Thiết kế một số bài giảng về truyện ngắn việt nam trong sách giáo khoa ngữ văn 12 (tập hai bộ cơ bản) - Pdf 33

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƯ PHẠM

BỘ MÔN NGỮ VĂN

LẠI NGỌC ANH

THIẾT KẾ MỘT SỐ BÀI GIẢNG VỀ
TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM TRONG SÁCH GIÁO KHOA
NGỮ VĂN 12 (TẬP HAI- BỘ CƠ BẢN)

Luận văn tốt nghiệp đại học
Ngành Sư phạm Ngữ Văn

Cán bộ hướng dẫn:

NGUYỄN MINH CHÍNH

Cần Thơ, tháng 5 - 2011


LỜI CẢM ƠN
.....

…..

Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy Nguyễn Minh Chính, là cán bộ
hướng dẫn đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài này. Và chân thành cảm
ơn các thầy cô trong Bộ môn Ngữ Văn đã truyền dạy kiến thức, kinh nghiệm cũng như
rèn luyện những kỹ năng cần thiết cho tôi.
Trải qua những tháng ngày học tập ở trường, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi


Học sinh trả lời
Học sinh thảo luận

Học sinh nhận xét


A. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
Cuộc sống luôn vận động không ngừng. Mỗi giờ có biết bao sự đổi thay. Và vì thế,
cái mới sẽ liên tục thay thế cái cũ, cái cũ không đổi mới ngay lập tức trở thành cái lỗi
thời, cái lạc hậu. Điều này đúng với quy luật của cuộc sống, và với nhân loại hôm nay.
Không nằm ngoài xu hướng đó, Việt Nam đã và đang không ngừng đổi mới. Đặc biệt
trong đó sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, thông tin ảnh hưởng rất nhiều
đến các lĩnh vực khác. Là một lĩnh vực được quan tâm hàng đầu, giáo dục và đào tạo cũng
cùng chung yêu cầu cần đổi mới. Trong đó, việc giảng dạy môn Ngữ Văn trong nhà
trường hiện nay có thể được xem là cần thiết áp dụng phương pháp mới.
Công bằng mà nói, không phải môn Ngữ Văn dễ hơn các môn khác, mà chính
phương pháp giảng dạy đã không còn phù hợp. Dẫn đến tình trạng học sinh chán, thờ ơ
với môn này, học qua quýt như để trả nợ cho thầy. Hàng năm, trong các kì thi tốt nghiệp,
đại học, ta lại bắt gặp những bài viết với cách hiểu sai lệch đến dở khóc dở cười. Trước
tình trạng trên, đòi hỏi ngành giáo dục phải đặt ra hướng thay đổi, chuyển mình nếu như
muốn tồn tại và phát triển. Nó cũng cấp bách không kém gì các lĩnh vực khác. Vậy đổi
mới giáo dục là đổi mới cái gì? Để giải bài toán khó này, thủ tướng Phạm Văn Đồng đưa
ra nhận định: “phải suy nghĩ, phải tìm tòi, phải sáng tạo, phải xây dựng một phương pháp
giảng dạy thích hợp, đem lại hiệu quả tốt”. Thủ tướng qua nhận định trên đã nhấn mạnh
vai trò của phương pháp làm việc khoa học, hiệu quả và đúng hướng. Khi đạt được giờ
dạy như vậy, học sinh sẽ yêu thích môn Ngữ Văn hơn. Từ đó, hình thành nhân cách, giáo
dục tư tưởng, tình cảm cho các em. Hướng các em tới cái Chân, Thiện, Mĩ trong cuộc
sống.

đường tìm phương pháp giảng dạy văn chương. Liên tục sau đó, nhiều công trình ra đời.
Đó là quyển: “Mấy vấn đề giảng văn trong trường phổ thông” của Tạ Phong Châu, “Mấy
vấn đề giảng dạy văn học sử cấp III” do Phan Trọng Luận chủ biên. Cuối năm 1960,
nhiều công trình nghiên cứu nâng rõ về chất lượng như: “Con đường nâng cao hiệu quả
dạy Văn” và “Rèn luyện tư duy học sinh qua giảng dạy văn học” của Phan Trọng Luận.


Hay “Dạy Văn – dạy cái hay, cái đẹp” của Nguyễn Duy Bình. Trong những năm gần đây,
với việc thay sách giáo khoa ở trường phổ thông, đã dấy lên phong trào đổi mới phương
pháp mạnh mẽ và hướng đi đầy lạc quan. Nhìn chung, các tác giả đều có những công trình
đóng góp tích cực, hiệu quả. Sau đây, người viết sẽ đi vào tìm hiểu sâu những đánh giá
của các nhà giáo dục về vấn đề này.
Thứ nhất là những bài lý luận nghiên cứu về phương pháp dạy học Văn.
Bàn về cách dạy truyền thống, sau đó chỉ ra những mặt còn hạn chế, dẫn đến tình
trạng môn Văn kém thu hút. Đưa ra giải pháp cho vấn đề trên, nhóm tác giả Phan Trọng
Luận, Trương Dĩnh, Nguyễn Thanh Hùng, Trần Thế Phiệt đã khái quát khá đầy đủ về
thực trạng dạy Văn của ta. “Theo cách nói của Blônki, tức là sự áp đặt hoàn toàn máy
móc ngôn ngữ sách vở gượng gạo của người lớn vào cho các em. Tình trạng trên kéo dài
rất lâu ở nhà trường chúng ta. Các giờ trên lớp học đã tạo ra một kiểu học như thủ tướng
Phạm Văn Đồng nói là “lối múa chữ điệu sáo”. Lối học, lối viết này phản ánh nếp suy
nghĩ sách vở, công thức trong học sinh” [16;Tr.142]. Điều này dẫn đến các em bị gò ép
trong những khuôn khổ nhất định. Không sáng tạo được cái mới, gây trở ngại cho việc thể
hiện tư tưởng, tình cảm, rèn luyện ngôn ngữ của học sinh. Thấy được sự bất cập như vậy,
nhóm tác giả đề ra giải pháp. Nguyên tắc hàng đầu cho sự đổi mới là “làm sao tạo điều
kiện cho học sinh được thực sự sáng tạo, được thực sự bộc lộ mình” [16;Tr.149]. Điều
này nhấn mạnh vai trò của học sinh làm trung tâm, chúng ta sẽ bàn sau. Ở đây, đổi mới về
cách dạy, cách học và cả tài liệu học tập là cần thiết. Các tác giả còn đề cập đến thực
trạng dạy Văn chỉ thiên về nội dung “những nguyên tắc hơn là chỉ dẫn về phương pháp,
biện pháp cụ thể” [16;Tr. 146]. Do đó, tài liệu giảng dạy cũng cần được đổi mới, không
nặng nề về lượng kiến thức mà nên xen vào trong đó nhiều hoạt động khác, hấp dẫn và

cấu tạo giờ dạy đưa đến quan niệm là cách cấu tạo mới về giáo án. Giáo án bao giờ cũng
thể hiện cụ thể quan điểm dạy học, cơ chế lên lớp và cấu tạo giờ dạy. “Một giáo án theo
quan niệm phát huy chủ thể học sinh là một giáo án trong đó có sự kết hợp hài hòa hữu
cơ giữa hoạt động của giáo viên và học sinh trên lớp, là một giáo án trong đó vận dụng
nhiều phương pháp và biện pháp rèn luyện tư duy học sinh” [11;Tr. 14]. Trong quyển
này, tác giả cũng đưa ra phương hướng thiết kế một giờ dạy học tác phẩm văn chương:
“Bản thiết kế giờ học không phải là một đề cương nội dung cần truyền thụ qua lời diễn
giảng của giáo viên” [11;Tr. 62]. Kết cấu giờ dạy học là kết cấu của những tình huống
học tập và hệ thống thao tác tương ứng chứ không phải là việc sắp xếp những việc làm


của giáo viên trên lớp để truyền thụ một phía cho học sinh. Tác giả còn nhận định về tình
hình dạy học môn Ngữ Văn hiện nay. Việc đổi mới phương pháp cần được hoàn thiện
trên cả hai phương diện lý thuyết và thực hành. Lý thuyết cần được hoàn thiện trên cơ sở
hiểu biết khoa học vững chắc về các dữ kiện tâm lý học hoạt động, tâm lý cảm thụ văn
chương, tư tưởng dạy học hiện đại, lý luận tiếp cận văn chương. Thực hành ứng dụng đòi
hỏi mẫu hình thiết kế giờ dạy mới và giờ dạy mẫu để giáo viên tham khảo.
Quan tâm đến chất lượng giáo dục nước ta vốn là nhiệm vụ hàng đầu chung của
mọi người. Bộ Giáo dục đào tạo cũng không nằm ngoài sự quan tâm đó. Hướng đến việc
đầu tư cho giáo dục và đổi mới phương pháp dạy học, Bộ trưởng Bộ Giáo dục – Đào tạo
đã ra phương hướng chỉ đạo từ năm 2006 trong “Chương trình giáo dục THPT” là phải
phát huy tính tích cực, tự giác chủ động sáng tạo của học sinh phù hợp với đặc trưng môn
học. Đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện từng lớp học, bồi dưỡng cho học sinh
phương pháp tự học, khả năng hợp tác. Rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực
tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học
sinh. Làm được điều đó, thực sự giáo dục nước ta đã khẳng định được tầm quan trọng
cũng như thành công trong quá trình đổi mới.
Thứ hai, các tạp chí, kỷ yếu cũng đề cập nhiều về vấn đề này trong những năm
qua.
Tạp chí Giáo dục và thời đại là cơ quan ngôn luận về lĩnh vực giáo dục của Việt

thường xuyên của quá trình dạy học. Và cho người đọc thấy được hiệu quả của phương
pháp dạy học mới mà ở đó học sinh làm trung tâm. Cách học mới này đem lại những hiệu
quả khả quan cho thầy và trò, để từ đó khuyến khích họ tích cực áp dụng dạy theo phương
pháp mới và việc dạy học sẽ ngày một đạt hiệu quả cao hơn.
Trong quyển “Kỷ yếu hội thảo khoa học về đổi mới nội dung và phương pháp dạy
học ở các trường Đại học Sư phạm”, tiến sĩ Nguyễn Văn Lộc và tiến sĩ Phạm Hồng
Quang nhấn mạnh: “Đến thời đại kinh tế tri thức, khi này xã hội đang đòi hỏi chất lượng
của giáo dục phải đáp ứng yêu cầu của xã hội, thậm chí phải đi trước sự phát triển của
kinh tế - xã hội. Trước đòi hỏi này, cách dạy cũ sẽ không còn phù hợp nữa” [25;Tr.28].
Các tác giả đã nhận định được thực trạng cần thay đổi. Đưa ra hướng thay đổi hiện nay
“căn bản là về nguyên tắc chứ không chỉ dừng lại ở việc cải tiến theo kiểu tăng giá hoặc
thêm bớt tùy tiện” [25;Tr. 28]. Tức sự thay đổi phải quyết liệt, thực chất, không phải hình


thức bên ngoài. Có như thế, giáo dục mới thực sự được “lột xác”, mang lại diện mạo
mới, trong đó có môn Ngữ Văn của chúng ta.
Thứ ba, người viết tìm hiểu ở các giáo trình, các sách tham khảo về vấn đề soạn
giáo án
Với giáo trình “Lý luận dạy hoc Ngữ Văn”, nhóm tác giả: thạc sĩ Nguyễn Minh
Chính, tiến sĩ Nguyễn Thị Hồng Nam, thạc sĩ Trần Đình Thích và thạc sĩ Hà Hồng Vân
cùng giáo trình “Lý luận dạy học” của giáo sư Lê Phước Lộc đã đưa ra cơ sở lý thuyết
cho việc dạy học Ngữ Văn. Những phương pháp dạy học mới, tích cực và xu hướng dạy
học hiện đại có thể đạt được kết quả “khuyến khích sự hưởng ứng tích cực trong giờ học”
[9;Tr. 85]. Những kiến thức trên giúp ích nhiều cho việc tổ chức giờ dạy hiệu quả, đặc
biệt là thiết kế giáo án thuận lợi hơn.
Trong chuyên đề: “Tổ chức học hợp tác trong giảng dạy Ngữ Văn”, tiến sĩ Nguyễn
Thị Hồng Nam cho thấy hiệu quả tích cực của hình thức học tập mới: học hợp tác. Tiến sĩ
còn đưa ra những phương pháp để vận dụng thiết kế bài tập mới, sáng tạo làm bài giáo án
sinh động hơn rất nhiều. Mô hình này đã được áp dụng ở nhiều nước tiên tiến trên thế
giới. Áp dụng vào nước ta, tin rằng sẽ đạt hiệu quả cao. “Học hợp tác tạo điều kiện cho

thiết kế giáo án Ngữ Văn 12 nói riêng, giáo án nói chung. Để từ đó, có sự chuẩn bị tốt cho
công tác giảng dạy ở nhà trường sau này. Và mong muốn góp một phần công sức của
mình cho công trình nghiên cứu chung về những đổi mới chương trình của ngành giáo
dục.
Về yêu cầu nghiên cứu, cần nắm vững nội dung, cấu trúc chương trình SGK 12
(Bộ cơ bản). Vận dụng sáng tạo các phương pháp dạy học tích cực vào việc thiết kế một
số bài giảng truyện ngắn SGK 12.

4. Phạm vi nghiên cứu
Với phạm vi nhất định của đề tài, người viết tập trung nghiên cứu chủ yếu ở SGK
Ngữ Văn 12. Ngoài ra, còn tìm hiểu thêm một số tài liệu liên quan vấn đề nghiên cứu.
Theo yêu cầu của đề tài, người viết sẽ thiết kế một số bài giảng về truyện ngắn trong SGK
và thiết kế tuần tự theo phân phối chương trình. Đó là những bài:


-

Vợ nhặt

(2 tiết)

-

Rừng xà nu

(2 tiết)

-

Những đứa con trong gia đình

dục như trò – lớp – thầy trong quá trình dạy học. Và xu hướng dạy học lấy học sinh làm
trung tâm đáp ứng đầy đủ yêu cầu này. Trong xu hướng này, giáo viên chỉ đóng vai trò là
người tổ chức hướng dẫn, theo dõi, khích lệ học sinh trong việc tìm tòi kiến thức. Học
sinh là người chủ động hoàn toàn trong việc giải quyết vấn đề mà giáo viên đặt ra. Hoặc
học sinh cũng có thể tự đưa ra vấn đề và giải quyết vấn đề mình đặt ra thông qua việc
quan sát, suy nghĩ, tra cứu tài liệu, làm thí nghiệm và phán đoán. Đối với xu hướng dạy
học lấy học sinh làm trung tâm thì lớp học không còn là một nhóm học riêng biệt, cá nhân
thụ động tiếp thu kiến thức mà một tập thể có quan hệ chặt chẽ, tác động lẫn nhau. Về
công việc đánh giá, không còn là công việc duy nhất của giáo viên mà đổi mới hơn, đảm
bảo sự khách quan. Đó là tự giáo viên và học sinh đánh giá, học sinh đánh giá lẫn nhau và
cuối cùng giáo viên nhận xét. Kỷ yếu hội thảo khoa học đổi mới nội dung và phương
pháp dạy học ở các trường Đại học Sư phạm – 2004 đề cập: “Khi ta nói đến dạy học lấy
học sinh làm trung tâm tức là đề cao vai trò của người học trong quá trình học tập. Đồng
thời cũng đề cao vai trò định hướng, chủ đạo, dẫn dắt của hoạt động dạy với vai trò,
trách nhiệm ngày càng cao của người thầy” [25;Tr. 29].


Ta hoàn toàn tin tưởng rằng xu hướng dạy học lấy học sinh làm trung tâm sẽ đem
lại giờ học tích cực, hiệu quả. Tạo ra những con người lao động tự chủ, năng động và
sáng tạo. Diện mạo giáo dục ngày càng khởi sắc. Theo xu hướng dạy học lấy học sinh làm
trung tâm, đã có rất nhiều phương pháp dạy học tích cực như: phương pháp dạy học theo
năm định hướng của Mazano, phương pháp dạy học theo hình thức thảo luận nhóm. Đây
là những phương pháp dạy học tích cực, sinh động, đề cao năng lực tự tìm tòi kiến thức
của học sinh.
* Năm định hướng dạy học của Robert J.Mazano
Nhà giáo dục người Mỹ Robert J.Mazano đã đóng góp công trình nghiên cứu quan
trọng trong quá trình phát triển xu hướng học hiện đại. Trong đó, ông đưa ra năm định
hướng dạy học giúp giáo viên có thể thực hiện tốt giờ giảng, nắm vững và vận dụng linh
hoạt các phương pháp tích cực. Đây là nguồn tài liệu quan trọng giáo viên có thể tham
khảo. Năm định hướng đó là:

- Kiến thức quy trình: là loại kiến thức vận dụng như cách giải bài tập, làm thí
nghiệm…
Quá trình thu nhận, tổng hợp kiến thức thông báo và kiến thức quy trình là nền
tảng của quá trình học tập. Giáo viên cần có cách dạy kiến thức thông báo và kiến thức
quy trình thích hợp để đạt hiệu quả tốt nhất.
* Dạy kiến thức thông báo:
- Tìm hiểu vấn đề chính là gì?
- Vấn đề chính gồm những phần cụ thể nào?
- Phương pháp giúp học sinh nắm bắt vấn đề.
* Dạy kiến thức quy trình:
- Những kỹ năng và các bước thực hiện quy trình học sinh cần nắm vững.
- Giáo viên cần làm mẫu cho học sinh và sau đó yêu cầu học sinh làm theo.


Định hướng 3: mở rộng và tinh lọc kiến thức.
Ở cách học cũ, học sinh đa phần ghi nhớ kiến thức một cách máy móc. Cần phải
đổi mới kiểu tư duy này. Do đó, Marzano muốn học sinh tăng khả năng mở rộng và tự
chắt lọc những kiến thức và kỹ năng cần thiết. Nói cách khác, người học phải có năng lực
tư duy sáng tạo để có thể tự học và học suốt đời. Không ngừng đổi mới để thích nghi tốt
hơn với cuộc sống thay đổi hàng ngày.
Có hai cách giúp học sinh:
- Sử dụng các loại câu hỏi: câu hỏi so sánh, câu hỏi quy nạp, câu hỏi diễn dịch,
câu hỏi phân tích lỗi, câu hỏi khái quát hóa và câu hỏi phân tích quan điểm.
- Hướng dẫn học sinh mở rộng và tinh lọc kiến thức bằng các hành động: so
sánh, phân tích, phân loại, quy nạp, suy luận, phân tích lỗi, xây dựng sự ủng hộ, khái quát
hóa và phân tích quan điểm.
Tùy theo từng nội dung bài học mà giáo viên lựa chọn những phương pháp cho
phù hợp.
Định hướng 4: sử dụng kiến thức có hiệu quả.


thêm năng lực sáng tạo và phê phán của học sinh.
Tóm lại, năm định hướng dạy học của Marzano có tầm quan trọng và một vị trí
nhất định trong giảng dạy. Giúp người giáo viên thực hiện tốt việc tổ chức lớp học. Trong
đó, định hướng 1 và 5 là hai định hướng chủ đạo nhất. Tuy nhiên, tùy theo nội dung cụ
thể của từng bài học mà giáo viên có sự lựa chọn định hướng cho phù hợp.

2. Các phương pháp dạy học Ngữ Văn
Trong giảng dạy môn Ngữ Văn, có nhiều phương pháp khác nhau và mỗi phương
pháp đều có những ưu điểm, hạn chế nhất định. Việc lựa chọn những phương pháp phù


hợp đòi hỏi ở người giảng sự cân nhắc kỹ càng. Một giáo án khoa học vốn bị chi phối bởi
nhiều vấn đề như: nội dung, vị trí bài học, lượng thời gian, trình độ học sinh và mục đích
cần đạt được của bài học. Chọn được phương pháp phù hợp cũng như tạo được “linh hồn
của một nội dung đang vận động” . Dưới đây là những phương pháp giảng dạy tích cực,
giáo viên có thể sử dụng trong giờ giảng của mình.

2.1. Phương pháp đọc tác phẩm
Đọc là phương pháp quan trọng trong giờ giảng Văn. Bởi, muốn học về tác phẩm,
trước hết chúng ta phải tiếp nhận văn bản của tác phẩm đó. Việc đọc bao gồm đọc thành
tiếng và không thành tiếng. Thực trạng hiện nay là học sinh “đọc chay” để tránh tốn thời
gian, điều này làm giảm hiệu quả thẩm mĩ của tác phẩm. Ta biết, ngôn ngữ văn học là loại
ngôn ngữ đặc biệt có năm thuộc tính: tính chính xác, tính hàm súc, tính đa nghĩa, tính
biểu cảm và tính tạo hình. Do đó, vận dụng phương pháp dạy học này, giáo viên có thể
rèn luyện cho học sinh có cách nhìn đúng về việc đọc. Từ đó, đọc và hiểu sâu sắc hơn về
các tác phẩm văn chương. Các tác giả kết luận: “Đọc là một hình thức giảng dạy trực
quan tác động đến trí tưởng tượng, cảm xúc của người nghe, làm sống dậy những ngôn từ
chết, làm cho người nghe nhìn thấy cái đã nghe được” [2;Tr. 59]. Thực hiện phương pháp
đọc hiệu quả ta đã tạo được bầu không khí thuận lợi cho việc tiếp nhận tác phẩm, lôi
cuốn, kích thích học sinh khám phá tác phẩm. Học sinh càng nắm vững, sâu hơn nội

- Nhược điểm:
+ Học sinh bị thụ động trong giờ học, không phát huy được tính tích cực.
Nếu giờ giảng lâu, học sinh bị giảm khả năng chú ý, gây mất tập trung.
+ Học sinh dễ trở thành người đứng ngoài tiến trình giờ học. Học sinh có
thể nhớ bài nhưng không lâu, kiến thức nắm không vững.
Để khắc phục những nhược điểm của phương pháp diễn giảng, ta có thể sử dụng
cách diễn giảng tích cực. Phương pháp này ưu thế hơn là “giáo viên không “độc diễn”
mà kết hợp sử dụng các phương pháp sao cho học sinh nắm kiến thức một cách chủ động:
đàm thoại, xen kẽ kể chuyện, cho học sinh làm bài tập thực hành, hướng dẫn học sinh
nghiên cứu SGK” [2;Tr. 63].
Phương pháp này gồm ba bước:


- Bước một: giới thiệu bài mới.
Đây là bước mở đầu, dẫn nhập vấn đề và ảnh hưởng nhiều đến tiết học. Do đó, giới
thiệu bài mới cần trình bày ngắn gọn, kết hợp hình ảnh sinh động. Như thế, tạo tâm lý
thoải mái tiếp thu bài mới cho học sinh. Có nhiều cách giới thiệu bài mới, giáo viên có thể
lựa chọn: giới thiệu trực tiếp nội dung bài học; mở đầu bằng cách gợi lại những kiến thức
về tác giả, tác phẩm; so sánh những tác giả, tác phẩm đã học với tác giả, tác phẩm sẽ học;
đặt câu hỏi về tựa đề tác phẩm …
- Bước hai: hướng dẫn học sinh khám phá kiến thức.
Con đường tư duy của học sinh được hình thành bằng những cách sau:
+ Con đường diễn dịch: mô hình: khái niệm – thí dụ - khái niệm.
+ Con đường quy nạp: mô hình: thí dụ - khái niệm – thí dụ.
Con đường quy nạp có hiệu quả hơn con đường diễn dịch vì diễn dịch mang tính áp đặt,
quy nạp thì giáo viên và học sinh có thể cùng khám phá.
Trong quy nạp và diễn dịch có ba cách thức:
- Quy nạp (hoặc diễn dịch) từng phần.
- Quy nạp (hoặc diễn dịch) phát triển.
- Quy nạp (hoặc diễn dịch) song song, đối chiếu.

+ Câu hỏi phải có tính gợi mở, tránh đánh đố học sinh.
- Về hình thức: Câu hỏi ngắn gọn, rõ ràng, phù hợp với trình độ từng đối tượng
học sinh.
Phương pháp đàm thoại cũng có những ưu – khuyết điểm riêng.
- Ưu điểm:
+ Phát huy được năng lực làm việc độc lập, óc tìm tòi, suy nghĩ của học
sinh.
+ Qua câu trả lời, giáo viên biết được mức độ hiểu bài của học sinh, từ đó
có sự điều chỉnh hợp lý.
+ Tạo bầu không khí tâm tình, trao đổi thảo luận thân mật để thoải mái cho
học sinh .
- Nhược điểm:
+ Giáo viên phải có kinh nghiệm, khả năng điều khiển lớp. Luôn sẵn sàng
trả lời câu hỏi cho học sinh.


+ Giáo viên mất thời gian cho việc soạn giáo án.
+ Mức độ sử dụng phương pháp đàm thoại phụ thuộc vào những yếu tố:
* Dung lượng bài học.
* Trình độ của học sinh.
+ Khi nêu câu hỏi trong đàm thoại cần chú ý:
* Nhắc lại câu hỏi. Nếu học sinh lúng túng, giáo viên hỏi lại nội dung
câu hỏi đó bằng câu hỏi khác.
* Nêu câu hỏi trước khi học sinh trả lời.
* Dành thời gian cho học sinh suy nghĩ.
* Động viên, khuyến khích học sinh bằng những lời khen hoặc cho điểm
thưởng. Không chê bai, dè bỉu học sinh khi trả lời sai.
Sử dụng phương pháp đàm thoại trong giờ giảng Văn:
+ Đặc trưng của môn Văn nói chung và giảng Văn nói riêng là có tính hình
tượng. Cộng với ngôn ngữ mang tính hàm ẩn nên việc cảm thụ tác phẩm không phải dễ

của vấn đề.
+ Sơ đồ: dùng để giúp học sinh có cái nhìn tổng quát về vấn đề, nắm được
cấu trúc bên trong của vấn đề.
+ Biểu đồ mạng: giúp học sinh nhận biết mối quan hệ giữa các ý chính, ý
phụ trong một vấn đề.
+ Biểu đồ mắc xích: dùng để giúp học sinh hệ thống lại các bước.
Sử dụng mô hình:
+ Mô hình thường sử dụng trong giờ ngữ pháp. Các yêu cầu đổi mới mô
hình ngữ pháp là: tính khái quát, tính nhất quán, tính thay thế tối đa.
Lưu ý: giáo viên có thể cho học sinh chuẩn bị biểu bảng, sơ đồ ở nhà hoặc
làm khi học xong một chương, một phần kiến thức. Phương pháp trực quan phải được sử
dụng kết hợp với các phương pháp khác.


2.5. Dạy học nêu vấn đề
Dạy học nêu vấn đề là “hình thức dạy học trong đó giáo viên tổ chức những tình
huống có vấn đề, giúp người học nhận thức nó, và tìm kiếm lời giải dưới sự hướng dẫn
của giáo viên” [2;Tr. 82].
Dạy học nêu vấn đề có ba đặc trưng:
- Đặc trưng thứ nhất: vấn đề là tình huống có vấn đề.
+ Vấn đề là “một sự việc, một hiện tượng, một khái niệm, một hiện trạng
tồn tại khách quan mà ta gặp phải trong tư duy và hành động” [Tr. 82].
+ Tình huống có vấn đề là “một trạng thái tâm lý nảy sinh ở chủ thể trong
khi gặp một khó khăn, một vấn đề cần giải quyết và để giải quyết vấn đề đó chủ thể cần
đến tri thức mới, cách thức hành động mới” [2;Tr. 82].
- Đặc trưng thứ hai: quá trình dạy học nêu vấn đề có năm giai đoạn.
+ Tìm hiểu vấn đề.
+ Xác định những vấn đề cần giải quyết.
+ Đưa ra những giả thiết khác nhau để giải quyết vấn đề.
+ Xem xét những hệ quả của từng giả thuyết dưới ánh sáng của những kinh

- Mỗi thành viên trong nhóm phải được phân công rõ ràng, phải hợp tác để
hoàn thành nhiệm vụ chung của mỗi nhóm.
- Không nên lạm dụng thảo luận nhóm quá nhiều cho một tiết học. Chỉ cho học
sinh thảo luận những phần trọng tâm, phức tạp.
Loại hình nhóm: có hai loại hình nhóm cơ bản là cố định và không cố định.
- Nhóm cố định là “loại hình nhóm hoạt động cùng nhau trong suốt một thời
gian từ một tuần tới vài tuần lễ thậm chí là một học kì. Có nhiệm vụ thực hiện một bài tập
lớn, phức tạp, mang tính nghiên cứu” [17Tr. 10].
- Nhóm không cố định là “loại hình nhóm gồm những học sinh cùng nhau làm
việc từ vài phút đến một tiết học và có thể được thành lập nhiều lần trong một giờ học”
[17;Tr. 11]. Có nhiều loại hình nhóm: nhóm 2 học sinh; nhóm 4, 5 học sinh; nhóm ghép;
nhóm kim tự tháp và nhóm trà trộn.
Những yêu cầu của bài tập thảo luận:
- Về nội dung:



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status