1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
––––––––––––––––––
TRẦN THỊ HOA
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ
HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC THỰC HÀNH Ở
TRƯỜNG TRUNG CẤP Y DƯỢC BẮC NINH
Chuyên ngành: Quản lý Giáo dục
Mã số: 60. 14. 05
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS.NGƯT Nguyễn Ngọc Hợi
VINH, 2010
1
2
MỤC LỤC
Lời cảm ơn...........................................................................................................
Danh mục các từ viết tắt......................................................................................
Danh mục các bảng và hình vẽ............................................................................
3
2.2.4. Công tác chỉ đạo,giám sát, kiểm tra đánh giá dạy học thực hành..........51
2.3. Đánh giá thực trạng quản lý dạy học thực hành trong đào tạo TCYT. 53
2.3.1. Ưu điểm của quản lý dạy học thực hành................................................53
2.3.2. Hạn chế của quản lý dạy học thực hành................................................55
Kết luận chương 2 ..........................................................................................57
Chương 3: Đề xuất các giải pháp tăng cường quản lý dạy học thực hành
trong đào tạo tại trường trung cấp Y Dược Bắc Ninh................................58
3.1. Các nguyên tắc đề xuất giải pháp...........................................................58
3.1.1. Tính cần thiết.........................................................................................58
3.1.2. Tính đồng bộ .........................................................................................59
3.1.3. Tính khả thi ...........................................................................................60
3.1.4. Tính hiện đại .........................................................................................60
3.2. Đề xuất giải pháp tăng cường quản lý dạy học thực hành trong đào tạo
trung cấp y tế...................................................................................................61
3.2.1. Giải pháp 1: Đổi mới việc lập kế hoạch, tổ chức dạy học thực hành
trung cấp y tế theo mô hình dạy học theo năng lực thực hiện ........................61
3.2.2. Giải pháp 2: Xây dựng hệ thống các cơ sở thực hành trong dạy học thực
hành ổn định lâu dài như là mạng lưới vệ tinh của trường nhằm thực hiện
nhiệm vụ chung của ngành..............................................................................69
3.2.3. Giải pháp 3: Tăng cường các điều kiện cơ sở vật chất, phương tiện,
trang thiết bị dạy học thực hành.......................................................................71
3.2.4. Giải pháp 4: Cải tiến công tác chỉ đạo, kiểm tra đánh giá dạy học thực
hành..................................................................................................................73
3.3. Khảo nghiệm sự cần thiết và tính khả thi của giải pháp.......................74
3.3.1. Khảo nghiệm về việc đổi mới lập kế hoạc, tổ chức áp dụng mô hình dạy
học thực hành theo năng lực thực hiện........................................................... 74
4
5
Danh mục các chữ viết tắt
TT
01
02
03
04
05
06
07
08
09
10
11
12
13
14
Chữ viết tắt
TCYT
TCCN
THYT
QĐ
STT
HS
Danh mục các bảng và hình vẽ
TT
Số bảng
01
02
03
04
05
06
07
08
09
10
Hình vẽ
Hình 1
Sơ đồ 1
Bảng 1
Bảng 2
Bảng 3
Bảng 4
Bảng 5
Bảng 6
Bảng 7
Bảng 8
Tiêu đề - Nội dung Bảng / Hình vẽ
Mô hình quản lý
Đồng thời, chương trình đào tạo Trung cấp Y Tế cũng quy định: Tỷ
lệ thực hành/lý thuyết là 2,05. Như vậy, trong đào tạo trung cấp Y tế, việc
tổ chức dạy học thực hành đóng vai trò rất quan trọng để hình thành năng
lực nghề nghiệp của học sinh, bao gồm dạy học thực hành tại nhà trường
(thực hành tiền lâm sàng) và dạy học tại bệnh viện (thực hành lâm sàng).
Đây là một đặc trưng của dạy học thực hành trong lĩnh vực Y Dược. Công
việc của người cán bộ Y Tế liên quan đến tính mạng của con người. Chính
vì vậy, trong quá trình đào tạo Trung cấp Y Tế, việc dạy học thực hành
không những hình thành kỹ năng nghề nghiệp mà còn là quá trình xây
dựng tính nhân văn, đạo đức nghề nghiệp cho người học sinh.
Dạy học tiền lâm sàng được tổ chức tại trường, theo phương thức
thực hành nhóm nhỏ, dạy học theo quy trình kỹ thuật, mang tính giả định
(thực hành trên mô hình và đóng vai), giới hạn về mặt thời gian. Dạy học
7
8
tiền lâm sàng giúp cho học sinh hình thành kỹ năng tay nghề theo quy
trình kỹ thuật đã được quy định. Đây là quá trình chuẩn bị về kiến thức,
kỹ năng ban đầu để học thực hành lâm sàng hiệu quả.
Dạy học lâm sàng được tiến hành tại các khoa phòng của bệnh viện.
Tại đây, học sinh đựoc tiếp cận với người bệnh/ khách hàng, được rèn luyện
cả về kiến thức, kỹ năng tay nghề và thái độ nghề nghiệp. Việc tổ chức dạy
học lâm sàng hiện nay rất khác nhau giữa các cơ sở thực hành và phụ thuộc
vào nhiều yếu tố: Tỷ lệ học sinh/bệnh nhân, tỷ lệ giáo viên hướng dẫn/ học
sinh, cơ cấu bệnh lý tại cơ sở thực hành, nhận thức của người bệnh trong việc
hỗ trợ học sinh học tập, mối quan hệ giữa nhà trường và cơ sở thực hành.
-Đây là một điểm khác biệt cơ bản của nhóm ngành sức khoẻ so với các
cho đối tượng đào tạo TCYT trong điều kiện dạy và học hiện nay, khi kinh tế
- Xã hội phát triển đòi hỏi công tác dịch vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân ngày
càng cao . Lý do trên để chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu với tiêu đề:
“ Một số giải pháp Quản lý hoạt động dạy học thực hành ở trường trung
cấp Y Dược Bắc Ninh”
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các giải pháp tăng cường quản lý quá trình dạy học thực hành
trong đào tạo trung cấp Y Tế ở trường trung cấp Y Dược Bắc Ninh nhằm
nâng cao chất lượng đào tạo.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu.
Hoạt động dạy học thực hành trong đào tạo TCYT
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Giải pháp quản lý hoạt động dạy học thực hành trong đào tạo TCYT ở
Trường trung cấp Y Dược Bắc Ninh
4. Giả thuyết khoa học:
Nếu chúng ta xây dựng được câc giải pháp một cách khoa học, phù hợp
với điều kiện thực tiễn và có tính khả thi thì sẽ nâng cao được chất lượng đào
tạo các ngành Y Dược bậc TCCN
9
10
5. Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
4.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý đào tạo nhân lực y tế bậc trung
cấp chuyên nghiệp tại Việt Nam.
4.2.Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động dạy học thực hành
trong đào tạo TCYT tại trường trung cấp Y Dược Bắc Ninh.
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Quản lý và bản chất của quản lý
Quản lý được áp dụng từ thời kỳ sơ khai của cuộc sống cộng đồng,
nó được áp dụng khi con người làm việc với nhau thành nhóm. Người ta
đã tổng kết là nơi nào có hoạt động chung thì nơi đó có quản lý. Do đó, có
thể nói, lao động có quản lý luôn luôn tồn tại trong quá trình sản sinh và
phát triển của xã hội loài người.
Gần một thế kỷ qua, do có cố gắng chung của nhiều nhà khoa học
về quản lý và nhà kinh tế học, người ta đã nhận thức phổ biến về tầm quan
trọng của quản lý. Đến thập kỷ 80 của thế kỷ XX, người ta đã coi quản lý
và kỹ thuật là “hai trụ cột lớn” ngang nhau trong phát triển kinh tế hoặc
gọi chúng là “hai bánh xe thúc đẩy sự phát triển kinh tế hiện đại”. Như
vậy, quản lý là tiền đề cần thiết và sự bảo đảm vững chắc để bất kỳ tổ
chức xã hội, chính trị, kinh tế nào thực hiện mục tiêu của mình về mặt vĩ
mô và vi mô.
Thuật ngữ quản lý được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau trên
cơ sở những cách tiếp cận khác nhau: Tiếp cận lịch sử, tiếp cận phân tích
tổng hợp, tiếp cận mục tiêu, tiếp cận hệ thống.
Các tác giả đưa ra nhiều quan niệm khác nhau về quản lý, ví dụ như:
Theo tác giả F.W. Taylor: Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính
xác cái gì cần làm và làm cái đó bằng phương pháp nào là tốt nhất
Tác giả A. Fayon cho rằng: Quản lý là đưa xí nghiệp tới đích, cố
gắng sử dụng tốt nhất các nguồn lực (nhân, tài, vật lực) của nó
Theo các tác giả Harold Koontz và Cyrilodonell Heinweihtich:
Quản lý là thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân làm
việc với nhau trong nhóm có thể hoàn thành các nhiệm vụ và mục tiêu đã định
11
12
Công cụ,
phương
pháp
quản lý
Hình 1: Mô hình quản lý
12
13
Trong đó:
Chủ thể QL có thể là một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức.
Đối tượng QL là các quan hệ quản lý. Những quan hệ này có thể là
quan hệ của con người với con người, của con người với môi trường, của
tổ chức với môi trường
Nội dung QL là các yếu tố cần quản lý của đối tượng quản lý
Công cụ quản lý là phương tiện tác động của chủ thể quản lý tới
khách thể quản lý như: Mệnh lệnh, quyết định, luật lệ, chính sách...
Phương pháp quản lý là cách thức tác động của chủ thể tới khách
thể quản lý
Mục tiêu của tổ chức được xác định theo nhiều cách khác nhau, nó
có thể do chủ thể quản lý áp đặt hoặc do sự cam kết giữa chủ thể và khách
thể quản lý.
Quản lý nghiên cứu các mối quan hệ này nhằm tìm ra quy luật và cơ
chế vận dụng những quy luật đó trong quá trình tác động lên con người,
thông qua đó tác động lên các yếu tố vật chất và phi vật chất khác như vốn,
vật tư, trang thiết bị, công nghệ, thông tin một cách có hiệu quả. Vì vậy,
từng nhà quản lý, phụ thuộc vào tài nghệ của từng người. Như vậy, “Nghệ
thuật sử dụng phương pháp, sử dụng công cụ, nghệ thuật dùng người,
nghệ thuật giao tiếp ứng xử do kinh nghiệm được tích luỹ và còn do sự
mẫn cảm, nhanh nhạy của từng người quản lý. Nếu chỉ nắm kiến thức lý
thuyết quản lý, không nhanh nhạy trước tình huống bằng tài nghệ của
mình thì sẽ dẫn tới giáo điều, bảo thủ, tự trói mình và bỏ lỡ thời cơ trong
quản lý. Trái lại, chỉ có nghệ thuật bằng kinh nghiệm mà thiếu cơ sở khoa
học, mặc dù trong một số tình huống có thể giải quyết tốt, nhưng về cơ
bản và lâu dài là thiếu vững chắc và sẽ bó tay khi những vấn đề cần giải
quyết đã vượt khỏi tầm kinh nghiệm và do đó thành công và thất bại chỉ
còn là sự may rủi” [16, trang 16]
1.1.2. Quản lý nhà nước về giáo dục
Theo từ điển Bách khoa về giáo dục học, khái niệm quản lý nhà
nước về giáo dục được giải nghĩa là: “Thực hiện công quyền để quản lý
các hoạt động giáo dục trong phạm vi toàn xã hội”. Như vậy, có thể hiểu
quản lý nhà nước về giáo dục là việc nhà nước thực hiện quyền lực công
14
15
để điều hành, điều chỉnh toàn bộ các hoạt động giáo dục trong phạm vi
toàn xã hội nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục quốc gia. “Nếu xem quản lý
nhà nước như là một hệ thống, thì quản lý nhà nước về giáo dục là một hệ
thống bao gồm các thể chế, cơ chế quản lý giáo dục; tổ chức, bộ máy quản
lý giáo dục và đội ngũ cán bộ và công chức quản lý giáo dục các cấp. Ba
bộ phận này có mối liên hệ và tác động qua lại với nhau rất chặt chẽ, có
thể thúc đẩy hoặc kìm hãm lẫn nhau trong quá trình vận hành, tác
nghiệp”. [16, trang 99]
Theo tác giả Nguyễn Đức Trí, Quản lý giáo dục là hệ thống những
Nội dung quản lý nhà nước về giáo dục được quy định cụ thể tại
Chương VII, mục 1, điều 99 của Luật Giáo dục như sau:
“Nội dung quản lý nhà nước về giáo dục bao gồm:
1. Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch,
chính sách phát triển giáo dục;
2. Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về
giáo dục; ban hành điều lệ nhà trường; ban hành quy định về tổ chức và
hoạt động của cơ sở giáo dục khác;
3. Quy định mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục, tiêu chuẩn
nhà giáo, tiêu chuẩn cơ sở vật chất và thiết bị trường học; việc biên soạn,
xuất bản, in và phát hành sách giáo khoa, giáo trình; quy chế thi cử và cấp
văn bằng, chứng chỉ;
4. Tổ chức, quản lý việc bảo đảm chất lượng giáo dục và kiểm định
chất lượng giáo dục;
5. Thực hiện công tác thống kê, thông tin về tổ chức và hoạt động giáo dục;
6. Tổ chức bộ máy quản lý giáo dục;
7. Tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo, bồi dưỡng, quản lý nhà giáo và cán
bộ quản lý giáo dục;
8. Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để phát triển sự
nghiệp giáo dục;
9. Tổ chức, quản lý công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học công
nghệ trong lĩnh vực giáo dục;
10. Tổ chức, quản lý công tác hợp tác quốc tế về giáo dục;
11. Quy định việc tặng danh hiệu vinh dự cho người có nhiều công
lao đối với sự nghiệp giáo dục;
16
17
18
- Các lực lượng giáo dục trong xã hội quan tâm đến sự nghiệp giáo
dục và nhà trường, có giải pháp phối hợp với nhà trường trong công tác
giáo dục và dạy học, điều đó có ý nghĩa thật quan trọng. Hệ thống giáo
dục của xã hội thống nhất với nhà trường về mục tiêu, nội dung và
phương pháp giáo dục, đó là điều kiện tối ưu để dạy tốt và học tốt.
1.1.4. Quản lý quá trình đào tạo
Quá trình đào tạo bao gồm quá trình dạy học và quá trình giáo dục
(theo nghĩa hẹp), là bộ phận cấu thành chủ yếu nhất trong toàn bộ hoạt
động của một nhà trường. Quá trình đào tạo là do nhà trường tổ chức,
quản lý và chỉ đạo nhưng nó có quan hệ tương tác, liên thông với các tổ
chức đào tạo khác hoặc các tổ chức, cơ quan khoa học, kỹ thuật, công
nghệ, văn hoá... mà học sinh, sinh viên cần phải và có điều kiện tiếp cận.
Trong bối cảnh phát triển của nền kinh tế thị trường cũng như cuộc cách
mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ ngày nay, các mối quan hệ đó là
một trong những điều kiện thuận lợi cho việc quản lý quá trình đào tạo
cũng như để nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo của nhà trường.
Bản chất của quá trình đào tạo là quá trình phối hợp hoạt động của
cán bộ, giáo viên, học sinh, sinh viên nhà trường tổ chức, chỉ đạo và thực
hiện nhằm phát triển nhân cách của học sinh, sinh viên nói chung trong nhà
trường và nhân cách của cá nhân từng học sinh, sinh viên nói riêng được
phát triển theo mục tiêu đề ra. Quá trình đào tạo phải thực hiện đồng thời
ba chức năng (nhiệm vụ) là: Giáo dục, giáo dưỡng và phát triển trong mối
quan hệ tác động và ảnh hưởng lẫn nhau nhằm cải biến nhân cách học sinh,
sinh viên. Nói cách khác, ba nhiệm vụ cơ bản của quá trình đào tạo là: Dạy
người, dạy nghề và dạy phương pháp với bộ ba mục tiêu tương ứng là: Thái
độ, kiến thức - kỹ năng và phương pháp [28]
phải xác định được động cơ và thái độ học tập đúng, có kế hoạch học tập
chủ động và luôn tích cực thực hiện tốt kế hoạch đó một cách sáng tạo của
mỗi cá nhân. Đối tượng hoạt động học là hệ thống tri thức và hệ thống kỹ
năng tương ứng. Mục đích của hoạt động học là tiếp thu nền văn hoá nhân
loại để chuyển hoá thành trí tuệ và nhân cách bản thân, để trở thành người
lao động thông minh năng động và sáng tạo. Phương pháp học tập là
19
20
phương pháp nhận thức và phương pháp rèn luyện để hình thành hệ thống
kỹ năng thực hành.
Hoạt động dạy và hoạt động học luôn gắn bó, không tách rời nhau,
thống nhất giải chứng với nhau, tạo thành một hoạt động chung. Vì vậy,
tác giả Phạm Viết Vượng đã khẳng định: “Quá trình dạy học là quá trình
hoạt động của hai chủ thể, trong đó dưới sự tổ chức, hướng dẫn và điều
khiển của giáo viên, học sinh nhận thức lại nền văn minh nhân loại và rèn
luyện hình thành kỹ năng hoạt động, tạo lập thái độ sống tốt đẹp”. [33
trang 58]
Dạy học là một quá trình từ từ và liên tục. J.A.Komenxki đã nói:
“Mọi điều đều phải tiến hành theo một trình tự liên tục sao cho tất cả
những điều có hôm nay phải củng cố cái hôm qua và mở ra con đường cho
ngày mai” [30 trang 145].
Kinh nghiệm dạy học cho thấy rằng, nội dung dạy học giữ vai trò
đặc biệt quan trọng trong sự phát triển nói chung và trong sự hình thành,
phát triển nghề nghiệp nói riêng của học sinh. Dạy học theo hướng nào, ở
mức độ nào phụ thuộc vào sự phong phú, độ tin cậy, tính hấp dẫn và chặt
chẽ của tài liệu đến mức nào, hệ thống và tính liên tục của kiến thức ra
sao, tính sống động và thực tiễn của nó như thế nào, có phù hợp, hứng thú
năng lực thực hiện đang được nghiên cứu và áp dụng tại Việt Nam. Năng
lực thực hiện: Năng lực thực hiện (Competency) là khả năng thực hiện
được các hoạt động (nhiệm vụ, công việc) trong nghề theo tiêu chuẩn đặt
ra đối với từng nhiệm vụ, công việc đó. Năng lực thực hiện bao gồm: Các
kĩ năng thực hành tâm vận; các kĩ năng trí tuệ; kĩ năng giao tiếp, giải
quyết vấn đề; có khả năng thích ứng để thay đổi; có khả năng áp dụng
kiến thức của mình vào công việc; có khát vọng học tập và cải thiện; có
khả năng làm việc cùng với người khác trong tổ, nhóm...; thể hiện đạo
đức lao động nghề nghiệp tốt; v.v....
Riêng về kĩ năng trong năng lực thực hiện, người ta phân biệt bốn
loại chủ yếu sau đây:
- Kĩ năng thực hiện công việc cụ thể, riêng biệt
- Kĩ năng quản lý các công việc
21
22
- Kĩ năng quản lý sự cố
- Kĩ năng hoạt động trong môi trường làm việc.
Để có thể hình thành được các kĩ năng nghề nghiệp nói trên, n gười
ta xác định, ngày nay người lao động cần phải có trong năng lực thực hiện
của mình các kĩ năng cốt lõi sau đây:
- Các kĩ năng thông tin: Đó là khả năng thu thập, phân tích, đánh
giá, sàng lọc và lựa chọn, trình bày thông tin và các ý tưởng dùng cho
hàng loạt mục đích thực tế khác nhau.
- Các kĩ năng giao tiếp: Đó là khả năng giao tiếp có hiệu quả với
những người khác thông qua lời nói, chữ viết và các phương tiện biểu
thị không bằng lời.
thực hiện (tiếng Anh là “Competency Based Training”) không phải là
mới. Từ hơn nửa thế kỉ trước đây, thuật ngữ này đã được sử dụng để mô
tả một phương thức đào tạo rất khác với phương thức đào tạo truyền
thống. Phương thức tiếp cận “mới” này dựa chủ yếu vào những tiêu chuẩn
quy định cho một nghề và đào tạo theo các tiêu chuẩn đó chứ không dựa
vào thời gian.[32]
Trong đào tạo theo năng lực thực hiện, các tiêu chuẩn theo kết quả
hay đầu ra (chính là các năng lực thực hiện) luôn luôn được sử dụng làm
cơ sở để lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá quá trình cũng như kết quả
học tập. Đào tạo theo năng lực thực hiện chứa đựng trong nó những yếu tố
cải cách, thể hiện ở chỗ nó gắn rất chặt chẽ với yêu cầu của chỗ làm việc,
của người sử dụng lao động, của các ngành nghề.
Một chương trình đào tạo theo năng lực thực hiện phải thể hiện
được các đặc điểm về mặt tổ chức, quản lý sau đây:
Để xác định một người đã hoàn thành chương trình đào tạo, người
ta căn cứ vào sự thông thạo được tất cả các năng lực thực hiện đã xác định
trong khung chương trình đào tạo theo tiêu chuẩn.
Đào tạo nghề theo năng lực thực hiện đặt trọng tâm vào việc giải
quyết vấn đề, vào việc hình thành năng lực thực hiện cho người học
23
24
hơn là tập trung vào giải quyết nội dung chương trình.Việc đánh giá kết
quả học tập của người học dựa vào các tiêu chí thực hiện. Các tiêu chí
thực hiện được xác định chủ yếu từ các tiêu chuẩn nghề trong công
nghiệp; chỉ khi nào người học đã “đạt” tất cả các tiêu chí đặt ra thì mới
được công nhận đã học xong chương trình đào tạo.
hội, củng cố quốc phòng, an ninh. Trung cấp chuyên nghiệp nhằm đào tạo
người lao động có kiến thức, kỹ năng thực hành cơ bản của một nghề, có
khả năng làm việc độc lập và có tính sáng tạo, ứng dụng công nghệ vào
công việc.” [11 trang 33]
Theo Điều lệ Trường trung cấp chuyên nghiệp ban hành kèm theo
Quyết định số 43/2008/QĐ-BGD&ĐT ngày 29/7/2008 của Bộ trưởng Bộ
Giáo dục và Đào tạo: Trường trung cấp chuyên nghiệp là cơ sở giáo dục
nghề nghiệp thuộc bậc trung cấp có quan hệ đào tạo liên thông với các
trường trung học cơ sở, trung học phổ thông, dạy nghề, cao đẳng, đại học
trong hệ thống giáo dục quốc dân.
1.2.2. Đặc điểm dạy học ở trường trung cấp Y Tế
Trường trung cấp y tế nằm trong hệ thống Giáo dục nghề nghiệp, là
hệ thống đào tạo rất đa dạng về đối tượng tuyển sinh, loại hình cơ sở đào
tạo, cơ cấu ngành nghề. Đồng thời, đào tạo trung cấp y tế cũng như đào
tạo trung cấp chuyên nghiệp nói chung có quan hệ chặt chẽ và chịu sự chi
phối trực tiếp của thị trường lao động, việc làm trên toàn quốc cũng như
từng địa phương. Vì vậy, ngoài mục tiêu, tính chất, nguyên lý, nội dung,
phương pháp giáo dục chung được quy định trong Luật Giáo dục, Điều lệ
trường trung cấp chuyên nghiệp, thì quá trình đào tạo trung cấp y tế có
một số đặc điểm sau:
Đặc điểm mục tiêu đào tạo: Tập trung vào ba mục tiêu:
Mục tiêu 1: Dạy nghề
Nhóm ngành sức khỏe là những nghề cụ thể, có hệ thống lý thuyết
phức tạp, có kỹ năng tay nghề rõ ràng và những yêu cầu thái độ y đức cao
cả. Học sinh phải được học nghề cẩn thận vì sau nay sẽ hành nghề trên
con người.
Khi dạy nghề, phải giữ vững truyền thống trọng thực hành có từ rất
lâu đời và rất quan trọng. Học sinh phải được thường xuyên luyện tập,
25