lời nói đầu
Kế toán là một bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống công cụ quản
lý kinh tế, tài chính , có vai trò tích cực trong quản lý,điều hành và kiểm soát các
hoạt động kinh tế. Một công cụ quan trọng giúp Nhà nớc thực hiện vai trò điều tiết,
quản lý của mình đó là thuế.
Nớc ta từ một nền kinh tế kế hoạch hoá chuyển sang nền kinh tế thị trờng có sự
điều tiết của Nhà nớc. Vì vậy kinh tế của nớc ta không ngừng phát triển. Trong sự
phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế các doanh nghiệp không chỉ chịu tác động của
các quy luật kinh tế trong nền kinh tế thị trờng mà còn chịu sự tác động, điều tiết
quản lý của Nhà nớc.
Trong bớc chuyển biến của nền kinh tế, thuế hiện tại không còn phù hợp và
cùng với xu thế hoà nhập khu vực và quốc tế cần có những sắc thuế phù hợp. Do đó
trong chơng trình công tác cải cách thuế bớc hai (1998-2000) Bộ Tài chính đã đa ra
các loại thuế mới thay thế các thuế không còn phù hợp và đa thêm các loại thuế mới
phát sinh mà Nhà nớc cần phải thu.
Một trong những bớc cải cách này đó là thuế doanh thu đợc thay thế bằng thuế
Giá trị gia tăng (GTGT) mà Quốc hội đã thông qua có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-
1999.
Đối với các doanh nghiệp, trong công tác hạch toán kế toán nói riêng, việc áp
dụng Luật thuế mới đã dẫn đến những thay đổi đáng kể trong hầu hết các phần hành
của công tác kế toán. Sẽ không ít vấn đề nảy sinh trong quá trình thực hiện và hoàn
thiện về cách tính và hạch toán thuế GTGT. Chính vì vậy mà em chọn đề tài:
Một số vấn đề về phơng pháp tính và hạch toán thuế GTGT ở các
doanh nghiệp.
Nội dung đề án bao gồm:
Phần I : Lý luận chung về thuế và thuế giá trị gia tăng.
Phần II : Một số ý kiến hoàn thiện về phơng pháp tính và
hạch toán thuế GTGT trong các doanh nghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Chu Thành và thày cô giáo trong khoa đã
nhiệt tình hớng dẫn giúp em hoàn thành đề án này.
1
Những loại thuế chính chia làm ba nhóm: Các loại thuế đánh vào thu nhập hay
còn gọi là thuế trực tiếp, các loại đánh vào hàng tiêu dùng hay thuế gián tiếp, các loại
thuế đánh vào tài sản hay thuế của cải, áp dụng thống nhất cho mọi thành phần kinh
tế. Bao gồm các Luật và Pháp lệnh thuế nh:
2
Luật thuế doanh thu; Luật thuế tiêu thụ đặc biệt; Luật thuế xuất, nhập khẩu; Luật
thuế lợi tức; Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp; Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất;
Pháp lệnh thuế thu nhập; Pháp lệnh thuế tài nguyên; Pháp lệnh thuế nhà đất.
Và một loạt các loại thuế khác nh thuế môn bài, thuế sát sinh, thuế chuyển lợi
nhuận ra nớc ngoài, lệ phí mang sắc thuế nh lệ phí trớc bạ, lệ phí bay qua bầu trời, lệ
phí giao thông nh phí cầu, phà,...
ở nớc ta thời kỳ bao cấp, thuế thờng chỉ mới bảo đảm đợc khoảng 50-60% tổng
số thu của Ngân sách Nhà nớc, lúc đó còn phải dựa vào viện trợ, vay nợ. Đến nay
nguồn thu từ nớc ngoài, nhất là các khoản viện trợ cho không đã giảm nhiều. Quan
hệ kinh tế đối ngoại đã chuyển dần sang cơ chế có vay có trả, cả hai bên cùng có lợi.
Thuế đã chiếm khoảng 80-90% tổng số thu Ngân sách Nhà nớc, đáp ứng đợc nhu cầu
chi tiêu thờng xuyên của Nhà nớc, giảm tỉ lệ bội chi, góp phần hạn chế và đẩy lùi
lạm phát, bớc đầu đã ổn định đợc giá cả và tiền tệ và đã có phần tích luỹ cho nhu cầu
xây dựng cơ sở hạ tầng và trả nợ,... Các kết quả đạt đợc của hệ thống thuế không chỉ
thể hiện trong tổng thu ngân sách mà nó còn đợc thể hiện qua các mặt kinh tế, xã hội
khác.
Tuy nhiên bên cạnh đó, hệ thống thuế mới trong quá trình kiểm nghiệm trong
thực tế những năm qua cũng đã bộc lộ một số mặt tồn tại đó là: các sắc thuế trong hệ
thống đợc thiết kế tách rời, cha gắn bó hỗ trợ lẫn nhau nên không phát huy đợc tác
dụng đồng bộ của hệ thống thuế. Mặt khác cơ cấu thuế suất thờng phức tạp, có nhiều
thuế suất khác nhau, trong khi đó nội dung của luật thuế và các văn bản hớng dẫn lại
không quy định rõ ràng, cụ thể. Đặc biệt với thuế xuất khẩu, nhập khẩu thì biểu thuế
còn quá nhiều mặt hàng và thuế suất khác nhau. Do đó có thể thấy hệ thống thuế của
ta vẫn còn phức tạp, cha phù hợp với điều kiện và trình độ của cán bộ quản lý thuế,
cha tạo điều kiện cho các doanh nghiệp yên tâm phát triển sản xuất kinh doanh.
chất và dịch vụ từ các doanh nghiệp khác. Thuế GTGT đã khắc phục đợc các nhợc
điểm của thuế doanh thu, cụ thể là:
Thứ nhất, thuế GTGT đánh vào tiêu thụ nên nó đợc thu ở mọi khâu của quá
trình sản xuất cho nên việc thu thuế ở khâu sau còn kiểm tra đợc việc nộp thuế ở
khâu trớc nên hạn chế thất thu, lợng thuế thực thu sẽ tăng lên rất mạnh.
Thứ hai, về kỹ thuật tính toán, có thể tách thuế này ra khỏi giá thành hàng xuất
khẩu một cách dễ dàng và không những không phải hợp thuế GTGT ở khâu xuất
khẩu mà còn đợc thoái trả toàn bộ số thuế GTGT đã nộp ở các khâu trớc cho nên nó
khuyến khích mạnh mẽ việc đẩy mạnh xuất khẩu.
Thứ ba, bản chất thuế GTGT là mang tính trung lập về mặt kinh tế. Các doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh chỉ là khâu trung gian, thu thuế hộ Nhà nớc rồi nộp vào
kho bạc Nhà nớc. Chính vì thế mà thuế GTGT khắc phục đợc nhợc điểm là thuế đánh
chồng lên thuế của thuế doanh thu, tạo nên mặt bằng cạnh tranh bình đẳng giữa các
doanh nghiệp với nhau, từ đó thúc đẩy các doanh nghiệp tích cực tổ chức cơ cấu lại
bộ máy quản lý và dây chuyền công nghệ.
Thứ t , thuế GTGT có diện bao quát rộng, bao gồm hầu nh toàn bộ các hoạt động
sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế. Vì vậy về lâu dài thuế GTGT sẽ làm tăng thu
ngân sách và là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nớc.
4
Ngoài ra, việc áp dụng thuế GTGT sẽ giảm bớt mức thuế suất (bốn mức thuế suất).
Khuyến khích các doanh nghiệp giữ sổ sách kế toán tốt hơn, kích thích mạnh mẽ việc sử
dụng hoá đơn, tạo điều kiện cho việc kiểm tra và thanh tra tài chính. Mặt khác khi triển
khai áp dụng thuế GTGT sẽ góp phần đổi mới t duy về cơ chế thu nộp thuế (tự động kê
khai, tự động nộp thuế, thực hiện kiểm tra sau) và cho phép nền kinh tế nớc ta nói chung
tiếng nói với các nớc trong khu vực và thế giới trong lĩnh vực thuế.
II-/ Một số nội dung cơ bản của thuế GTGT:
1-/ Quá trình ra đời và phát triển của thuế GTGT trên thế giới:
Thuế GTGT có nguồn gốc từ thuế doanh thu đợc nghiên cứu, áp dụng từ sau
Đại chiến thế giới lần thứ nhất (1914-1918) nhằm động viên sự đóng góp rộng rãi
của quảng đại quần chúng nhân dân cho nhu cầu chi tiêu của Nhà nớc, để nhanh
áo, Đức là thuế doanh thu và họ cho rằng đây không phải là sắc thuế mới mà vẫn là thuế
doanh thu, chỉ đợc thay đổi nội dung và biện pháp thu.
2-/ Đối tợng chịu thuế, đối tợng nộp thuế:
Theo Điều 2 của Luật thuế GTGT: hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh
doanh và tiêu dùng ở Việt Nam là đối tợng chịu thuế GTGT.
Theo Điều 3 của Luật thuế: tổ chức, cá nhân sản suất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ
chịu thuế (gọi chung là cơ sở kinh doanh) và tổ chức, cá nhân khác nhập khẩu hàng hoá
chịu thuế (gọi chung là ngời nhập khẩu) là đối tợng nộp thuế GTGT. Đối tợng không chịu
thuế GTGT gồm 26 loại hàng hoá, dịch vụ đợc quy định rõ.
3-/ Căn cứ tính thuế GTGT:
Căn cứ tính thuế GTGT là: số lợng hàng hoá, dịch vụ, giá tính thuế đơn vị và thuế suất.
a-/ Giá tính thuế:
Đối với hàng hoá, dịch vụ sản xuất trong nớc, giá tính thuế GTGT là giá bán ch-
a có thuế GTGT. Đối với hàng hoá nhập khẩu, giá tính thuế GTGT là giá nhập khẩu
(giá CIF) cộng với thuế nhập khẩu.
Một số quy định cụ thể:
- Đối với hàng hoá bán theo phơng thức trả góp, giá tính thuế GTGT là giá bán
của hàng hoá tính theo giá bán trả một lần, không tính theo số tiền trả từng kỳ.
- Đối với hoạt động gia tăng hàng hoá, giá tính thuế GTGT là giá gia công.
- Các trờng hợp khác nh: hàng hoá mang trao đổi, biếu tặng, sử dụng tiêu dùng
nội bộ, giá tính thuế GTGT là giá tính thuế của hàng hoá cùng loại tơng đơng, với
hoạt động cho thuê tài sản giá tính thuế là số tiền thu từng kỳ.
- Giá tính thuế GTGT bao gồm cả khoản phụ thu, phối thu thêm mà cơ sở kinh
doanh không đợc hởng.
b-/ Thuế suất:
Thuế GTGT có 4 mức thuế suất là 0%, 5%, 10% và 20%. Trong đó:
- Mức thuế 0% đối với hàng xuẩt khẩu.
- Mức thuế suất 5% đối với các mặt hàng thiết yếu, hiện đang chịu thuế doanh thu với
thuế suất thấp nh: nớc, phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc chữa bệnh, thiết bị và dụng cụ y tế,
giáo cụ để giảng dạy và học tập, đồ chơi trẻ em, sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi,...
Phần II
Một số ý kiến hoàn thiện về phơng pháp tính và hạch
toán thuế GTGT trong các doanh nghiệp
I-/ Phơng pháp tính thuế GTGT:
1-/ Phơng pháp tính thuế GTGT:
Từ khái niệm về giá trị gia tăng và TGTGT, các nhà kinh tế đã đa ra 4 phơng
pháp cơ bản của việc tính thuế GTGT:
- Phơng pháp cộng trực tiếp: theo phơng pháp này thì thuế GTGT phải nộp đợc
tính bằng cách lấy thuế suất (t) nhân với giá trị tăng thêm đợc hiểu là tiền công và lợi
nhuận. Cụ thể:
Thuế GTGT phải nộp = t x (tiền công + lợi nhuận)
- Phơng pháp cộng gián tiếp: theo phơng pháp này thuế GTGT phải nộp đợc
tính căn cứ vào từng thành phần riêng biệt của giá trị tăng thêm.
Thuế GTGT phải nộp t x tiền công + t x lợi nhuận
- Phơng pháp trừ trực tiếp: theo phơng pháp này thuế GTGT phải nộp đợc tính dựa
trên cơ sở tính trị giá tăng thêm là chênh lệch giữa giá đầu ra và giá đầu vào, cụ thể là:
Thuế GTGT phải nộp = t x (giá đầu ra - giá đầu vào)
- Phơng pháp trừ gián tiếp: còn gọi là phơng pháp hoá đơn hoặc phơng pháp
khấu trừ. Theo phơng pháp này, thuế GTGT phải nộp đợc xác định trên cơ sở lấy
thuế tính trên giá đầu ra trừ đi thuế tính trên giá đầu vào, cụ thể:
Thuế GTGT phải nộp = (t x giá đầu ra) - (t x giá đầu vào)
Trong 4 phơng pháp tính thuế GTGT nói trên thì 3 phơng pháp đầu hầu nh chỉ
tồn tại trên lý thuyết, ít đợc áp dụng trong thực tế. Riêng phơng pháp trừ gián tiếp
(hay phơng pháp khấu trừ) đợc áp dụng phổ biến vì việc tính thuế phải nộp dựa vào
hoá đơn - bằng chứng của nghiệp vụ kinh doanh - gắn nghĩa vụ nộp thuế với nghiệp
vụ kinh doanh của cơ sở cho nên có u điểm nổi trội hơn hẳn những phơng pháp khác
về mặt kỹ thuật và luật pháp. Mặt khác phơng pháp tính thuế dựa vào hoá đơn sẽ tạo
điều kiện thuận lợi cho sự theo dõi, kiểm tra của cơ quan quản lý, thu thuế và ngời ta
có thể tính đợc nghĩa vụ nộp thuế một cách kịp thời và tơng đối chính xác cho một
năm tài chính.
cơ sở kinh doanh cũng phải ghi đầy đủ, đúng các yếu tố quy định và ghi rõ giá bán,
các phụ thu (nếu có) và tổng giá thanh toán.
Hoá đơn tự in, chứng từ đặc thù: Các hoá đơn này muốn đợc sử dụng phải đăng
ký với Bộ Tài chính (Tổng cục thuế) và chỉ đợc sử dụng sau khi đợc chấp thuận bằng
văn bản. Loại hoá đơn này cũng phải đảm bảo phản ánh đầy đủ các thông tin quy
định của hoá đơn, chứng từ.
Với các chứng từ đặc thù nh tem bu điện, vé máy bay, vé sổ xố,... giá trên vé là
giá đã có thuế GTGT.
Bảng kê bán lẻ hàng hoá, dịch vụ: Trờng hợp này đợc áp dụng đối với cơ sở
kinh doanh trực tiếp cung ứng, dịch vụ, hàng hoá cho ngời tiêu dùng không thuộc
9
diện phải lập hoá đơn bán hàng thì phải lập bảng kê bán lẻ hàng hoá, dịch vụ theo
mẫu quy định.
Bảng kê thu mua nông sản, lâm sản, thuỷ sản của ng ời trực tiếp sản xuất: Tr-
ờng hợp này đợc áp dụng đối với cơ sở sản xuất, chế biến mua hàng hoá là các mặt
hàng nông, lâm, thuỷ sản của sản xuất trực tiếp bán ra thì phải lập Bảng kê thu mua
hàng nông sản, lâm sản, thuỷ sản của ngời sản xuất trực tiếp theo mẫu quy định.
II-/ Hạch toán thuế giá trị gia tăng ở các doanh nghiệp:
Phần 1: Phơng pháp hạch toán thuế GTGT đối với cơ sở kinh doanh nộp thuế
GTGT theo phơng pháp khấu trừ thuế.
A-/ Hạch toán thuế GTGT đầu vào:
1-/ Tài khoản sử dụng:
Tài khoản 133 : Thuế GTGT đợc khấu trừ.
Tài khoản này dùng để phản ánh số thuế GTGT đầu vào đợc khấu trừ, đã khấu
trừ và còn đợc khấu trừ.
Bên Nợ: Số thuế GTGT đầu vào đã đợc khấu trừ.
Bên Có: Số thuế GTGT đầu vào đã khấu trừ.
Kết chuyển số thuế GTGT đầu vào không đợc khấu trừ.
Số thuế GTGT đầu vào đã hoàn lại.
Số d Nợ: VAT còn đợc khấu trừ đợc hoàn trả nhng ngân sách cha hoàn trả.