thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở miền đông nam bộ - Pdf 33

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

CAO VĂN TIẾN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. Hồ Chí Minh – Năm 2000


MỤC LỤC
Trang
1

MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1 : LUẬN CỨ KHOA HỌC VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ

4

TRANG TRẠI TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP
HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA.
1.

Sự phát triển của kinh tế trang trại tại các nước công nghiệp phát

4

triển
1.1. Sự phát triển kinh tế trang trại tại các nước công nghiệp phát


MIỀN ĐÔNG NAM BỘ.
1

Tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội ở miền Đông

17

Nam bộ ảnh hưởng đến việc phát triển kinh tế trang trại
1.1. Vò trí đòa lý

17

1.2. Điều kiện tự nhiên

17

1.3. Điều kiện kinh tế – xã hội

19

-------------------------------------------------------------------------------------------------------Trang 1


2.

Sự hình thành kinh tế trang trại ở miền Đông Nam bộ

20

3.


34

4.3. Trang trại và các chủ trương, chính sách của nhà nước

35

4.4. Kết quả sản xuất kinh doanh với các yếu tố sản xuất của các

36

4.

trang trại ở ĐNB
38

CHƯƠNG 3 : GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI Ở
CÁC TỈNH ĐÔNG NAM BỘ
1.
2.
3.

38

Quan điểm đònh hướng phát triển

39

Mục tiêu đònh hướng phát triển kinh tế trang trại



vệ môi trường
46

Giải pháp 7 : Mở rộng thò trường

48

Giải pháp 8 : Qui hoạch đất đai và hạn điền
4.

49

Kiến nghò

49

4.1. Đối với Nhà nước

52

4.2. Đối với trang trại

53

KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

-------------------------------------------------------------------------------------------------------Trang 3

trang trại ở ĐNB.
3. Bố cục của luận án :
Bố cục của luận án gồm các phần chính sau:
• Mở đầu :
• Chương 1: Luận cứ khoa học về phát triển kinh tế trang trại trong
quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa ở Việt nam.
• Chương 2 : Thực trạng kinh tế trang trại ở miền Đông Nam bộ.

-------------------------------------------------------------------------------------------------------Trang 4


• Chương 3 : Các giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở miền
ĐNB.
Kết luận và kiến nghò
4. Đòa bàn và giới hạn nghiên cứu :
4.1/ Về đòa bàn nghiên cứu :
¾ Các tỉnh trọng điểm của miền ĐNB cụ thể là Bình Dương, Bình
Phước, Đồng Nai và Bà ròa Vũng Tàu.
¾ Các đòa bàn phụ điểm là TPHCM, Tây ninh và Long an (nghiên
cứu đối chiếu).
4.2/ Về giới hạn nghiên cứu :
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu là các trang trại sản xuất hàng hóa có
qui mô sản xuất (khối lượng sản phẩm, vốn, lao động thuê mướn, tư liệu sản
xuất, diện tích đất canh tác, tổng giá trò sản phẩm hàng hóa và tỷ suất hàng
hóa .…) lớn hơn mức bình quân chung của kinh tế hộ ở đòa phương.
5. Phương pháp nghiên cứu :
¾ Phương pháp nghiên cứu chung của luận án là phương pháp duy
vật biện chứng và lòch sử.
¾ Luận án vận dụng các quan điểm, chủ trương, đường lối chính
sách của Đảng và Nhà nước về phát triển nông nghiệp và nông

công nghiệp đã làm tăng nhu cầu nông sản. Nhưng trình độ kỹ thuật nông
nghiệp còn lạc hậu không cho phép tăng nhanh sản lượng nông nghiệp nên giá
thuê nhân công rẻ. Chính do giá cả nông sản tăng và giá nhân công rẻ đã thúc
đẩy sự phát triển trang trại lớn. Các trang trại lớn chiếm ưu thế, sản xuất có lãi
cao. Khi phát triển được máy nông nghiệp và phân hoá học đã thúc đẩy và tăng
sản lượng nông nghiệp nên giá nông sản có xu hướng giảm dần. Sự phát triển
mạnh công nghiệp cùng với việc tăng nhanh năng suất lao động trong nông
nghiệp đã nâng cao giá trò lao động. Đồng thời, việc di dân sang Châu Mỹ và
Châu Úc đã làm cho giá thuê lao động tăng nhanh. Tình hình này làm mất dần
ưu thế của trang trại lớn.
Cuối thế kỷ XIX ở các nước Tây Âu có xu hướng tăng số trang trại nhỏ.
Cuối thế kỷ XIX ở Châu Âu xảy ra cuộc khủng hoảng nông nghiệp do giá nông
sản hạ vì giá nhập nông sản của các nước Châu Mỹ hạ. Chính trong điều kiện
này trang trại gia đình phát huy được ưu thế của nó.
Vậy công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp hóa nông nghiệp (phân bón, máy
nông nghiệp) có vai trò quyết đònh đối với sự phát triển kinh tế gia đình. Sự tác

-------------------------------------------------------------------------------------------------------Trang 6


động đó thông qua hai yếu tố: giá nông sản và giá nhân công trong nông
nghiệp.
Bảng 1 : Số trang trại và lao động nông nghiệp của một số nước Châu u.
Anh

1950

1960

1970

6.125
10
1949
2.051
11
4.853
25
1950
349
7
621
32

467
41
967
52
1970
1.588
19
4.327
9
1960
1.709
10
5.407
8
1959
308
9

12
1985
983
15
1.190
1987
128
16
235
16

Tăng, giảm %
/năm
-2,1
1,8
-1,5
- 1,4
-2,8
2,4
-4,5
-4,0
-2,1
0,9
-4,5
-10,4
-2,7
2,2
-2,7
-2,7


Sự phát triển của kinh tế trang trại ở Châu Á có nhiều hình thức khác nhau, phụ
thuộc vào khả năng thu hút lao động ra khỏi nông nghiệp, khả năng khai thác
đất mới và khả năng thuê ruộng. Các hình thức phát triển kinh tế trang trại ở
Châu Á có đặc trưng ở hai nhóm nước :
Dạng 1 : Các nước công nghiệp mới và Nhật Bản.
Dạng 2 : Các nước Đông Nam Á và Trung Quốc.
1.3.1. Sự phát triển của kinh tế trang trại ở các nước công nghiệp mới và
Nhật Bản.
Các nước này ít dân (trừ Nhật), khi lao động nông nghiệp bắt đầu giảm thì quy
mô trang trại có tăng lên, song mức tăng không lớn. Các trang trại ở đây nhờ sự
tác động của công nghiệp đã đẩy mạnh thâm canh và nông dân tăng thu nhập
bằng cách tham gia các hoạt động phi nông nghiệp, chủ yếu là làm công nhân
ở các xí nghiệp công nghiệp hay nhận gia công ở nhà. Các trang trại ở các nước
này phát triển cơ giới nhỏ hay thuê người làm canh tác bằng máy để họ có thời
gian làm việc khác.
Khi đã thực hiện được công nghiệp hóa nền kinh tế, thì nông nghiệp ở các nước
này có được sự hỗ trợ mạnh mẽ của công nghiệp để phát triển và các trang trại
nhỏ của họ không bò phá sản mà vẫn tiếp tục tồn tại theo hướng chuyển đổi cơ
cấu sản xuất và hiện đại hóa hoạt động của mình. Họ tìm cách tăng thu nhập
bằng cách sản xuất các sản phẩm cao cấp cho người thành thò, các sản phẩm ít
-------------------------------------------------------------------------------------------------------Trang 8


rủi ro hơn, tìm nguồn thu nhập phi nông nghiệp để bù cho thu nhập nông
nghiệp ít ỏi.
Bảng 2 : Số trang trại và số lao động của các nước công nghiệp mới và
Nhật Bản
Nhật Bản

1950

4.661
1,1
6.927

3.691
1,38
3.508

0,3
1970
916
0,83
1.559

Tăng, giảm
% /năm
-1,2
1,3
-3,8
- 8,6

1988
739
1,21
1.112

-0.02
0,2
-1,0


động tăng lên từ nông nghiệp và do khả năng mở rộng diện tích có hạn nên
phần lớn quy mô trang trại ở các nước này giảm dần. Trong giai đoạn này, các
nước phải đảm bảo đủ lương thực nên thường thâm canh, tăng vụ cao độ diện
-------------------------------------------------------------------------------------------------------Trang 9


tích trồng lương thực. Cũng cần thấy rằng khó khăn lớn của các nước đông dân
vào thời kỳ đầu công nghiệp hóa là tốc độ rút lao động ra khỏi nông nghiệp
thấp hơn tốc độ tăng lao động nông nghiệp. Để giải quyết tình trạng này, nông
dân phải đầu tư thêm lao động (thâm dụng lao động), áp dụng kỹ thuật “thay
thế đất đai”. Mặt khác, các trang trại đa dạng hóa sản xuất, phát triển nghề phi
nông nghiệp để giải quyết việc làm và tăng thu nhập. Thực tiễn tại các nước
này cho thấy nếu phát triển đúng thì lương thực đầu người vẫn có thể tăng và
đời sống nông dân vẫn được cải thiện. Điều này thể hiện rõ ở Trung Quốc từ
1978 đến nay. Năm 1978, Trung Quốc tiến hành cải cách nông nghiệp-nông
thôn, với trọng tâm là đổi mới các hình thức tổ chức kinh tế. Từ những năm
1980-1981 Trung Quốc thực hiện hình thức “khoán hộ”. Việc chuyển từ hình
thức công xã nhân dân, một mô hình sai lầm đã làm cho nông dân nông nghiệp
Trung Quốc phải chòu những hậu quả nặng nề - sang hình thức khoán hộ đã
đóng vai trò chủ yếu trong sự hồi sinh của nền kinh tế nông nghiệp Trung
Quốc.
Trung Quốc giải thể công xã, giao khoán dài hạn cho 150 triệu nông hộ. Kinh
tế nông nghiệp lúc này được tổ chức sản xuất theo từng hộ gia đình và phát
triển các hợp tác xã dòch vụ phục vụ nông hộ như các hộ góp vốn mua máy
cày, lập cơ sở sản xuất, dòch vụ. sản xuất và đời sống. Cải cách kinh tế nông
nghiệp Trung Quốc đã tăng tính tự chủ về kinh tế và trách nhiệm của nông dân
đối với kết quả sản xuất. Hiện nay, trong nông thôn Trung Quốc đã phát triển
các hình thức hộ chuyên thuộc các lónh vực khác nhau. Nhờ cải cách, nông
nghiệp Trung Quốc đã đạt những kết quả to lớn. Trong giai đoạn 1979-1984
tổng sản phẩm nông nghiệp tăng 9,5%/năm, sản lượng lương thực từ 394,8 triệu

(1.000)
Philippin
Số trang trại (1.000)
Diện tích bình quân (ha)
Lao động nông nghiệp
(1.000)
Indonésia
Số trang trại (1.000)
Diện tích bình quân (ha)
Lao động nông nghiệp
(1.000)

1963

1978

1982

1988

3.214
0,35
11.871

4.018
3,72
15.974

4.464
3,56

2,62
9.076

2,3
-0,9
1,3

1963
744
1,19
28.551

1973
1983
808
916
1,14
0,95
30.823 33.016

2,1
-1,1
0,7

(Nguồn : Theo GS Đào Thế Tuấn – Viện Khoa học nông nghiệp Việt Nam – 1997).
-------------------------------------------------------------------------------------------------------Trang 11


• Từ kinh nghiệm thực tế ở các nước phát triển và đang phát triển về kinh tế
trang trại có thể rút ra những bài học sau :

nghiệp, dòch vụ. Sản phẩm làm ra gia đình được quyền sử dụng và
bán ở nơi có lợi”
-------------------------------------------------------------------------------------------------------Trang 12


-

-

-

-

-

Với Bộ luật dân sự Việt Nam hiện hành, quyền và nghóa vụ của kinh
tế hộ được tìm thấy tại các quy đònh của mục 1 chương 4 từ Điều 116
đến Điều 119. Các điểm cụ thể được luật quy đònh là :
+ Hộ - gia đình là chủ thể trong các quan hệ dân sự về đất ở và đất
sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp giao cho hộ (Điều 116).
+ Giao dòch dân sự do người đại diện của hộ – gia đình xác lập thực
hiện vì lợi ích của hộ làm phát sinh quyền, nghóa vụ của hộ gia đình
(Điều 117).
+ Quyền sử dụng đất hợp pháp của hộ – gia đình là tài sản chung của
hộ(Điều 118)
+ Hộ – gia đình chòu trách nhiệm dân sự bằng tài sản chung của hộ
(Điều 119).
Với Luật đất đai sửa đổi năm 1993, người sử dụng đất là các nông hộ
có năm quyền : chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế
chấp quyền sử dụng đất (Điều 3). Nhà nước khuyến khích người sử

khai thác đồi núi trọc, bãi bồi ven biển … ; xây dựng các nông – lâm
– ngư trại với quy mô thích hợp.
Nghò quyết Trung ương VI lần 1 (Khóa VIII) nêu rõ : Nhà nước
khuyến khích phát triển trang trại gia đình trong nông thôn Việt Nam.
Nghò quyết 06 của Bộ Chính trò ngày 10/11/98 (Khóa VIII) nhận đònh
: “Ở nông thôn Việt Nam hiện nay đang phát triển những mô hình
trang trại nông nghiệp, phổ biến là trang trại gia đình, thực chất là
các hộ sản xuất hàng hóa với quy mô lớn hơn, sử dụng lao động, tiền
vốn của gia đình là chủ yếu để sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Một
bộ phận trang trại ngoài lao động của gia đình, có thuê lao động để
sản xuất, kinh doanh quy mô diện tích đất canh tác xoay quanh mức
hạn điền ở từng vùng theo quy đònh của pháp luật”
Nghò quyết số 03/ 2000/NQ – CP, ngày 2/2/2000 của Chính phủ về
Kinh tế trang trại ở Việt Nam : khuyến khích phát triển kinh tế trang
trại (thực chất là kinh tế trang trại gia đình) ở Việt Nam.

Như vậy, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với kinh tế trang trại như trên
đã tạo cơ sở pháp lý cho sự hình thành và phát triển kinh tế trang trại. Đó là
một nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển của nông nghiệp và kinh tế nông
thôn nước ta theo hướng công nghiêp hóa hiện đại hóa.
2.2. Quá trình phát triển :
Với những tiêu chí đònh lượng còn khác nhau, nhưng các đòa phương đã bước
đầu thống kê được số hộ sản xuất hàng hóa theo mô hình trang trại.
Cho đến nay có khoảng 115.000 trang trại tùy theo điều kiện, đặc điểm và
hoàn cảnh cụ thể ở từng vùng, quy mô trang trại từ vài ha đến vài trăm ha, đặc
biệt có nơi vài ngàn ha. Cách tổ chức sản xuất, kinh doanh và quản lý lao động
ở đây đã mang tính chất làm ăn lớn, sản xuất hàng hóa. Nhưng dù với quy mô
nào, kinh tế trang trại đã mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao : tăng thu
nhập cho gia đình, giải quyết việc làm cho bộ phận lao động khá lớn ở nông
thôn, góp phần làm tăng thêm của cải xã hội và làm thay đổi bộ mặt nông

6 đến 10 ha chiếm 47,6%, quy mô từ trên 30 ha chiếm 8%. Với quy
mô 6 – 10 ha, mỗi trang trại thuê 8 – 10 lao động thường xuyên và 25
– 30 lao động thời vụ; lượng vốn tối thiểu 80 – 100 triệu đồng.
Vùng khu IV cũ, các trang trại ở tỉnh Nghệ An có quy mô 1 – 3 ha
đất nông nghiệp, chủ yếu ở vùng gò đồi chiếm 68%, còn lại 32% là
các trang trại có quy mô trên 5 ha đất lâm nghiệp. Với quy mô trên,
hầu hết các trang trại không phải thuê mướn lao động thường xuyên,
thưòng là thuê mướn lao động thời vụ; lượng vốn tối thiểu để trồng
cây lâm nghiệp 15 – 50 triệu đồng, để nuôi tôm cua vùng ven biển
cần đầu tư lớn hơn, khoảng 50 – 100 triệu đồng.
Vùng duyên hải miền Trung, các trang trại của tỉnh Ninh Thuận phần
lớn là chăn nuôi gia súc (bò, dê, cừu) với quy mô đàn 100 – 1000 con
gia súc và sử dụng 10 – 100 ha đồng cỏ tự nhiên. Chủ trang trại thuê
mướn lao động thường xuyên 2 – 20 lao động, đầu tư vốn 800 triệu –
1 tỷ đồng. Ninh Thuận còn có 83 trang trại nuôi tôm với quy mô diện
tích 1 – 11 ha, ngoài sử dụng lao động gia đình có thuê mướn thường
xuyên 1 – 20 lao động, vốn sản xuất kinh doanh từ 80 – 1.100 triệu
đồng.
Vùng Tây nguyên, các trang trại của tỉnh Kontum có quy mô 2 – 5
ha, chiếm 84%, còn lại 16% có quy mô 6 – 30 ha, mỗi trang trại thuê
mướn lao động thường xuyên phổ biến 3 – 5 người, thuê mướn thời
vụ 30 – 50 lao động, vốn sản xuất kinh doanh từ 60 – 150 triệu đồng
chủ yếu trồng cà phê và cao su.
Miền ĐNB, các trang trại của tỉnh Bình Phước phổ biến có quy mô 5
– 10 ha, chiếm 85%, còn lại 15% có quy mô 11 – 100 ha, cá biệt có
hộ 450 ha. Mỗi trang trại thường thuê mướn 3 – 10 lao động thường
xuyên, 30 – 100 lao động thời vụ. Trồng cao su, cà phê thông thường

-------------------------------------------------------------------------------------------------------Trang 15


thông nông thôn, thông tin liên lạc, điện …).

-------------------------------------------------------------------------------------------------------Trang 16


• Tóm lược những đặc điểm chủ yếu của kinh tế trang trại ở nước ta hiện
nay:
Bảng 4 : Đặc điểm trang trại ở Việt nam.
1. Tính chất
sản xuất

-

2.Chủ
trại

trang

-

3. Lao động
trong trang
trại

-

4. Khai thác
và sử dụng
đất đai
5. Quy mô

Hiệu quả trên đất đai cao.

-------------------------------------------------------------------------------------------------------Trang 17


CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG KINH TẾ TRANG TRẠI
Ở MIỀN ĐÔNG NAM BỘ.
1. TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ – XÃ HỘI CỦA
MIỀN ĐNB ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG
TRẠI.
1.1. Vò trí đòa lý :
Đông Nam Bộ có diện tích 23.480,8 km2, dân số 10.162.275 người. Mật độ dân
cư 432,8 người/km2, tăng 3,4% năm (giai đoạn 1994 – 1998).
Có tài liệu cho rằng ĐNB còn bao gồm cả Ninh Thuận, Bình Thuận, song các
văn bản chính thức hiện có xác nhận hiện nay ĐNB nằm trên đòa giới hành
chính của 6 tỉnh, thành phố : TPHCM, Bình Dương, Bình Phước, Bà ròa Vũng
tàu, Đồng Nai và Tây Ninh.
Đông Nam Bộ là phần lãnh thổ cửa ngõ của Việt nam nối liền với các nước
Asean và là chiếc cầu nối giữa Đồng Bằng Sông Cửu Long – vùng lương thực,
thực phẩm quan trọng nhất của đất nước.
Với vò trí đặc biệt quan trọng về kinh tế – xã hội, an ninh – quốc phòng, ĐNB
được chú trọng đầu tư khai thác lâu đời và ở đây hình thành vùng kinh tế trọng
điểm của các tỉnh phía Nam đóng góp tích cực cho sự phát triển nông nghiệp
nông thôn..
1.2. Điều kiện tự nhiên :
Đông Nam bộ nằm trên vùng châu thổ thấp và bằng phẳng của sông Đồng Nai
và vùng đồng bằng cổ, bình nguyên với đòa hình lượn sóng (80% diện tích của
phần đất này có độ dốc dưới 15%).

20%, diện tích rừng là đất trống với cây bụi hoang dại trên 1 triệu ha.
Động vật bao gồm các loài gia súc, gia cầm, thủy sản và động vật rừng ở ĐNB
rất phong phú, đa dạng, trong đó có nhiều giống loài có qui mô lớn (heo, bò,
gà, vòt, cá, tôm…) và có những giống loài q hiếm như : tê giác, voi và các loài
chim. Song do môi trường sinh sống bò thu hẹp và ô nhiễm do việc khai thác
bừa bãi nên một số loài động vật đã suy giảm, có loài đang đứng trước nguy cơ
tuyệt chủng.
Nhận xét :
Thiên nhiên đã ưu ái ban cho vùng ĐNB những điều kiện thuận lợi để phát
triển một nền nông nghiệp sinh thái đa dạng. Đặc điểm này tạo cho nông
nghiệp nông thôn ĐNB có lợi thế so sánh cao trong tổ chức sản xuất hàng hóa.
Mặt khác, việc khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên của con người đã làm
thay đổi lớn điều kiện tự nhiên ở đây, trong đó đáng ngại nhất là làm suy thoái
môi trường tự nhiên.
1.3. Điều kiện kinh tế – xã hội :
Đông Nam bộ có vò trí quan trọng trong nông nghiệp nông thôn cả nước. Với
14,74% diện tích đất nông nghiệp, 6,22% nhân khẩu và 6,19% lao động nông
nghiệp sống trong 660 hộ (6%) (số liệu 1998 – Tổng cục thống kê) so với cả
-------------------------------------------------------------------------------------------------------Trang 19


nước, ĐNB đóng góp 10,36% giá trò sản xuất nông nghiệp. Đông Nam Bộ có
những nông sản chiếm vò trí độc tôn như sản lượng cao su chiếm 86,38% sản
lượng cả nước, điều chiếm 74,11% sản lượng cả nước và nhiều loại nông sản
chiếm vò trí quan trọng như dừa (chiếm 49,19% sản lượng cả nước), chè
(38,78%), thuốc lá (34,70%) và lạc (30,67%) (tính bình quân giai đoạn 1995 –
1999). Điều đó khẳng đònh ĐNB là vùng cây công nghiệp mạnh của cả nước.
Nông nghiệp, nông thôn ĐNB có mức độ công nghiệp hóa cao nhất nước. Theo
số liệu điều tra của tổng cục thống kê về tình hình cơ bản và cơ sở hạ tầng
nông thôn với 10 chỉ tiêu cơ bản thì ĐNB có đến 7 chỉ tiêu cao hơn mức bình


110.92

143.38

3/ Tỷ lệ xã có trạm xá

97.8

93.2

98.7

104.94

99.09

4/ Tỷ lệ xã có trường cấp I

100.0

99.8

99.8

100.20

100.20

5/ Tỷ lệ xã có trường cấp II


138.56

106.22

8/ Tỷ lệ xã có lớp mẫu giáo

82.5

76.8

72.7

107.42

113.48

9/ Tỷ lệ xã có nhà trẻ

27.6

33.6

4.5

82.14

613.33

10/ Tỷ lệ xã có trạm biến

nông hộ nhờ vào các lợi thế tự nhiên của vùng ĐNB đó là đất đai cò rộng và
có nhiều thuận lợi cho sự phát triển các cây trồng có giá trò kinh tế cao. Nhờ
lợi thế này ĐNB thu hút lao động và vốn của các trung tâm công nghiệp
trong nước và nước ngoài tạo ra thò trường năng động thúc đẩy sản xuất hàng
hóa nhanh hơn các vùng kinh tế khác của đất nước.
Kinh tế trang trại ở ĐNB ra đời trong sự tác động tích cực của công
nghiệp và dòch vụ của TPHCM, Biên Hòa, Vũng Tàu.
Trang trại

Hộ phi nông nghiệp
sản xuất hàng hóa

CHUYÊN MÔN

HÓA HÓA hóa

HỘ
DÂN

NÔNG
SẢN
Hộ phi nông
nghiệp giản đơn

ĐA DẠNG HÓA
HỘ
NÔNG
DÂN
SX
GIẢN ĐƠN

đó lao động thuê thời vụ quy đổi đạt gần 32 lao động / năm. Mức đầu tư bình
quân / trang trại là 123 triệu (thấp nhất so các loại hình khác). Mức đầu tư
này tính trên 1 lao động là 3 triệu và tính trên một ha đất sử dụng là 15 triệu.
39% hộ có vay ngân hàng với mức vay bình quân là 40 triệu.
2/ Loại hình sản xuất cây dài ngày : chiếm 74,92% trang trại, thu hút 69,50%
diện tích , 75% trang trại hình thành trước 1995. Nông dân vẫn là thành phần
chính làm chủ các trang trại (52,90%), bên cạnh đó ở mô hình sản xuất này
thành phần CB-CNV làm chủ trang trại chiếm tỷ lệ đáng kể 23,62%, có
24,7% chủ trang trại là nữ, 24,69% chủ trang trại là đảng viên. Tỷ lệ chủ
trang trại chưa qua trường lớp cũng gần ngang bằng với cây hàng năm
(66,3%). Số hộ chủ trang trại trực tiếp quản lý 84,75% (628/741 hộ). Quy mô
diện tích bình quân là 10,93 ha (bằng 92% so mức bình quân chung), diện tích
đất đã có quyền sử dụng đạt 67,17% diện tích đất hiện sử dụng . Mức bình
-------------------------------------------------------------------------------------------------------Trang 22


quân lao động sử dụng / năm đạt 22 lao động trong đó lao động thuê thời vụ
quy đổi đạt 19 lao động / năm. Mức đầu tư bình quân / trang trại là 186 triệu.
Mức đầu tư này tính trên 1 lao động là 8 triệu và tính trên một ha đất sử dụng
là 17 triệu. 31% hộ có vay ngân hàng với mức vay bình quân là 54 triệu. Các
trang trại ở ĐNB chủ yếu là trồng cây lâu năm (cây công nghiệp, cây ăn trái
và trồng rừng). Trang trại ĐNB kết hợp trồng cây lâu năm với cây hàng năm
tương đối nhiều.
3/ Loại hình sản xuất cây ăn quả : chiếm 12,74% trang trại, thu hút 10,06%
diện tích , 19,05% trang trại hình thành trước 1995. Nông dân vẫn chiếm tỷ lệ
cao nhất là chủ các trang trại (47,62%), bên cạnh đó tỷ lệ cán bộ hưu trí tham
gia hoạt động ở mô hình sản xuất này cũng chiếm tỷ lệ đáng kể 26,98%. Nữ
làm chủ trang trại cũng chiếm tỷ lệ cao nhất ở mô hình này 30,16%; 30,16%
cũng là tỷ lệ chủ trang trại là đảng viên. Tỷ lệ chủ trang trại chưa qua trường
lớp là 50,8%. Tuy vậy ở mô hình này có 45,2% chủ trang trại có trình độ trung

trực tiếp quản lý chiếm tỷ lệ cao như trong chăn nuôi 100% (5/5 hộ). Quy mô
diện tích bình quân là 6,73ha, diện tích đất đã có quyền sử dụng chỉ đạt
40,58% diện tích đất hiện sử dụng . Có 2 trang trại thủy sản chăn nuôi heo với
quy mô khá lớn, bình quân 325 con. Mức bình quân lao động sử dụng / năm
đạt 11 lao động với 9 lao động thường xuyên. Mức đầu tư bình quân / trang
trại là 1240 triệu. Mức đầu tư này tính trên 1 lao động là 113 triệu. Mức đầu
tư này tính trên 1 ha đất sử dụng 184 triệu. 40% hộ có vay ngân hàng với mức
vay bình quân là 125 triệu.
6/ Loại hình sản xuất lâm nghiệp : chiếm 1,01% trang trại, thu hút 4,48%
diện tích, 30% trang trại hình thành trước 1995. Nông dân là chủ trang trại
10%, tư nhân 70%, CB-CNV 20%. Nữ làm chủ trang trại chiếm 10%; chủ
trang trại là đảng viên 20%. Chủ trang trại chưa qua trường lớp 50%ù, 50%
trình độ trung cấp và đại học. Số hộ chủ trang trại trực tiếp quản lý chiếm tỷ
lệ khá cao 90% (9/10 hộ). Quy mô diện tích bình quân là 52,26ha, diện tích
đất đã có quyền sử dụng đạt mức thấp nhất so các loại hình khác 32,57% diện
tích đất hiện sử dụng . Có 3 trang trại lâm nghiệp chăn nuôi bò với quy mô
khá lớn bình quân 18 con, 1 trang trại có chăn nuôi heo với quy mô 22 con, 1
kết hợp chăn nuôi gia cầm quy mô 150 con. Mức bình quân lao động sử dụng /
năm đạt gần 29 lao động với 24 lao động thuê thời vụ. Mức đầu tư bình quân
/ trang trại là 441 triệu. Mức đầu tư này tính trên 1 lao động là 15 triệu. Mức
đầu tư này tính trên 1 ha đất sử dụng 8 triệu. 60% hộ có vay ngân hàng với
mức vay bình quân là 23 triệu.
7/ Loại hình sản xuất nông lâm kết hợp : chiếm 1,01% trang trại, thu hút
4,48% diện tích, 60,6% trang trại hình thành trước 1995. Nông dân là chủ
trang trại 42,42%, tư nhân 33,33%, CB-CNV 21,21%. Nữ làm chủ trang trại
chiếm 27,27%; chủ trang trại là đảng viên 21,21%. Chủ trang trại chưa qua
trường lớp 54,54%ù, 44,5% trình độ trung cấp và đại học. Số hộ chủ trang trại
trực tiếp quản lý chiếm tỷ lệ 84,8% (28/33 hộ). Quy mô diện tích bình quân
là 39 ha, diện tích đất đã có quyền sử dụng đạt mức cao nhất so các loại hình
khác 82,16% diện tích đất hiện sử dụng . Có 2 trang trại nông lâm kết hợp có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status