Website: Email : Tel : 0918.775.368
lời nói đầu
Từ một nền kinh tế kế hoạch hoá chuyển sang nền kinh tế thị trờng có sự
điều tiết của Nhà nớc. Nền kinh tế của nớc ta không ngừng phát triển. Trong sự
phát triển mạnh mẽ này các doanh nghiệp trong nền kinh tế không chỉ chịu tác
động của các quy luật kinh tế trong nền kinh tế thị trờng mà còn chịu sự tác
động, điều tiết quản lý của Nhà nớc.
Một công cụ quan trọng giúp Nhà nớc thực hiện vai trò điều tiết, quản lý
của mình đó là thuế. Trong bớc chuyển biến của nền kinh tế, các sắc thuế hiện
tại tỏ ra không còn phù hợp và cùng với xu thế hoà nhập khu vực và quốc tế cần
có những sắc thuế phù hợp. Do đó trong chơng trình công tác cải cách thuế bớc
hai (1998-2000) Bộ Tài chính đã đa ra các loại thuế mới thay thế các sắc thuế
không còn phù hợp và đa thêm các loại thuế mới phát sinh mà Nhà nớc cần phải
thu.
Một trong những bớc cải cách này đó là thuế doanh thu đợc thay thế bằng
thuế Giá trị gia tăng (GTGT) mà Quốc hội đã thông qua có hiệu lực thi hành từ
ngày 1-1-1999.
Đối với các doanh nghiệp, trong công tác hạch toán kế toán nói riêng,
việc áp dụng Luật thuế mới đã dẫn đến những thay đổi đáng kể trong hầu hết
các phần hành của công tác kế toán. Sẽ không ít vấn đề nảy sinh trong quá trình
thực hiện và hoàn thiện về cách tính và hạch toán thuế giá trị gia tăng. Chính vì
vậy mà em chọn đề tài: Một số vấn đề về phơng pháp tính và hạch toán thuế
GTGT ở các doanh nghiệp.
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chơng I: Lý luận chung về thuế và thuế giá trị
gia tăng
I. Khái niệm, bản chất và thực trạng hệ thống thuế Nớc ta
1. Khái niệm
Thuế là một phần thu nhập mà mỗi tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ đóng góp
cho Nhà nớc theo luật định để đáp ứng yêu cầu chi tiêu theo chức năng của nhà
ở nớc ta thời kỳ bao cấp, thuế thờng chỉ mới bảo đảm đợc khoảng 50-60%
tổng số thu của Ngân sách Nhà nớc, lúc đó còn phải dựa vào viện trợ, vay nợ.
Đến nay nguồn thu từ nớc ngoài, nhất là các khoản viện trợ cho không đã giảm
nhiều. Quan hệ kinh tế đối ngoại đã chuyển dần sang cơ chế có vay có trả, cả hai
bên cùng có lợi. Thuế đã chiếm khoảng 80-90% tổng số thu Ngân sách Nhà nớc,
đáp ứng đợc nhu cầu chi tiêu thờng xuyên của Nhà nớc, giảm tỉ lệ bội chi, góp
phần hạn chế và đẩy lùi lạm phát, bớc đầu đã ổn định đợc giá cả và tiền tệ và đã
có phần tích luỹ cho nhu cầu xây dựng cơ sở hạ tầng và trả nợ,... Các kết quả đạt
đợc của hệ thống thuế không chỉ thể hiện trong tổng thu ngân sách mà nó còn
đợc thể hiện qua các mặt kinh tế, xã hội khác.
Tuy nhiên bên cạnh đó, hệ thống thuế mới trong quá trình kiểm nghiệm
trong thực tế những năm qua cũng đã bộc lộ một số mặt tồn tại đó là: các sắc
thuế trong hệ thống đợc thiết kế tách rời, cha gắn bó hỗ trợ lẫn nhau nên không
phát huy đợc tác dụng đồng bộ của hệ thống thuế. Mặt khác cơ cấu thuế suất th-
ờng phức tạp, có nhiều thuế suất khác nhau, trong khi đó nội dung của luật thuế
và các văn bản hớng dẫn lại không quy định rõ ràng, cụ thể. Đặc biệt với thuế
xuất khẩu, nhập khẩu thì biểu thuế còn quá nhiều mặt hàng và thuế suất khác
nhau. Do đó có thể thấy hệ thống thuế của ta vẫn còn phức tạp, cha phù hợp với
điều kiện và trình độ của cán bộ quản lý thuế, cha tạo điều kiện cho các doanh
nghiệp yên tâm phát triển sản xuất kinh doanh.
Ngoài ra, chính sách thuế hiện hành còn cha bao quát đợc hết các đối t-
ợng thu và nguồn thu, về cơ bản vẫn cha khắc phục đợc tình trạng thu chồng
chéo, trùng lắp ở các khâu (thể hiện rõ ở thuế doanh thu), còn cha công bằng;
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
phân biệt giữa kinh tế quốc doanh và ngoài quốc doanh, giữa đầu t trong nớc và
đầu t nớc ngoài và còn cha phù hợp với tình hình kinh tế xã hội đã và đang biến
đổi hiện nay.
Do đó, việc tiếp tục hoàn thiện chính sách thuế của Nhà nớc ta là cần
thiết, việc thay đổi thuế Giá trị gia tăng cho thuế doanh thu điểm mốc đánh dấu
thuế mới với tên gọi là thuế giá trị gia tăng theo tiếng Pháp là TAXE SUR LA
VALEUR AJOUTéE (đợc viết tắt là T.V.A). Lúc đầu TVA đợc ban hành để áp
dụng trớc đối với ngành sản xuất, chủ yếu nhằm hạn chế việc thu thuế chồng chéo
qua nhiều khâu trong lĩnh vực công nghiệp, với thuế suất đồng loạt là 20% và chỉ
khấu trừ thuế ở khâu trớc đối với nguyên liệu, vật liệu. Quá trình thống nhất hoá
Châu Âu đợc thúc đẩy vào những năm 50 đã có tác dụng thuận lợi để TVA đợc triển
khai nhanh chóng ở các nớc khác. Đến năm 1966, trong xu hớng cải tiến hệ thống
thuế đơn giản và hiện đại chung ở Châu Âu, TVA đợc ban hành chính thức để
thay thế một số sắc thuế gián thu.
Từ năm 1978, theo yêu cầu điều hoà luật pháp của các nớc thành viên
Cộng đồng kinh tế Châu Âu (EEC), nớc Pháp điều chỉnh lại luật tài chính, trong
đó có phần quan trọng liên quan đến TVA. Năm 1986, TVA ở Pháp đợc áp dụng
rộng rãi đối với tất cả các ngành, nghề sản xuất, lu thông hàng hoá, dịch vụ,
nhằm đáp ứng hai mục tiêu quan trọng: Bảo đảm số thu kịp thời, thờng xuyên
cho ngân sách Nhà nớc và khắc phục tình trạng thu thuế trùng lắp của thuế
doanh thu.
Khai sinh từ nớc Pháp, thuế TGGT đã nhanh chóng đợc áp dụng rộng rãi
trên thế giới, trở thành nguồn thu quan trọng của nhiều nớc. Đến nay đã có trên
100 nớc áp dụng thuế TGGT, chủ yếu là các nớc Châu Phi, Châu Mỹ La Tinh,
các nớc trong khối Cộng đồng Châu Âu (EC) và một số nớc Châu á.
Về tên gọi, có nhiều nơi gọi là thuế trị giá gia tăng nh Pháp, Anh, Thuỵ
Điển,... Một số nớc gọi là thuế hàng hoá và dịch vụ nh Canada, Niu-Di-Lân,... ở một
số nớc Phần Lan, áo, Đức là thuế doanh thu và họ cho rằng đây không phải là sắc
thuế mới mà vẫn là thuế doanh thu, chỉ đợc thay đổi nội dung và biện pháp thu.
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
3. Sự cần thiết phải áp dụng thuế GTGT ở Việt Nam
Trong hệ thống thuế nớc ta, loại thuế gián tiếp quan trọng nhất là thuế
doanh thu với tổng thu tơng ứng khoảng 3-4% GDP mỗi năm. Nhng thuế doanh
thu là một loại thuế phức tạp, có nhiều mức thuế suất khác nhau và biểu hiện
Thứ ba, bản chất thuế GTGT là mang tính trung lập về mặt kinh tế. Các
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh chỉ là khâu trung gian, thu thuế hộ Nhà nớc
rồi nộp vào kho bạc Nhà nớc. Chính vì thế mà thuế GTGT khắc phục đợc nhợc
điểm là thuế đánh chồng lên thuế của thuế doanh thu, tạo nên mặt bằng cạnh
tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp với nhau, từ đó thúc đẩy các doanh
nghiệp tích cực tổ chức cơ cấu lại bộ máy quản lý và dây chuyền công nghệ.
Thứ t, thuế GTGT có diện bao quát rộng, bao gồm hầu nh toàn bộ các hoạt
động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế. Vì vậy về lâu dài thuế GTGT sẽ làm
tăng thu ngân sách và là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nớc.
Ngoài ra, việc áp dụng thuế GTGT sẽ giảm bớt mức thuế suất (bốn mức thuế
suất). Khuyến khích các doanh nghiệp giữ sổ sách kế toán tốt hơn, kích thích mạnh
mẽ việc sử dụng hoá đơn, tạo điều kiện cho việc kiểm tra và thanh tra tài chính. Mặt
khác khi triển khai áp dụng thuế GTGT sẽ góp phần đổi mới t duy về cơ chế thu nộp
thuế (tự động kê khai, tự động nộp thuế, thực hiện kiểm tra sau) và cho phép nền
kinh tế nớc ta nói chung tiếng nói với các nớc trong khu vực và thế giới trong lĩnh
vực thuế.
4. Đối tợng chịu thuế, đối tợng nộp thuế
Theo Điều 2 của Luật thuế GTGT: hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất,
kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam là đối tợng chịu thuế GTGT.
Theo Điều 3 của Luật thuế: tổ chức, cá nhân sản suất, kinh doanh hàng hoá,
dịch vụ chịu thuế (gọi chung là cơ sở kinh doanh) và tổ chức, cá nhân khác nhập
khẩu hàng hoá chịu thuế (gọi chung là ngời nhập khẩu) là đối tợng nộp thuế GTGT.
Đối tợng không chịu thuế GTGT gồm 26 loại hàng hoá, dịch vụ đợc quy định rõ.
5. Căn cứ tính thuế GTGT
Căn cứ tính thuế GTGT là: số lợng hàng hoá, dịch vụ, giá tính thuế đơn vị và thuế
suất.
5.1. Giá tính thuế
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Đối với hàng hoá, dịch vụ sản xuất trong nớc, giá tính thuế GTGT là giá
Có số thuế đầu vào của các tháng trong quý thờng xuyên lớn hơn số
thuế đầu ra phát sinh các tháng trong quý hoặc nếu có số kinh doanh.
Xuất khẩu mặt hàng theo thời vụ hoặc theo từng lần xuất khẩu với số l-
ợng lớn, nếu phát sinh số thuế đầu vào đợc khấu trừ lớn thì đợc xét hoàn thuế
GTGT theo từng kỳ hoặc tháng.
Cơ sở kinh doanh thuộc đối tợng nộp thuế theo phơng pháp khấu trừ thuế
nếu có đầu t, mua sắm tài sản cố định, có số thuế GTGT đầu vào đợc khấu trừ
lớn đợc hoàn thuế nh sau:
Đối với cơ sở đầu t mới đã đăng ký nộp thuế nhng cha có phát sinh
doanh thu bán hàng để tính thuế GTGT đầu ra, nếu thời gian đầu t một năm trở
lên đợc xét hoàn thuế đầu vào theo từng năm. Trờng hợp số thuế GTGT đầu vào
lớn thì đợc xét hoàn thuế từng quý.
Đối với cơ sở kinh doanh đầu t mở rộng, đầu t chiều sâu, nếu số thuế
GTGT đầu vào của tài sản đầu t đã khấu trừ trong 3 tháng (kể từ tháng phát sinh
thuế) mà cha đợc khấu trừ hết thì đợc hoàn lại số thuế cha đợc khấu trừ này.
Cơ sở kinh doanh quyết toán thuế khi sát nhập, hợp nhất, chia tách, giải
thể, phá sản có thuế GTGT nộp thừa có quyền đề nghị cơ quan thuế hoàn thuế.
Ngoài ra cơ sở kinh doanh còn đợc hoàn thuế trong trờng hợp có quyết
định của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật: Quyết định của Bộ
trởng Bộ Tài chính yêu cầu phải hoàn trả lại thuế cho cơ sở kinh doanh.
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chơng II: Một số ý kiến hoàn thiện về phơng pháp tính và
hạch toán thuế GTGT trong các doanh nghiệp
I. Phơng pháp tính thuế GTGT
1. Phơng pháp tính thuế GTGT
Từ khái niệm về giá trị gia tăng và TGTGT, các nhà kinh tế đã đa ra 4 ph-
ơng pháp cơ bản của việc tính thuế GTGT:
- Phơng pháp cộng trực tiếp: theo phơng pháp này thì thuế GTGT phải
nộp đợc tính bằng cách lấy thuế suất (t) nhân với giá trị tăng thêm đợc hiểu là
Trong đó:
= x
Theo phơng pháp tính thuế trực tiếp trên GTGT:
= -
Trong đó:
= -
Việc tính thuế GTGT theo từng phơng pháp đợc áp dụng đối với từng đối t-
ợng cụ thể: phơng pháp khấu trừ thuế đợc áp dụng đối với cơ sở kinh doanh đã
thực hiện tốt chế độ sổ sách kế toán, mua bán hàng có hoá đơn, còn phơng pháp
tính trực tiếp trên giá trị gia tăng đợc áp dụng với cơ sở kinh doanh cha thực hiện
11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
đầy đủ các điều kiện về kế toán, hoá đơn và các cơ sở kinh doanh mua bán vàng
bạc, đá quý.
2. Chứng từ kế toán
Để thực hiện kế toán thuế GTGT các cơ sở kinh doanh phải thực hiện chế
độ hoá đơn chứng từ theo quy định hiện hành của Bộ Tài chính. Dới đây là một
số hoá đơn, chứng từ có liên quan:
Hoá đơn giá trị gia tăng:
Các cơ sở kinh doanh thuộc đối tợng nộp thuế GTGT theo phơng pháp
khấu trừ thuế khi bán hàng hoá, dịch vụ phải sử dụng Hoá đơn giá trị gia tăng
do Bộ Tài chính phát hành (trừ trờng hợp đợc dùng chứng từ ghi giá thanh toán là
giá có thuế GTGT). Khi lập hoá đơn bán hàng hoá, dịch vụ cơ sở kinh doanh phải
ghi đầy đủ các yếu tố quy định và ghi rõ: giá bán (cha thuế), các phụ thu và tính
ngoài giá bán (nếu có), thuế GTGT và tổng giá thanh toán.
Hoá đơn bán hàng:
Do Bộ Tài chính phát hành, đợc sử dụng ở các cơ sở kinh doanh thuộc đối
tợng nộp thuế GTGT theo phơng pháp trực tiếp và khi lập hoá đơn cơ sở kinh
doanh cũng phải ghi đầy đủ, đúng các yếu tố quy định và ghi rõ giá bán, các
phụ thu (nếu có) và tổng giá thanh toán.