hiện tại.
1.1.4. Thể loại và kết cấu
Thể loại là một phạm trù thuộc hình thức của tác phẩm văn học. Trong
thơ Đờng các thi nhân đã sử dụng các thể thơ thuộc hai nhóm là cổ thể và kim
thể. Cổ thể gồm: cổ phong và nhạc phủ. Kim thể (hay cận thể) gồm luật thi và tứ
tuyệt. Cách gọi này thông báo cho ta biết một cách đại lợc thời điểm ra đời của
chúng. So với đời Đờng, cổ thể ra đời sớm hơn, từ thời Lục triều.
Khi phân loại ngời ta chia làm sáu thể: ngũ ngôn cổ thể, thất ngôn cổ thể,
ngũ ngôn luật thi, thất ngôn luật thi, ngũ ngôn tuyệt cú, thất ngôn tuyệt cú.
Trong đó, ngũ ngôn cổ thể và thất ngôn cổ thể gọi là thơ cổ thể còn bốn thể sau
gọi là kim thể.

15


1.1.4.1. Thơ cổ thể
Thơ cổ thể theo các nhà nghiên cứu đã xuất hiện ở đời Hán. Thơ cổ thể có
hai dạng: cổ phong và nhạc phủ.
1.1.4.1.1. Cổ phong
Thể thơ này không có luật nhất định, không hạn định số câu trong bài, và
số chữ trong câu, tuy rằng thờng có năm chữ hoặc bảy chữ, nhng cũng có khi co
giãn câu, gieo vần rất hoạt, có thể độc vận (cả một bài chỉ một vần) có thể liên
vận (nhiều vần nối tiếp nhau).
1.1.4.1.2. Nhạc phủ
Có nguồn gốc từ đời Hán, gồm nhiều bài giao miếu, những bài thơ làm
theo đề mục của nhạc phủ.
1.1.4.2. Luật thi

T

B

T

+ Vần: một bài thơ bát cú có năm vần. Thơ đờng luật thờng chỉ gieo một
vần là vần bằng, vần trắc ít khi đợc dùng, coi nh không chính quy.
Một bài thơ kể cả thất ngôn và ngũ ngôn có thể trốn vận (chiết vận) nhng chỉ đợc phép trốn hai câu đầu và lúc đó, hai câu này phải đối nhau.
+ Đối: đối cũng là một nguyên tắc bắt buộc của luật thi, nguyên tắc này
yêu cầu hai liên ba và bốn phải đối nhau thành từng cặp, tức là câu 4 phải đối
với câu 3 và câu 6 phải đối với câu 5.
Trong luật thi cả bốn quy tắc này phải đợc tuân thủ một cách nghiêm
ngặt.
Mô hình một bài luật thi nh sau :
Mô hình một: thất ngôn bát cú bằng khởi cách
B

(B)

T

T

T

B

B


B

T

T

T

B

B

B

B

T

T

B

B

T

T

T


T

T

B

B

Mô hình hai: thất ngôn bát cú trắc khởi cách :
T

(T)

B

B

T

T

B

B

B

T

T

B

T

T

B

T

T

B

B

B

T

T

B

B

T

T


T

B

Nhận xét:
Thơ thất ngôn bát cú có hiện tợng lặp lại thanh điệu ở các nhóm câu:
1,4,8 giống nhau; 2,6, giống nhau; 3,7 giống nhau.
Mô hình ba: ngũ ngôn bát cú bằng khởi cách:
B

B

T

T

B

T

T

T

B

B

T


T

T

B

B

T

T

B

B

T

B

B

T

T

B

Mô hình bốn: ngũ ngôn bát cú trắc khởi cách :
T


T

T

B

B

T

T

B

B

T

B

B

T

T

B

B

đề (1+2): phá đề: mở ra ý của bài; thừa đề: tiếp ý để vào thân bài
thực (3+4) giải thích rõ ý đầu bài.
luận (5+6) phát triển rộng ý của bài.
kết (7+8) kết thúc bài.
Quan niệm này đợc xác lập từ đời Thanh.
b) Chia làm 3 phần: 2/4/2.
Giáo s Nguyễn Khắc Phi cho rằng: 2 câu đầu chỉ không gian; 4 câu giữa
chỉ thời gian; 2 câu cuối chỉ tâm trạng.
Nhng trên thực tế không hoàn toàn nh vậy, chia ba có thể là hợp lý nhng
cách xác định chức năng thì không chính xác.
c) Chia làm hai phần 4/4: Kim Thánh Thán gọi 4 câu đầu là tiền giải,
4 câu sau là hậu giải.
1.1. 4.3. Tứ tuyệt
Là thể 4 câu hoặc ngũ ngôn hoặc thất ngôn. Thơ tứ tuyệt cũng đòi hỏi
niêm luật chặt chẽ nên còn đợc gọi tiểu luật (hay luật tuyệt).
Có ngời quan niệm rằng tuyệt có nghĩa là đứt, là cắt - thơ tứ tuyệt đợc
cắt từ thơ bát cú ra. Có 4 cách cắt, thành ra có 4 dạng tuyệt cú:
+ Cắt 4 câu đầu bài thơ sẽ có 4 câu 3 vần (ở cuối câu 1,2,3) và hai câu sau
và hai câu sau là đối liên câu 3 và câu 4 đối nhau.
+ Cắt lấy 4 câu sau: bài thơ có hai vần (ở câu 2 và câu 4) và hai câu trớc
là đối liên.

19


+ Cắt lấy 4 câu giữa: bài thơ có hai vần (ở câu 2 và câu 4) sẽ có hai cặp
đối, câu 2 đối câu 1 và câu 4 đối câu 3.
+ Cắt lấy hai câu đầu ghép hai câu cuối bài thơ có 3 vần (ở câu 1,2,4) và
không có đối liên.
Trên thực tế quả có 4 dạng thơ tuyệt cú này và về niêm luật cũng tơng

niêm, luật nhng đã đợc dân tộc hoá. Qua thời gian, các tác giả sáng tạo thêm,
tiêu biểu là nhà thơ Hồ Chí Minh với Nhật ký trong tù. Mãi đến thời hiện đại,
âm hởng của thơ Đờng trong thơ Việt Nam còn rõ nét. Trong chơng trình ngữ
văn ở trờng phổ thông, các bài thơ đợc sáng tác theo thể Đờng luật chiếm tỷ lệ
rất cao (khoảng 3/4 đợc sáng tác thể thơ Đờng kể cả chữ Hán và chữ Nôm).
Có 4 tác giả đời Đờng có tác phẩm đợc tuyển vào sách giáo khoa (Lý
Bạch, Đỗ Phủ, Thôi Hiệu, Bạch C Dị) ở cả hai cấp học THCS và THPT. Trong
đó tác giả Bạch C Dị ở thời Trung Đờng còn 3 tác giả Lý Bạch, Đỗ Phủ, Thôi
Hiệu ở thời Thịnh Đờng. Riêng hai tác giả Lý Bạch và Đỗ Phủ đợc học ở cả hai
cấp học. Điều này hợp với thực tế bởi Thịnh Đờng là thời kỳ hoàng kim của thơ
cổ điển Trung Quốc, Lý Bạch và Đỗ Phủ là hai nhà thơ vĩ đại trong lịch sử văn
học Trung Quốc và thế giới, có hai phong cách sáng tác khác nhau.
Những bài thơ Đờng đợc đa vào sách giáo khoa đều là những kiệt tác, tiêu
biểu cho đặc trng thi pháp thơ Đờng. Trong số 15 bài đa vào sách giáo khoa chỉ
có ba bài thuộc về thơ cổ thể, 12 bài là thơ cận thể gồm luật thi và tuyệt cú. Nh
vậy tỷ lệ này tơng ứng với tỷ lệ thực tế, vì trong thơ Trung Quốc đời Đờng hay
trong thơ Việt Nam trung - cận đại, thơ cận thể cũng nhiều gấp ba lần thơ cổ
thể. Có một điều rất đáng lu tâm là trong số 15 bài đa vào sách giáo khoa thì thơ
tuyệt cú nhiều hơn. Điều này vừa hợp với hứng thú tiếp nhận của con ngời hiện
đạii vừa cho thấy sức sống của thơ tuyệt cú - thể thơ ngắn nhất của Trung Quốc.
Thời hiện đại ở Trung Quốc và Việt Nam, thể thơ 4 câu vẫn thờng đợc sử dụng.
Đây là một hiện tợng thú vị đáng tìm hiểu, nghiên cứu. Trong nhịp sống hiện
đại, đa số công chúng thích truyện ngắn, truyện mi ni, thơ tuyệt cú và chúng tôi

21


thấy HS phổ thông cũng thích những bài thơ ngắn hơn, tuy bài thơ ngắn nhng
khi phân tích lại có nhiều ý, đó là đặc trng của thơ Đờng luật "lời ít, ý nhiều".
Mặt khác thơ Đờng có vị trí quan trọng trong trờng phổ thông còn bởi lẽ

tựu, nguyên nhân hng thịnh và một số đặc điểm hình thức nghệ thuật của thơ Đờng, đã tạo điều kiện cho HS nắm đợc những thể thơ của đời Đờng, đặc trng về
ngôn ngữ và tứ thơ của nó, từ đó nêu lên những ảnh hởng của thơ Đờng đối với
văn học Việt Nam. Nh vậy, bài khái quát đã trang bị cho cả GV lẫn HS những
kiến thức hết sức "tinh giản, vững chắc" về thơ Đờng giúp cho việc dạy học nó
đạt đợc kết quả tốt.
Trong trờng hợp cả hai cấp học đều giới thiệu về một tác giả, sách giáo
khoa vẫn không viết trùng lặp nhau. Chính điều đó đã làm cho việc dạy học
không trở nên nhàm chán.
Nh đã khảo sát và thống kê, thơ Đờng đợc đa vào chơng trình văn học phổ
thông hầu hết là thơ cận thể (tứ tuyệt và thất ngôn bát cú). Đó là những thể thơ
mà HS đã đợc tiếp xúc nhiều khi học đến văn học trung đại. Hơn nữa, thơ cận
thể rất tiêu biểu cho đặc trng thi pháp thơ Đờng cho nên việc tìm hiểu các bài
thơ không quá khó khăn. Những tác phẩm ngắn nh bài Hoàng Hạc lâu tống
Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng có 4 câu 28 chữ cũng giống hình thức của
những bài thơ khác trong văn học trung đại Việt Nam nh bài Mời trầu của Hồ
Xuân Hơng. Bài Thu hứng của Đỗ Phủ về hình thức cũng giống nh bài Qua đèo
Ngang của Bà Huyện Thanh Quan với cấu trúc thơ cân đối hài hoà... Hơn nữa,
tâm lý HS thích học những bài thơ ngắn, bởi những bài ngắn dễ phân tích, việc
đọc hiểu cũng gọn gàng (những tiểu thuyết trờng, thiên dù nội dung hay đến
mấy, HS vẫn cảm thấy ngại tìm hiểu bởi nó dài quá, "đồ sộ" quá).

23


Văn học nớc ngoài nói chung và thơ Đờng nói riêng đã đợc GV nghiên
cứu khá kỹ càng ở giảng đờng đại học qua các chuyên đề. Với thơ Đờng, ngời
GV đã có dịp tiếp xúc và tìm hiểu qua các chuyên đề: Lịch sử văn học Trung
Quốc, Thi pháp thơ Đờng... Bởi lẽ đó, ngời GV đã có kiến thức về chiều sâu của
thơ Đờng; trong những giờ lên lớp, họ có thể cung cấp thêm những kiến thức
ngoài sách giáo khoa mà vẫn đảm bảo đi đúng trọng tâm bài giảng.

nhờ 2/3 từ gốc chữ Hán có trong kho từ vựng tiếng Việt. Còn với GV, điều kiện
thuận lợi đã đợc tạo sẵn từ khi còn ở giảng đờng đại học, do họ có học ít nhiều
về Hán Nôm. Đã có rất nhiều bản dịch khác nhau về các bài thơ Đờng đợc dạy
học ở phổ thông, tuy vậy, khi soạn sách, các tác giả sách giáo khoa đã thực sự
chọn đợc những bản dịch tiêu biểu nhất, gây mỹ cảm đậm đà cho cả ngời dạy
lẫn ngời học.
Hầu hết những bài thơ Đờng có trong chơng trình Văn học phổ thông đều
đợc sáng tác theo thể bát cú Đờng luật (thất ngôn, ngũ ngôn) và tứ tuyệt (thất
ngôn, ngũ ngôn). Hai thể thơ này khá quen thuộc với HS. Thơ Đờng có đặc trng
lời it, ý nhiều và bút pháp họa vân xuất nguyệt..., càng phân tích kỹ càng
thấy lý thú bởi nó nh một khối càng bóc tách càng thấy rõ cốt lõi. Thơ Đờng chủ
yếu làm theo luật nên có quy định của nó. HS khi thấy những ý tởng bí ẩn xuất
lộ theo quy luật chắc hẳn sẽ rất hứng thú.
Trong thơ Đờng, các tác giả hay sử dụng những điển cố, điển tích nên khi
dạy học, GV có điều kiện mở rộng hiểu biết về văn hóa, văn học cho HS, làm
cho nội dung của bài giảng có thêm chiều sâu. Đỗ Phủ nói dùng điển nh dùng
muối. Nh vậy, điển tích, điển cố trong thơ Đờng đều là những điển tích, điển
cố hay, tạo nhiều rung cảm thẩm mỹ cho HS.
Một điểm nữa là trong thơ Đờng, tần số xuất hiện các địa danh rất cao.
Do đặc điểm này, khi giảng dạy, GV có thể dùng tranh ảnh để minh họa và cung
cấp những thông tin liên quan đến các địa danh cho HS, làm tăng thêm sức
thuyết phục của bài giảng. Phơng pháp trực quan sinh động là một trong những
phơng pháp tạo đợc nhiều hứng thú trong học tập.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status