1
B GIO DC V O TO
TRNG I HC VINH
NGUYN TH MINH
Một số giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên tiểu
học
ở thành phố hà tĩnh
Chuyờn ngnh: Qun lý giỏo dc
Mó s: 60.14.05
LUN VN THC S KHOA HC GIO DC
Ngi hng dn khoa hc: PGS.TS. INH XUN KHOA
2
Vinh - 2010
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ của nhiều
tập thể và cá nhân.
Xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban giám hiệu trường Đại học Vinh, khoa
sau Đại học và các giảng viên, các nhà sư phạm và khoa học cùng quí thầy cô
đã tận tình giảng dạy và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt quá
trình học tập và nghiên cứu.
Tác giả cũng chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo và chuyên viên
Sở giáo dục – đào tạo, Sở Nội vụ tỉnh Hà Tĩnh; các đồng chí lãnh đạo và
1.2 Các khái niệm liên quan đến đề tài
8
1.3 Trường tiểu học trong hệ thống giáo dục quốc dân.
16
1.4
Phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học.
17
1.5
Những định hướng phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học.
25
Kết luận chương I
29
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TIỂU HỌC
Ở THÀNH PHỐ HÀ TĨNH
30
2.1 Khái quát về quá trình hình thành và phát triển thành phố Hà Tĩnh
58
Nguyên tắc đề xuất phương pháp
4
3.2
3.3
Các giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học ở thành phố
Hà Tĩnh
Thăm dò tính khả thi của các giải pháp
59
91
Kết luận chương III
93
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
94
TÀI LIỆU THAM KHẢO
96
PHỤ LỤC
Học sinh
HĐNGLL
Hoạt động ngoài giờ lên lớp
NXB
Nhà xuất bản
QLGD
Quản lý giáo dục
TW
Trung ương
UBND
Uỷ ban nhân dân
SKKN
Sáng kiến kinh nghiệm
XHHGD
Xã hội hóa giáo dục
6
nhiên, thành phố Hà Tĩnh chưa có đề án nào để nâng cao chất lượng đội
ngũ GV tiểu học mang tầm chiến lược. Thực trạng đội ngũ GV tiểu học
dù trình độ đào tạo tuy đã đạt chuẩn và trên chuẩn nhưng một số GV vẫn
chưa đáp ứng được yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục; Tình trạng
vừa thừa vừa thiếu GV vẫn còn; cơ cấu đội ngũ mất cân đối giữa các
vùng , đặc biệt là cơ cấu GV về trình độ, độ tuổi, giới tính, dạy các môn
Văn hóa và các môn Mĩ thuật, Âm nhạc, Thể dục, Tin học, Ngoại ngữ
(gọi chung là các môn đặc thù) chưa hợp lý; thực hiện cơ chế thu hút
nhân tài chưa thường xuyên; tỉ lệ GV tuổi cao vẫn nhiều; chưa giao
quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các nhà trường trong khâu tuyển
chọn đội ngũ GV; chế độ, chính sách động viên GV còn nhiều bất cập…
Chính những tồn tại này đã dẫn đến chất lượng và hiệu quả giáo dục
tiểu học ở thành phố Hà Tĩnh chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu phát
triển sự nghiệp GD - ĐT trong giai đoạn hiện nay. Từ những lý do nêu
trên và để phù hợp với thực tiễn công tác của bản thân tôi lựa chọn đề
tài: “Một số giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học ở thành
phố Hà Tĩnh.” làm đề tài luận văn.
2. Mục đích nghiên cứu
Nhằm khảo sát thực trạng và đưa ra các giải pháp phát triển đội
ngũ GV tiểu học ở thành phố Hà Tĩnh.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1.
Khách thể: Công tác phát triển đội ngũ GV tiểu học ở thành phố
Hà Tĩnh.
3.2.
ngũ GV tiểu học để có cơ sở xây dựng các giải pháp nhằm phát triển đội ngũ
GV tiểu học ở thành phố Hà Tĩnh.
6.2.3. Phương pháp chuyên gia
8
Xây dựng hệ thống các câu hỏi về tính hợp lý và khả thi của các giải
pháp phát triển đội ngũ GV tiểu học ở thành phố Hà Tĩnh tới các chuyên gia
(Lãnh
đạo, chuyên viên phòng GD-ĐT, CBQL, chủ tịch công đoàn, tổ trưởng, tổ
phó chuyên môn, GV cốt cán ở các trường tiểu học thành phố Hà Tĩnh) với
mục đích xin ý kiến của các chuyên gia về tính hợp lý và khả thi của các giải
pháp quản lý được đề xuất.
6.2.4. Phương pháp thống kê toán học.
Sử dụng một số thuật toán thống kê áp dụng trong nghiên cứu giáo dục
để xử lý các kết quả điều tra, phân tích kết quả nghiên cứu; đồng thời để đánh
giá mức độ tin cậy của phương pháp điều tra.
7. Những đóng góp của đề tài
Phân tích và làm sáng rõ cơ sở lý luận của các giải pháp phát triển đội
ngũ GV tiểu học nói chung và thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh nói riêng.
Chỉ ra được thực trạng của đội ngũ GV tiểu học thành phố Hà Tĩnh, tỉnh
Hà Tĩnh.
Đề xuất một số giải pháp phát triển đội ngũ GV tiểu học thành phố Hà
Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.
- Giúp GV thấy rõ được trách nhiệm của mình trong công tác phát triển
đội ngũ GV
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, báo
cáo khoa học của đề tài gồm ba chương:
Chương I: Cơ sở lý luận của vấn đề phát triển đội ngũ GV tiểu học ở
đắn và hợp lý công tác hoạt động của đội ngũ GV” [25].
10
V.A Xukhômlinxki khẳng định: “Một trong những giải pháp hữu
hiệu nhất để xây dựng và phát triển đội ngũ GV là phải bồi dưỡng đội
ngũ GV, phát huy được tính sáng tạo trong lao động của họ và tạo ra khả
năng ngày càng hoàn thiện tay nghề sư phạm, phải biết lựa chọn GV
bằng nhiều nguồn khác nhau và bồi dưỡng họ trở thành những GV tốt
theo tiêu chuẩn nhất định,
bằng những biện pháp khác nhau” [45].
Một số giải pháp để nâng cao chất lượng đội ngũ GV mà tác giả
quan tâm là tổ chức hội thảo chuyên môn, qua đó GV có điều kiện trao
đổi những kinh nghiệm về chuyên môn nghiệp vụ để nâng cao trình độ
của mình.
V.A Xukhômlinxki và Xvecxlerơ còn nhấn mạnh đến biện pháp dự
giờ, phân tích bài giảng, sinh hoạt tổ nhóm chuyên môn…Trong cuốn
“Vấn đề quản lý và lãnh đạo nhà trường” V.A Xukhômlinxki đã nêu rất
cụ thể cách tiến hành dự giờ và phân tích bài giảng giúp cho thực hiện tốt
và có hiệu quả giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ GV. Do đó yêu cầu
về ®µo t¹o, cơ cấu lại đội ngũ GV để thích ứng với sự thay đổi trở thành
áp lực thường xuyên. Khi bàn về các điều kiện cơ bản để phát triển giáo
dục như môi trường kinh tế giáo dục, chính sách và công cụ thể chế hóa
giáo dục, cơ sở vật chất (CSVC) kĩ thuật và tài chính giáo dục, đội ngũ
GV và người học thì các nhà nghiên cứu của nhiều nước đều khẳng định
GV là điều kiện cơ bản nhất, quyết định sự phát triển của giáo dục. Cho
nên nhiều nước đi vào cải cách giáo dục, phát triển giáo dục thường bắt
đầu bằng phát triển đội ngũ GV.
1.1.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam
Ở góc độ nghiên cứu lý luận về quản lý giáo dục, dựa trên cơ cở lý luận
nghiệp mà hoạt động chuyên môn của GV có nội dung rất phong phú. Ngoài
giảng dạy và chủ nhiệm lớp, hoạt động chuyên môn còn bao gồm cả các công
việc như tự bồi dưỡng và bồi dưỡng, giáo dục HS ngoài giờ lên lớp, sinh hoạt
12
chuyên môn, nghiên cứu khoa học... hay nói cách khác, quản lý chuyên môn
của GV thực chất là quản lý quá trình lao động sư phạm của người thầy.
Tùy các mức độ khác nhau, tất cả các đề tài khoa học, các dự án nêu trên
đều đề cập đến vấn đề phát triển đội ngũ GV.
Như vậy, vấn đề nâng cao chất lượng GV từ lâu đã được các nhà nghiên
cứu trong và ngoài nước quan tâm. Qua các công trình nghiên cứu của họ,
thấy một điểm chung, đó là: Khẳng định vai trò quan trọng của các giải pháp
phát triển đội ngũ GV trong việc nâng cao chất lượng giáo dục. Đây cũng là
một trong những tư tưởng chiến lược về phát triển giáo dục của Đảng ta.
Đối với thành phố Hà Tĩnh, ngoài những văn bản, quy định, Nghị quyết,
đề án mang tính chủ trương đường lối của Thành ủy, ủy ban nhân dân
(UBND) thành phố, phòng GD-ĐT về việc tìm các giải pháp nâng cao chất
lượng đội ngũ GV tiểu học thì chưa có tác giả nào nghiên cứu về vấn đề này.
Vậy làm như thế nào để phát triển đội ngũ GV tiểu học thành phố Hà Tĩnh ổn
định về số lượng, đảm bảo về chất lượng, cơ cấu hợp lý đáp ứng được yêu cầu
đổi mới của giáo dục? Đây chính là vấn đề mà chúng tôi quan tâm nghiên cứu
trong luận văn này.
1.2. Các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài
1.2.1. Quản lý và quản lý giáo dục
1.2.1.1.
Quản lý
Quản lý là một khái niệm được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực của
vào chủ thể quản lý, nói cách khác, người quản lý biết liên kết các thành tố lại
với nhau tạo thành mối quan hệ chặt chẽ để phát huy tác dụng của các thành
tố; biết tác động vào cả quá trình giáo dục hoặc tăng thành tố làm cho quá
trình vận động tới mục tiêu đã định, tạo được kết quả giáo dục, đào tạo của
nhà trường.
1.2.2. Quản lý trường học, trường tiểu học
1.2.2.1.
Quản lý trường học
Khoản 2, điều 48 -Luật giáo dục năm 2005 đã ghi rõ: “Nhà trường trong
hệ thống giáo dục quốc dân thuộc mọi loại hình đều được thành lập theo quy
hoạch, kế hoạch của Nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục” [33].
Trường học là một hệ thống xã hội, nó nằm trong môi trường xã hội và
nó tác động qua lại với môi trường đó. “Quản lý nhà trường là thực hiện
đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa
nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục,
mục tiêu đào tạo với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và đối với từng HS” và
“Việc quản lý nhà trường phổ thông là quản lý hoạt động dạy và hoạt động
15
học tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để
dần tiến tới mục tiêu giáo dục”[18].
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang : “Quản lý trường học là tập hợp
những tác động tối ưu (cộng tác, tham gia, hỗ trợ, huy động, can thiệp)
của chủ thể quản lý đến tập thể GV, HS và cán bộ khác” [32].
Công tác quản lý trường học bao gồm sự quản lý các tác động qua
lại giữa trường học và xã hội, đồng thời quản lý chính nhà trường.
Có thể xem việc quản lý quá trình giáo dục của nhà trường là quản
đứng đầu là Hiệu trưởng. Quản lý trường tiểu học chủ yếu gồm quản lý quá
trình GD-ĐT; quản lý trường sở, CSVC, thiết bị dạy học; quản lý nhân sự;
quản lý hành chính, tài chính; quản lý môi trường giáo dục,...
Trong các trường tiểu học hiện nay cơ cấu bộ máy quản lý và các mối
quan hệ, phối hợp các lực lượng trong quản lý bao gồm:
- Hiệu trưởng và Phó Hiệu trưởng do Nhà nước bổ nhiệm chịu trách
nhiệm quản lý các hoạt động của nhà trường. Hiệu trưởng được bổ nhiệm
theo định kỳ, quản lý các hoạt động của nhà trường theo chế độ thủ trưởng.
- Tổ chức Đảng trong nhà trường tiểu học lãnh đạo nhà trường và hoạt
động trong khuôn khổ Hiến pháp và Pháp luật.
- Công đoàn giáo dục, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và các
tổ chức xã hội khác hoạt động trong trường theo quy định của pháp luật giúp
nhà trường thực hiện mục tiêu, nguyên lý giáo dục.
- Mỗi trường tiểu học có một GV Tổng phụ trách Đội Thiếu niên Tiền
phong Hồ Chí Minh và Sao Nhi đồng Hồ Chí Minh, có trách nhiệm phối hợp
với nhà trường tổ chức và quản lý các hoạt động của Đội và các hoạt
động ngoài giờ lên lớp (HĐNGLL).
Mỗi trường tiểu học chịu sự quản lý trực tiếp về chuyên môn, hành
chính của phòng GD-ĐT và cơ quan quản lý Nhà nước ở địa phương nơi
trường đóng.
Sự phối hợp giữa chính quyền và các tổ chức đoàn thể trong nhà trường
tạo nên một sức mạnh tổng hợp trong việc quản lý trường học.
17
1.2.3. Cán bộ, công chức
1.2.3.1. Cán bộ
Theo Từ điển Tiếng Việt 1992 của Viện khoa học xã hội Việt Nam thì
cán bộ được định nghĩa là:
1) Người làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan nhà nước.
trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng
sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn
vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước;
đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công
lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo
quy định của Pháp luật.” [34].
Trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH-H§H) đất nước, hội
nhập quốc tế, khoa học công nghệ phát triển rất nhanh, tác động mạnh trên
mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Trình độ học vấn của nhân dân ngày càng nâng
cao, đòi hỏi mỗi cán bộ, công chức phải không ngừng học tập vươn lên. Để
phát triển đội ngũ cán bộ, công chức “vừa hồng vừa chuyên”. Chủ tịch Hồ
Chí Minh nhấn mạnh: “Phải tăng cường pháp luật đi đôi với giáo dục đạo đức
cách mạng, phát huy tinh thần phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc”. Đảng
và Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách hành chính cùng với xây dựng chỉnh
đốn Đảng xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức đáp ứng yêu cầu
thời kỳ đổi mới.
1.2.4. Giáo viên, đội ngũ giáo viên, đội ngũ giáo viên tiểu học
1.2.4.1. Khái niệm về giáo viên
Từ điển Tiếng Việt (Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1994) định
nghĩa: “Giáo viên là người dạy học ở bậc phổ thông hoặc tương đương” [43].
Điều 61, Luật giáo dục năm 2005, nêu: “Nhà giáo là người làm nhiệm vụ
giảng dạy, giáo dục trong nhà trường hoặc các cơ sở giáo dục khác” [33].
Như vậy, GV là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà
trường hoặc các cơ sở đào tạo khác nhằm thực hiện mục tiêu của giáo dục là
xây dựng và hình thành kĩ năng và nhân cách cho người học, đáp ứng yêu cầu
của sự phát triển xã hội.
19
1.2.4.2.
20
trung lại, nhằm đạt được mục đích hoạt động. Giải pháp càng thích hợp, càng
tối ưu, càng giúp con người giải quyết tốt những vấn đề đặt ra.
Tuy nhiên, để có những giải pháp như vậy, cần phải dựa trên những cơ
sở lí luận và thực tiễn đáng tin cậy.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, chúng ta có thể hiểu: Để đạt
được mục đích hoặc cho ra một kết quả nào đó phải có một hệ thống các cách
thức tiến hành cụ thể trong hoạt động thực tiễn hay nói cách khác là phải có
các giải pháp.
1.2.5.2.
Giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học
Từ vấn đề nêu trên, ta có thể hiểu: Giải pháp phát triển đội ngũ GV tiểu
học là những cách thức tác động hướng vào việc tạo ra những biến đổi về
chất
lượng trong đội ngũ GV tiểu học.
Cho nên muốn phát triển đội ngũ GV tiểu học thì nhà quản lý giáo dục
cần có một hệ thống các cách thức hoạt động thực tiễn, hay nói cách khác đó
là hệ thống các giải pháp phù hợp.
1.3. Trường tiểu học trong hệ thống giáo dục quốc dân
1.3.1. Vị trí, nhiệm vụ và quyền hạn của trường tiểu học
1.3.1.1.
Vị trí của trường tiểu học
Điều 2, Điều lệ trường tiểu học quy định: “Trường tiểu học là cơ sở giáo
dục phổ thông của hệ thống giáo dục quốc dân, có tư cách pháp nhân, có tài
khoản và con dấu riêng.” [3].
“Tất cả trẻ em học hết tiểu học” là mục tiêu được xếp vị trí thứ 3 trong 8
mục tiêu thiên niên kỉ.” của Liên hợp quốc đề xướng năm 2005.
“Đến năm 2020 có 99% trẻ em trong độ tuổi đi học tiểu học”. “Tỉ lệ trẻ
em người dân tộc trong độ tuổi được đến trường ở tiểu học là 90%”. “Giáo
dục hoà nhập được thực hiện ở tất cả các cấp học và trình độ đào tạo để đến
năm 2020 có 70% người khuyết tật và 95% trẻ em có hoàn cảnh khó khăn
được học hòa nhập”[10].
Như vậy, nhiệm vụ của trường tiểu học còn nhằm phát triển những đặc
tính tự nhiên tốt đẹp của HS, hình thành ở HS lòng ham hiểu biết và những
22
đặc tính, kĩ năng cơ bản đầu tiên để tạo hứng thú học tập và học tập tốt. Củng
cố và nâng cao thành quả phổ cập tiểu học đúng độ tuổi trong cả nước.
1.3.2. Vai trò của trường tiểu học trong sự nghiệp GD-ĐT
Điều 27, Luật giáo dục: “Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình
thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức,
trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung
học cơ sở”[33].
Như vậy, vai trò của trường tiểu học đặc biệt quan trọng vì đó là bậc học
đặt nền tảng ban đầu trong việc hình thành, phát triển nhân cách của con
người. Đó là cơ sở nền tảng vững chắc cho giáo dục phổ thông và toàn bộ hệ
thống giáo dục quốc dân.
1.4. Phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học
1.4.1. Nhận thức về phát triển đội ngũ giáo viên
Đội ngũ GV là lực lượng nòng cốt, là điều kiện tiên quyết biến những
mục tiêu chiến lược trở thành hiện thực, thực hiện sứ mạng cao cả của nhà
trường nâng cao chất lương giáo dục, luôn đi tiên phong nghiên cứu và tìm ra
con đường ngắn nhất, cách thức độc đáo, hiệu quả nhất trong việc giáo dục
HS. Coi trọng xây dựng chiến lược đào tạo, bồi dưỡng và phát triển đội ngũ là
Phát triển đội ngũ GV phải đảm bảo đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu,
đạt chuẩn và trên chuẩn, đáp ứng nhu cầu vừa tăng quy mô vừa nâng cao chất
lượng và hiệu quả giáo dục, đáp ứng yêu cầu đặt ra của địa phương.
1.4.2. Vai trò của giáo viên trong trường tiểu học
Xu thế đổi mới giáo dục của thế kỷ XXI đang đặt ra những yêu cầu mới
về phẩm chất, năng lực và làm thay đổi vai trò, chức năng và nhiệm vụ của
người GV. Vì vậy mà trong sự nghiệp đổi mới giáo dục hiện nay thì vị trí và
vai trò của GV phải được nâng lên.
Xuất phát từ mục tiêu giáo dục tiểu học là nhằm giúp cho HS cơ sở ban
đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm
24
mĩ và các kĩ năng cơ bản để HS tiếp tục học ở bậc học tiếp theo cho nên vai
trò của GV tiểu học đặc biệt quan trọng và có những đặc trưng riêng.
Giáo dục tiểu học là bậc học đặt nền móng cho hệ thống giáo dục quốc dân
nên toàn xã hội, ngành giáo dục, các bậc cha mẹ đều đặt niềm tin hi vọng vào
các thầy cô giáo tiểu học trong việc dạy dỗ HS. Đó là những bước đi đầu tiên
của thế hệ trẻ - chủ nhân tương lai của đất nước. Chính vì thế cho nên ở nước
ta cũng như tất cả các Quốc gia khác đều quan tâm đến giáo dục tiểu học và
luôn dành cho nó sự quan tâm đặc biệt, nhất là đào tạo GV.
Dạy ở tiểu học, vấn đề lựa chọn dạy cái gì cũng quan trong nhưng dạy như
thế nào mới quan trọng hơn. Cho nên giáo dục tiểu học được coi là bậc học
của phương pháp.Vì vậy, tiêu chí đầu tiên cần có ở người GV tiểu học đó
chính là tác phong, cách tư duy, trình bày, cách ứng xử và hơn cả đó chính là
lòng yêu nghề mến trẻ. GV tiểu học phải là người vừa biết dạy vừa biết dỗ.
Bởi nơi đây, các em vừa từ giã vòng tay ấm áp của bố mẹ đến với môi trường
mới, bắt đầu thực hiện quá trình xã hội hóa cá nhân. Các em rất cần có sự
chăm chút chu đáo với tình yêu thương, trách nhiệm, tay nghề tinh xảo của
thầy cô giáo tiểu học. GV tiểu học chính là tấm gương mà HS được soi đầu
6) Phối hợp với Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, Sao Nhi đồng
Hồ Chí Minh, với gia đình HS và các tổ chức xã hội có liên quan trong hoạt
động giảng dạy và giáo dục [3].
1.4.3.2. Yêu cầu về trình độ của giáo viên tiểu học
Chuẩn trình độ đào tạo là trình độ đào tạo chuẩn được pháp luật quy
định cho đội ngũ lao động của một ngành nghề ở một giai đoạn nhất định.
Trình độ đào tạo chuẩn sẽ được xác nhận thông qua loại bằng cấp đào tạo
tương ứng.
Điều 33, Điều lệ trường tiểu học quy định về trình độ chuẩn được đào
tạo của GV tiểu học:
1)Trình độ chuẩn được đào tạo của GV tiểu học là có bằng tốt nghiệp trung