Hình tượng nhà thơ trong thơ tản đà - Pdf 33

Bộ giáo dục đào tạo
trờng đại học vinh
khoa ngữ văn

--------

Nguyễn Thị Linh

hình tợng nhà thơ
trong thơ tản đà
Khóa luận tốt nghiệp đại học
chuyên ngành: văn học Việt Nam

Ngời hớng dẫn :
Ngời phản biện

1

:

T.s Biện Minh Điền
Thầy Lê Văn Tùng


Vinh 2005

mở đầu
1. Lý do chọn đề tài.

1.1. Những ai đến với nền văn học Việt Nam đều không thể không biết
đến Tản Đà - Một hiện tợng văn học độc đáo còn nhiều ẩn số. Ông là con "ngời của hai thế kỷ", là cây cầu nối liền văn học hai thời trung đại và hiện đại.

mắt lệch lạc thờ ơ. Có những đánh giá thiếu tôn trọng và không đúng mức về
một tác giả văn học.
Sau khi Tản Đà mất (1939) ngời ta mới bình tĩnh trở lại để nhìn nhận Tản
Đà. Trong bài Công của thi sĩ Tản Đà Xuân Diệu viết: " Tản Đà là nhà thi sỹ
đầu tiên mở đầu cho thơ ca Việt Nam hiện đại. Tản Đà là ngời thứ nhất có can
đảm làm thi sỹ, đã làm thi sỹ một cách đờng hoàng bạo dạn, dám giữ một bản
ngã dám có một cái "tôi"" [23,73].
Trong việc dịch thơ, chính Tản Đà cũng đã tạo nên đợc một phong
cách riêng cho mình. Nguyễn Xuân Huy nhận xét: "Văn dịch của Tản Đà
đã thoát hẳn nguyên văn, mà nhiều khi lại còn bóng bẩy, có âm điệu hơn
nguyên văn nữa".
Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tuân, Ngô Tất Tố, Khải Hng đã viết chân
dung Tản Đà với "những nét cá tính ngang tang, phóng túng, tài hoa, dị thờng." [23, 515].

3


Năm 1942 hai cuốn Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh, Hoài Chân [20]
và Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan [14] thì những giá trị giới hạn của Tản
Đà đợc nhận ra rõ hơn. Trong Cung chiêu anh hồn Tản Đà Hoài Thanh, Hoài
Chân viết: "Anh em ở đây, tuy ng ời sau kẻ trớc, nhng ai nấy đều là con đầu
lòng của Thế kỷ XX. Trên hội Tao Đàn chỉ tiên sinh là ngời của hai thế kỷ.
Tiên sinh sẽ đại biểu cho một lớp ngời để chứng giám công việc của lớp ngời
kế tiếp" và khẳng định: "Tiên sinh đã dạo những bản đàn mở đầu cho
cuộc hòa nhạc tân kỳ đang sắp sửa" [20, 15-16].
Theo Hoài Thanh, Hoài Chân Tản Đà đã nối sợi dây liên lạc giữa cái mới
và cái cũ, là chiếc cầu nối giữa quá khứ và hiện tại và cảm thấy: "Có tiên sinh
ngời ta sẽ thấy rõ chúng tôi không phải là ngời quái thai của thời đại, những
đứa thất cớc không có liên lạc gì với quá khứ gống nòi" [20, 16].
Trong cuốn Nhà văn hiện đại [14] Vũ Ngọc Phan cũng đã nói đến Tản

vào văn học.
Năm 1988 để kỷ niệm 100 năm sinh của Tản Đà ở khoa văn trờng Đại
học tổng hợp, trong hội thảo khoa học, Tầm Dơng, Nguyễn Khắc Xơng, có
thêm Lê Chí Dũng, Trần Lê Văn cùng với Trần Đình Hợu họ chứng minh
Tản Đà có vị trí ở giai đoạn văn học cận đại.
2.2. Hình tợng nhà thơ trong thơ Tản Đà đòi hỏi cần phải đợc tiếp tục
nghiên cứu. Tìm hiểu và nghiên cứu Tản Đà, trong đó có vấn đề cái tôi tác giả
đã có nhiều công trình đề cập đến nh Nguyễn Khắc Xơng với Tản Đà - thơ và
đời Xuân Diệu với Công của thi sỹ Tản Đà - "lời giới thiệu" cho Tuyển tập
Tản Đà. Mặc dù hình tợng nhà thơ trong sáng tác của Tản Đà đã đợc tìm hiểu
nhng cha đợc nghiên cứu chuyên sâu.
Công trình của chúng tôi là công trình đầu tiên tìm hiểu Hình tợng nhà
thơ trong thơ Tản Đà với một cái cụ thể và hoàn thiện hơn.
3. Đối tợng nghiên cứu và phạm vi giới hạn của đề tài.

5


3.1. Đối tợng nghiên cứu.
Nh tên của đề tài đối tợng nghiên cứu mà đề tài hớng tới là: Hình tợng
nhà thơ trong thơ Tản Đà.

3.2. Phạm vi giới hạn của đề tài.
Luận văn khảo sát hình tợng nhà thơ trong thơ Tản Đà ở tất cả các thể
loại. Văn bản khảo sát chúng tôi dựa vào các cuốn: Tuyển tập Tản Đà Nguyễn
Khắc Xơng su tầm và chú thích [27], Tản Đà - Thơ và đời Nguyễn Khắc Xơng
su tầm và biên soạn, NXB văn học, Hà Nội 1995 [25].
4. Nhiệm vụ nghiên cứu.

4.1. Giới thuyết về Hình tợng nhà thơ trong thơ Tản Đà.

văn học buổi giao thời giữa cổ điển và hiện đại.

Chơng 2:

Một nhà nho tài tử trong xã hội t sản với Túi thơ đeo khắp
ba kỳ.

Chơng 3:

Một kiểu nhà thơ lãng mạn với cái tôi ngông độc đáo.

Cuối cùng là Tài liệu tham khảo.

7


Chơng 1
Tản Đà - con ngời của hai thế kỷ, một hiện tợng đặc sắc của
văn học buổi giao thời cổ điển và hiện đại.

1.1. Tản Đà - con ngời của hai thế kỷ:

1.1.1. Cuộc đời và con ngời Tản Đà:
Tản Đà tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu, sinh năm 1889 ở làng Khê Thợng,
huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây. Làng Khê Thợng ở bên dòng Đà Giang và xa xa
cách một cánh đồng bát ngát là chân núi Tản Viên.
Tản Đà thuộc dòng họ khoa bảng lâu đời, chính quán ở làng Kim Lũ, xã
Đại Kim, huyện Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội.
Khi nhà Nguyễn nắm quyền thống trị đất nớc, các cụ dòng họ Nguyễn
làng Khê Thợng đã lập lời thề không ra làm quan với triều đại mới, từ đó dòng

Cũng trong năm này Tản Đà lập gia đình. Từ đấy Nguyễn Khắc Hiếu bắt
đầu nổi tiếng với bút danh Tản Đà.
Năm 1922 Tản Đà thành lập Tản Đà th điếm (sau đổi thành Tản Đà th
cục) nhà xuất bản đầu tiên của ông về văn xuôi và thơ: Tản Đà tùng văn, thơ
Tản Đà.
9


Năm 1926 Nam Phong tạp chí - tờ báo mà ông dành nhiều tâm huyết ra
số đầu tiên nhng số phận long đong không kém số phận của ngời chủ xớng:
xuất bản và đình bản tới sáu lần.
Tản Đà đi du lịch khắp ba kỳ, những chuyến đi lúc để giải sầu, lúc để
chạy nợ nhng ông vẫn tiếp tục viết văn. Ông cho xuất bản Giấc mộng lớn
(1929) Giấc mộng con II (1932).
Sau khi An Nam tạp chí đình bản, cuộc đời Tản Đà bắt đầu trở về chiều
và cô độc với thời cuộc. Ông dành tâm sức cho việc dịch thơ Đờng.
Ngày 07 tháng 6 năm 1939 Tản Đà mất, nợ nần chồng chất chết cô độc
trong nghèo nàn tại một căn nhà ở đờng Cầu Mới, Ngã T Sở, Hà Nội.
Xuất thân từ một gia đình quan lại, nhng mẹ lại là đào hát, bản thân là
một nhà nho, nhng lại phải dấn thân vào giữa những dòng thác "canh tân" theo
con đờng t sản hóa của xã hội thành thị Việt Nam. Trong con ngời Tản Đà hai
kiểu nhà nho tuy vẫn cùng tồn tại, song kiểu nhà nho "kinh bang tế thế" phần
nào bị lu mờ, nhờng chỗ cho kiểu "nhà nho tài tử" ngày càng nổi đậm. Lần
đầu tiên Tản Đà đã đa đến cho thi đàn một hơng vị lạ: sự ngang trái của những
tình cảm, ý tởng không chịu khép mình vào khuôn khổ, và sự bộc bạch không
chút dấu diếm mọi tính nết, ngõ ngách trong con ngời mình, nó làm xao
xuyến tâm hồn của cả một thế hệ thanh niên lúc bấy giờ vốn đang thẹn thùng
e ấp, khao khát yêu đơng, khao khát đợc sống mạnh dạn với chính mình, sống
hết mình" [26, 462].
Đặc biệt, Tản Đà đã dựng nên thuyết "thiên lơng" bao gồm lơng tri (tri

kết thúc lời "cung

chiêu" nói một cách tội nghiệp và cảm động: "có tiên sinh ngời ta sẽ thấy rõ
chúng tôi không phải là những quái thai của thời đại, những đứa thất cớc
không có liên lạc gì với quá khứ giống nòi".
Trớc sau nhà thơ đã sáng tạo những bài thơ tràn đầy rung cảm, chứng
tỏ những thành tựu lớn của ông trong sự cố gắng kế thừa những thể cách cổ
truyền, và đi sâu trong các thể loại dân gian. Toàn bộ thi ca của Tản Đà
nhìn chung có lắm vẻ, nhiều màu, phong phú về cả hai mặt chất và lợng đã
13


làm rực rỡ cả một thời biểu dơng sự ôn tập rộng lớn hầu khắp mọi thể loại
cổ truyền.
Không chỉ có những vần thơ đặc sắc, trữ tình mà hơn nữa Tản Đà đã kế
tục truyền thống trào lộng của văn học thông tục, và đã từng sáng tác những
vần thơ hồn nhiên, từ cái cời nhếc mép mỉa mai nhẹ nhàng đến cái cời phóng
thích cay độc khiến cho chúng ta nhớ ngay đến Tú Xơng hoặc bà chúa thơ
nôm - Hồ Xuân Hơng.
Nhiều bài thơ Đờng của ông đều có cái vẻ nhẹ nhàng trong sáng, duyên
dáng, độc đáo của ngữ điệu dân tộc. Bài "Ghẹo ngời vu vơ" đã nói lên điều đó.
Điều mà Hoài Thanh vin vào đó để cho rằng Tản Đà là "ngời của hai thế kỷ".
"Đầu ai sao tóc rối lung tung?
Chắc hẳn vi chng nỗi tởng chồng?
Cậu ấy đi đâu lâu thế nhỉ?
Phòng riêng hay vẫn hãy còn không?
Chẳng về xếp nếp trong buồng cửi
Mà đứng bơ phờ ngọn gió đông?
Muốn nói chuyện chơi không có chuyện.
Kìa đàn con sáo nó sang sông".

Khái niệm giao thời: Là khoảng thời gian chuyển tiếp từ thời kỳ này sang
thời kỳ khác, cái mới cái cũ xen lẫn nhau thờng có mâu thuẫn, xung đột, cha
ổn định.
Khái niệm văn học giao thời do Trần Đình Hợu đề xuất [7, 18] nhằm chỉ
văn học giai đoạn 1900 - 1930 xã hội thực dân nửa phong kiến hình thành qua
một quá trình đấu tranh giữa ta và địch, tranh chấp giữa cái mới và cái cũ. T ơng ứng với quá trình đó là một cuộc cạnh tranh âu - á trong văn học.

15


Cho đến khi kết thúc giai đoạn đấu tranh quân sự và chính trị, một bên
chỉ có một vũ khí là văn học và một bên phải chuyển sang dùng vũ khí văn
học để tiếp tục chinh phục. Trong quá trình đó có những nhân tố đối lập nhau
cùng tác động ảnh hởng đến cảm xúc, suy nghĩ của mọi ngời trong cuộc sống,
ảnh hởng đến sáng tác, quá trình sáng tác "Bên cạnh những nhà nho vẫn tiếp
tục làm thơ, làm phú, ngời nông vẫn tiếp tục ca, vè, hò, hát, nền văn học cũ
vẫn tồn tại khắp nớc, là sự xuất hiện một lớp nhà văn kiểu mới, một nền văn
học có tính chất khác trớc tạo hành một cảnh tợng giao thời giữa hai nền văn
học" [7, 18]. Giai đoạn 1900 - 1930 là giai đoạn có nhiều sự kiện văn học,
nhiều tác giả, tác phẩm đánh dấu giữa hai nền văn học cũ và mới trong giai
đoạn có tính chất giao thời đó.
ở hai địa bàn thành thị và nông thôn có hai nền văn học khác nhau. Bên

cạnh nhà nho là lực lợng sáng tác chủ yếu trớc đây, xuất hiện lực lợng sáng
tác mới: những ngời làm báo, trong đó có những nhà cựu học viết bằng chữ
Hán Dần dần những ngời viết báo chuyển sang viết truyện ngắn, viết kịch,
để đáp ứng sự đòi hỏi của công chúng. Hai lực lợng sáng tác đó khác nhau hẳn
về quan niệm văn học, về mục đích sáng tác, về phơng pháp sáng tác, về tiêu
chuẩn thẩm mỹ.
Giữa hai nền văn học mới và cũ đều có sự cạnh tranh tất nhiên trong cuộc

Nếu các nhà thơ lớn của dân tộc nh Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân
Hơng, Nguyễn Công Trứ đều cố gắng làm cho thơ ca có tính dân tộc, tính nhân
dân bằng cách tiếp thu nghệ thuật dân gian, nhng họ không tránh khỏi hạn chế
trong điều kiện phát triển của thơ ca dân gian nhất là trong truyền thống nghệ
thuật thơ phú, thì Tản Đà may mắn hơn các nhà nho lớp trớc. Giữa hai nguồn
bác học và bình dân thì rõ ràng ở ông nguồn dân ca chiếm u thế. Chính vốn am
hiểu rộng rãi đã làm cho Tản Đà trở thành một nhà thơ dân tộc.
Văn học giai đoạn 1900 - 1930 mang diện mạo của văn học giai đoạn
giao thời ở Việt Nam và Tản Đà là một tác giả tiêu biểu. Tản Đà là nhà nho
nhng không viết văn giống nh các nhà nho lớp trớc. Tản Đà cũng viết tiểu
17


thuyết, viết tuồng, làm thơ nhng Tản Đà cũng không sáng tác nh các văn nghệ
sỹ lớp sau. Trong các tác phẩm của Tản Đà còn nhiều dấu vết của hình thức
trung gian, của những đầu nối giữa văn học Đông và Tây, điều đó đã làm cho
Tản Đà có vị trí đặc biệt trong lịch sử văn học Việt Nam.
Những cố gắng của Tản Đà đã làm giàu cho thơ ca dân tộc, chuẩn bị cả
về mặt nội dung và cả về mặt nghệ thuật cho Thơ mới ra đời. Hoài Thanh và
Hoài Chân mở đầu Thi nhân Việt Nam (1932 - 1941) và Cung chiêu anh hồn
Tản Đà và đã viết những lời xác đáng, nh khắc: " anh em ở đây tuy ngời sau
kẻ trớc, nhng ai nấy đều là con đầu lòng của thế kỷ 20. Trên hội Tao đàn, chỉ
tiên sinh là ngời có hai thế kỷ, tiên sinh sẽ đại biểu cho một lớp ngời để chứng
giám công việc lớp ngời kế tiếp. ở địa vị đó, còn ai xứng đáng hơn tiên sinh".
Tản Đà đã đợc đặt vào một vị trí đặc biệt: nhà thơ đàn anh chứng giám cho
cuộc gặp mặt của hội Tao đàn lớp sau.
Ta thấy trớc thế kỷ XX trong lịch sử văn học Việt Nam có hai dòng văn
chơng rõ rệt: bác học và bình dân.
Văn chơng bác học là văn chơng của nhà nho, từng lớp trí thức tự coi
mình là thần tử của triều đình, kẻ hớng đạo nhân dân, kẻ bảo vệ đạo lý thánh

tợng ngẫu nhiên cá biệt. Có Tản Đà chúng ta sẽ thấy một mạch thơ từ cuối thế
kỷ XVIII đến phong trào Thơ mới. Điều này đã khiến cho Tản Đà trở thành
một hiện tợng tiêu biểu nhất cho lớp nhà văn buổi giao thời.

19


Chơng 2
Một nhà nho tài tử trong xã hội t sản với
"túi thơ đeo khắp ba kỳ"

2.1. Hình ảnh một nhà nho tài tử trong thơ Tản Đà.

2.1.1. Khái niệm nhà nho tài tử và loại hình nhà nho tài tử trong văn
học Việt Nam trung - cận đại.
2.1.1.1. Khái niệm nhà nho tài tử.
Theo Biện Minh Điền [24, 73] nhà thơ tài tử ra đời muộn (từ thế kỷ
XVIII) khi trong xã hội đã xuất hiện những yếu tố mới: đô thị, t tởng, thị dân,
con ngời phát hiện ra mình là một thực thế tồn tại thực sự với những nhu cầu,
khát vọng sống cá nhân nhà nho tài tử, gốc, dĩ nhiên vẫn là nhà nho nhng ngày
càng xa rời những quy phạm chuẩn mực khắt khe giáo điều của đạo lý nho
giáo. Giá trị cao nhất trong quan niệm về con ngời, về nhân sinh đối với họ là
tài (nhất là tài văn chơng nghệ thuật "cầm, kỳ, thi, họa) và tình (đặc biệt là
tình đối với giai nhân).
Tài gắn liền với tình, với sắc, với hởng thụ. Chính họ là lớp nhà nho tạo
nên trào lu nhân đạo độc đáo trong văn học nửa sau thế kỷ XVIII - nửa đầu thế
kỷ XIX.

20


Nguyễn Du ý thức về tài văn chơng và cùng với nó là khả năng sống chết
với tài năng đó.
"Bánh niên cùng tử văn chơng lý
Lục xích phù sinh thiên địa trung
(Cuộc đời trăm năm chết nghèo giữa văn chơng
Tấm thân sáu thớc lênh đênh trong trời đất)
"Mạn hứng" (cảm hứng lan man)"
Cao Bá Quát là ngời thực sự đợc tôn vinh chính chỉ bởi văn chơng. Đơng
thời, ngời ta nói về ông:
"Văn nh Siêu, Quát vô tiền hán
Thi đáo Tùng, tuy thất Thịnh Đờng"
(Văn đến nh (Nguyễn Văn) Siêu và (Cao Bá) Quát thì không còn tiền Hán.
Thơ đạt mức Tùng (Thiện Vơng) Tuy (Lý vơng) thì mất Thịnh Đờng)
Ngời tài tử cậy tài, mơ ớc không chỉ là công danh phú quý mà còn lập
nên sự nghiệp phi thờng "vòng trời đất dọc ngang ngang dọc" (Nguyễn Công
Trứ) "thay con tạo xoay cơn khí số" (Cao Bá Quát), Trong điều kiện của chế
độ chuyên chế, muốn có sự nghiệp tất phải qua con đờng công danh, làm theo
mệnh vua. Dù thị tài, dù kiêu ngạo, ngời tài tử cũng không thể qua mặt đấng
chí tôn để có sự nghiệp phi thờng đợc.
Đối với nhà nho tài tử có khi cả sự nghiệp cũng chỉ là thứ quà cho ngời
đẹp, ấn phong hầu cũng chỉ đẹp lòng ngời đẹp, để có ái khanh. Ngời tài tử tự
thấy mình hơn ngời về tài và đơng nhiên là có tài thì có tật, một cái tật dễ thơng: đa tình. Có tài, họ ớc ao gặp đợc vua hiền để có thể lập nên sự nghiệp. Đa
tình, họ mong có hạnh phúc lớn là gặp đợc ngời đẹp, gặp đợc vua hiền là khó,
nhng gặp đợc ngời đẹp còn khó hơn.

22


Tuy nhiên cho đến cùng, với nhà nho tài tử, sáng tác văn học vẫn cha thể
hiện đợc coi nh một thứ nghề nghiệp đích thực. Đội ngũ sáng tác văn chơng

(Hầu trời)
Nhìn vào ảnh mình Tản Đà tự trào một cách duyên dáng:
"Ngời đâu cũng giống đa tình
Tởng là ai lại là mình với ta"
(Nói chuyện với ảnh)
Nhng Tản Đà không còn sống và cái thời mà với văn chơng nh thế, anh
học trò nghèo bỗng chốc thi đậu trạng nguyên, đẹp duyên cùng công chúa,
làm quan đến tể tớng nh ngời xa có thể mơ ớc. Tản Đà sinh ra và lớn lên
trong lúc nề nếp xã hội t sản đã quy định vận mệnh của con ngời.
Trong cái xã hội đánh giá tất cả bằng cái thớc đo chung là đồng tiền, sắc
đẹp là quý, nhng cũng là một thứ hàng hóa mua bán đợc. Tự do yêu đơng,
cũng nh mọi thứ tự do trong xã hội t sản, là các cửa bỏ ngõ cho đồng tiền có
chỗ ra vào.
Tản Đà tự cho mình có tài, ôm mộng lập sự nghiệp không nhỏ:
"Phận nam nhi tang bồng là chí,
Chữ trợng phu ý khí nhờng ai.
Non sông thề với hai vai,
Quyết đem bút sắt mà mài lòng son.
D đồ rách, nớc non tô lại,
Đồng bào xa, trai gái kêu lên,
Doanh hoàn là cuộc đua chen,
Rồng tiên phải giống ngu hèn mãi ru"
(Xuân sầu)

24


Đó là một sự nghiệp vì dân vì nớc, có đủ màu sắc yêu nớc và duy tân, nhng là một sự nghiệp cá nhân và dựa vào tài văn chơng. Tản Đà không cùng
quẫn nh Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát không kiêu ngạo thị tài, tuy đa tình
nhng cũng không quá khó tính đến mức cố chấp. Cái ngông cuồng của Tản Đà


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status