Dùng các phương pháp nhiễu trong trắc nghiệm khách quan hóa học phổ thông - Pdf 33

A
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƯ PHẠM

DÙNG CÁC PHƯƠNG PHÁP NHIỄU
TRONG TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN
HÓA HỌC PHỔ THÔNG

Luận văn Tốt nghiệp
Ngành: Sư Phạm Hóa

GV hướng dẫn: ThS.Ngô Quốc Luân

Sinh viên thực hiện:
Đặng Thị Minh Tâm
Lớp: Sư phạm Hóa K33
Mã số SV: 2072007

Cần Thơ, 2011

Tìm hiểu về các phương pháp gây nhiễu trong bài tập trắc nghiệm Hóa học phổ thông


Luận văn tốt nghiệp

Đặng Thị Minh Tâm
LỜI CẢM ƠN

Thời gian bốn năm học trải qua nhanh chóng. Với sự phấn đấu của bản thân và giúp đỡ
gia đình, thầy cô, bạn bè; tôi mới có cơ hội thực hiện đề tài này.
Trong quá trình thực hiện đề tài này, ngoài nổ lực của chính bản thân, tôi còn nhận

pháp trắc nghiệm khách quan… và đặc biệt là bước đầu đã phân tích và tự đặt tên cho
một số cách gây nhiễu trong bài tập trắc nghiệm hóa học phổ thông.
Về tác phong làm việc với khoa học: Trong quá trình tập làm nghiên cứu, Sinh viên
Đặng Thị Minh Tâm còn tỏ ra chưa thực sự năng động trong việc giải quyết các vấn đề
khó khăn nên tiến độ thực hiện còn chậm trễ, mức độ đáp ứng yêu cầu chưa cao. Mặt
khác vì đề tài có tính mới mẽ và độ khó khá cao, cho nên kết quả nghiên cứu của sinh
viên Đặng Thị Minh Tâm nên dùng để tham khảo và cần tiếp tục nghiên cứu cho hòan
chỉnh thêm.
Về hình thức trình bày và báo cáo luận văn: Luận văn gồm 43 trang chính, không
kể phần phụ lục có bố cục rõ ràng, chia làm 3 phần: Phần Mở đầu chủ yế nói về lý do
chọn đề tài, phần Nội dung trình bày các công việc tổng quan tài liệu và phân tích một
số bài tập mẫu phương pháp đã đặt tên, và phần Kết luận có đánh giá những việc đã
làm được và chưa làm được. Văn phong đơn giản và ít sai chính tả. Báo cáo tập trung
vừa phải.
Với những nhận xét như trên, tôi có thể đánh giá chất lượng đạt được của đề tài do
sinh viên Đặng Thị Minh Tâm đã thực hiện ở mức độ tương đối. Đề nghị sinh viên
Đặng Thị Minh Tâm nên tiếp tục nghiên cứu để phục vụ tốt cho công tác giảng dạy
sau này.
Điểm đề nghị: 8,0/10 (B+).
Cần thơ, ngày 21 tháng 05 năm 2011
Người hướng dẫn và nhận xét

ThS. Ngô Quốc Luân
Tìm hiểu về các phương pháp gây nhiễu trong bài tập trắc nghiệm Hóa học phổ thông


Luận văn tốt nghiệp

Đặng Thị Minh Tâm
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN


Tìm hiểu về các phương pháp gây nhiễu trong bài tập trắc nghiệm Hóa học phổ thông


Luận văn tốt nghiệp

Đặng Thị Minh Tâm

Giáo viên phản biện 2:
1)

Ưu điểm của luận văn là đã đưa ra được một số phương pháp để xây dựng
câu trắc nghiệm khách quan có khả năng phân loại học sinh cao. Với mỗi
phương pháp đều có ví dụ tiêu biểu và phần phân tích rõ ràng ưu, nhược
điểm, giúp giáo viên dễ áp dụng.

2)

Tên đề tài hơi dài. Theo tôi chỉ cần ghi tên là: Dùng các phương pháp nhiễu
trong trắc nghiệm khách quan hóa phổ thông.

Luận văn có một số sai sót nhỏ về chính tả trong các trang: 3,4,9,10,16,23,25.
Đánh giá:
Cán bộ phản biện

ĐOÀN THỊ KIM PHƯỢNG

Tìm hiểu về các phương pháp gây nhiễu trong bài tập trắc nghiệm Hóa học phổ thông



B. PHẦN NỘI DUNG ..................................................................................... 2
I. Tổng quan tài liệu ........................................................................................ 2
I.1. Lý do chọn đề tài................................................................................... 2
I.2. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu .......................................................... 2
I.3. Mục đích nghiên cứu ............................................................................. 2
I.4. Phương pháp nghiên cứu ....................................................................... 2
I.5. Thực tiễn vấn đề.................................................................................... 3
II. Cơ sở lý thuyết ........................................................................................... 3
II.1. Câu hỏi trắc nghiệm bốn phương án ..................................................... 3
II.2. Các phương pháp gây nhiễu ................................................................. 5
II.2.1. Gây nhiễu ở vị trí phần mở đầu ..................................................... 5
II.2.1.1. Phương pháp quen thuộc.......................................................... 5
II.2.1.2. Phương pháp từ ngữ mấu chốt.................................................. 8
II.2.1.3. Phương pháp đánh lạc hướng ................................................... 10
II.2.2. Gây nhiễu ở vị trí phần thông tin ................................................... 12
II.2.2.1. Phương pháp dựa vào mức độ học sinh .................................... 12
II.2.2.2. Phương pháp đúng một phần.................................................... 15
II.2.2.3. Phương pháp tương đồng ......................................................... 16
II.2.2.4. Phương pháp ngụy tạo cách lý giải hợp lí................................. 17
II.2.2.5. Phương pháp đoán đầu các bước giải ....................................... 18
II.2.2.6. Phương pháp thay đổi giá trị đáp án ......................................... 21
II.2.2.7. Phương pháp khẳng định.......................................................... 22
II.3. Cách làm học sinh thường sử dụng để chọn nhanh đáp án trắc nghiệm..23
Tìm hiểu về các phương pháp gây nhiễu trong bài tập trắc nghiệm Hóa học phổ thông


Luận văn tốt nghiệp

Đặng Thị Minh Tâm


Sau đây là nội dung chi tiết.

Tìm hiểu về các phương pháp gây nhiễu trong bài tập trắc nghiệm Hóa học phổ thông


Luận văn tốt nghiệp

Đặng Thị Minh Tâm

A. MỞ ĐẦU
Hóa học là môn khoa học thực nghiệm, luôn gắn liền với đời sống của chúng ta.
Để học tốt môn hóa, người học cần có sự say mê, yêu thích. Đối với học sinh, phải tự
đọc sách, tự tìm hiểu, tự giải các bài tập hóa học… phát huy tính tự học lúc đó sẽ
khám phá ra đặc trưng riêng của môn hóa học.
Trong quá trình dạy và học môn hóa học, cũng như các môn học khác, đánh giá
kiểm tra chất lượng là khâu rất quan trọng, nó giúp người dạy đánh giá đúng về lượng
kiến thức mà người học đã tiếp thu được. Hiện nay có hai phương pháp kiểm tra đánh
giá chất lượng giáo dục đó là: “Trắc nghiệm tự luận gọi tắt là tự luận” và “Trắc
nghiệm khách quan gọi tắt là trắc nghiệm”. Ở nước ta hiện nay đang sử dụng phương
pháp trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn (chủ yếu là bốn lựa chọn) để đánh giá
chất lượng giáo dục cuối khóa, cũng như thi tuyển sinh vào hệ đại học, cao đẳng; ở các
trường phổ thông cũng sử dụng để đánh giá, đây là phương pháp tỏ ra ưu điểm giúp
kiểm tra kiến thức toàn diện của người học, tránh việc học tủ, học lệch. Dạng trắc
nghiệm khách quan có bốn lựa chọn thường có một phương án đúng và các phương án
nhiễu. Học sinh thường mắc phải các phương án nhiễu tùy mức độ, khả năng kiến thức
đánh giá, suy luận của các em. Từ đó giáo viên phân loại về lĩnh hội kiến thức của học
sinh, giúp cho học sinh rút ra kinh nghiệm làm bài, tự điều chỉnh kiến thức, khắc sâu
kiến thức đã học. Đồng thời, giúp cho học sinh làm việc chính xác trong khoa học và
rèn luyện tư duy tốt.
Trên cơ sở đó, tôi chọn viết luận văn với đề tài “TÌM HIỂU CÁC PHƯƠNG

phong phú. Góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy, kiểm tra, đánh giá bằng trắc
nghiệm khách quan.
Từ kinh nghiệm đúc kết trong việc soạn thảo câu hỏi trắc nghiệm, giáo viên sẽ
đưa ra những vấn đề lưu ý trước khi học sinh thi tốt nghiệp, thi đại học, cao đẳng; giúp
học sinh thận trọng khi đọc đề, làm bài, củng cố kiến thức; giúp học sinh nâng cao
thành tích học tập.
I.4. Phương pháp nghiên cứu
- Tham khảo tài liệu.
- Chọn lọc.
- Đánh giá, phân tích các vấn đề.

Tìm hiểu về các phương pháp gây nhiễu trong bài tập trắc nghiệm Hóa học phổ thông

Trang 2


Luận văn tốt nghiệp

Đặng Thị Minh Tâm

I.5. Thực tiễn vấn đề
Từ nhiều năm qua, theo sự nghiên cứu các chuyên gia về giáo dục của các nước
tiên tiến như: Anh, Pháp, Mỹ, Úc… cũng như các chuyên gia giáo dục của Việt Nam
việc đánh giá kết quả học tập của học sinh đối với một số môn học qua hình thức trắc
nghiệm khách quan mang lại nhiều hiệu quả rất thiết thực (Cụ thể đã được áp dụng qua
các kỳ thi Đại học – cao đẳng, tốt nghiệp THPT ở các môn học: Vật lý, Hóa học, Sinh
học và Ngoại ngữ từ năm 2007 đến nay).
-

Giúp giáo viên phân loại trình độ, năng lực học tập của học sinh có tính chính


Tìm hiểu về các phương pháp gây nhiễu trong bài tập trắc nghiệm Hóa học phổ thông

Trang 3


Luận văn tốt nghiệp

Đặng Thị Minh Tâm

Phần thông tin: nêu các câu trả lời bao gồm một số phương án đề nghị để giải quyết
vấn đề đã nêu ở phần dẫn. Các phương án này còn được gọi là các “câu trả lời” hay
các “lựa chọn”. Học sinh phải lựa chọn và chỉ ra phương án đúng nhất (các phương án
được đánh dấu bằng các chữ cái A, B, C, D...).
a/ Sử dụng: [11]
Câu trắc nghiệm nhiều lựa chọn có tầm sử dụng rất rộng, có thể dùng để đánh giá hầu
hết những năng lực nhận thức của học sinh tư đơn giản đến phức tạp. Đặc biệt khi
được thiết kế tốt, câu trắc nhiệm nhiều lựa chọn có thể kiểm tra những năng lực cấp
cao mà nhiều người cho rằng chỉ có câu tự luận mới đánh giá được như: kỹ năng phân
tích, tổng hợp, so sánh, đánh giá, năng lực tư duy trừu tượng, khả năng giải quyết vấn
đề.
b/ Những ưu điểm và khuyết điểm: [11]
+ Ưu điểm:
-

Kiểm tra được một phổ rất rộng năng lực của học sinh.

-

Độ bao phủ nội dung rất tốt vì có thể sử dụng nhiều câu nhiều lựa chọn trong

đọc của học sinh, sự may mắn.

Tìm hiểu về các phương pháp gây nhiễu trong bài tập trắc nghiệm Hóa học phổ thông

Trang 4


Luận văn tốt nghiệp

Đặng Thị Minh Tâm

So sánh ưu điểm, nhược điểm của tự luận và trắc nghiệm khách quan [12]
Tự luận

Trắc nghiệm

1) Ra đề nhanh.

1) Tốn nhiều thời gian ra đề.

2) Đánh giá được khả năng trình bày hiểu
biết bằng chữ viết.

2) Không đánh giá được.

3) Không khách quan, học sinh có nhiều
may rủi.

3) Khách quan.


Tìm hiểu về các phương pháp gây nhiễu trong bài tập trắc nghiệm Hóa học phổ thông

Trang 5


Luận văn tốt nghiệp

Đặng Thị Minh Tâm

Ví dụ 1:
Phát biểu nào sau đây sai?
A. Các amin đều có tính bazơ.
B. Tính bazơ của các amin đều mạnh hơn NH3.
C. Anilin có tính bazơ rất yếu.
D. Amin có tính bazơ do N có cặp e chưa tham gia liên kết.
Đáp án đúng: B
Phân tích
Gây nhiễu ở đề bài “phát biểu nào sau đây sai”, từ chủ yếu “sai”. Học sinh có xu
hướng nghĩ chọn phát biểu đúng. Khi đọc đáp án, câu A đầu tiên đúng, học sinh sẽ
chọn, chuyển qua câu trắc nghiệm kế tiếp.
-

Dữ kiện cho sẵn: thể tích ở điều kiện tiêu chuẩn, dung dịch phản ứng cho dư,
phản ứng xảy ra hoàn toàn, hiệu suất 100% …. Gây nhiễu bằng cách không cho
các dữ kiện này.

Ví dụ 2:
Dẫn 17,6 gam CO2 vào 500 ml dung dịch Ca(OH)2 0,6M. Phản ứng kết thúc thu
được bao nhiêu gam kết tủa?
A. 20 gam.

C. 54 g Al và 139,2 g Fe3O4
D. 81 g Al và 104,4 g Fe3O4
Đáp án đúng: C
Phân tích
Đề toán nêu vấn đề rõ ràng. Gây nhiễu ở chỗ “chia đôi chất rắn thu được”. Học
sinh đọc đề không kĩ, đọc lướt, hoặc đọc xong không nhớ luôn nghĩ trong đầu là “chất
rắn thu được”. Khi đó, dù học sinh biết làm, làm đúng cũng không cho được kết quả
đúng. Những đề toán này, yêu cầu học sinh cẩn thận khi đọc đề và phải biết hướng
giải.
Ưu điểm:
Có hiệu quả. Sử dụng đơn giản trong soạn thảo câu hỏi lý thuyết.
Nhược điểm:
Sử dụng trong soạn thảo trắc nghiệm bài tập phải chú ý cẩn thận tính toán số liệu.

Tìm hiểu về các phương pháp gây nhiễu trong bài tập trắc nghiệm Hóa học phổ thông

Trang 7


Luận văn tốt nghiệp

Đặng Thị Minh Tâm

II.2.1.2. Phương pháp từ ngữ mấu chốt
Sử dụng trong câu trắc nghiệm lý thuyết và bài tập.
Sử dụng những từ ngữ là mấu chốt vấn đề. Các từ mấu chốt là những từ quan
trọng trong dữ kiện đề bài đòi hỏi học sinh phải có khả năng phân tích đề, lưu ý các từ
đó.
Nếu học sinh không chú ý, phân tích kỹ, không thấy được các từ mấu chốt, sẽ sai
lệch hướng giải. Ví dụ: dung dịch vừa đủ, dung dịch dư, kim loại dư,....

Đặng Thị Minh Tâm

Ví dụ 6:
Xà phòng hóa a gam một este no đơn chức mạch hở chứa 53,33% oxi về khối
lượng cần vừa đủ 150ml dung dịch NaOH 0,5M. Giá trị của a là:
A. 4,50 g.
B. 5,55 g.
C. 5,40 g.
D. 6,60 g.
Đáp án đúng: A
Phân tích
Cần chú ý “este no đơn chức mạch hở”. Học sinh đọc kỹ đề sẽ nhớ lại công thức
este no, đơn chức, mạch hở, dựa vào dữ kiện đề bài tìm ra đáp án. Nếu học sinh không
cẩn thận, không thấy đề bài cho este no, đơn chức, mạch hở sẽ không giải được, phân
tâm, mất thời gian vì câu trắc nghiệm này.
Ưu điểm:
Sử dụng có hiệu quả vì những từ mấu chốt gắn liền với đề bài. Giúp giáo viên
sáng tạo linh hoạt hơn trong việc thành lập ngân hàng đề, từ một đề bài thay đổi một
hoặc vài từ ngữ có thể trở thành nhiều đề bài khác, dạng khác. Có thể kết hợp với
nhiều phương pháp khác.
Nhược điểm:
Giáo viên sử dụng các từ mấu chốt phải đúng kiến thức, ngược lại phần dẫn sẽ sai
kiến thức.

Tìm hiểu về các phương pháp gây nhiễu trong bài tập trắc nghiệm Hóa học phổ thông

Trang 9


Luận văn tốt nghiệp


14,4  14
= 0,025 mol
16

Dễ dàng tính được khối lượng Fe3O4 là 11,6 g.
Đề bài cho hỗn hợp gồm MgO và Fe3O4 phản ứng hoàn với H2 dư, đun nóng, thu
được chất rắn B.
Ta thấy, chỉ có Fe3O4 có phản ứng với H2, mặc dù H2 dư nhưng đề bài không cho
phản ứng xảy ra hoàn toàn, sau đó lại cho lòng vòng phản ứng với dung dịch HCl, với
dung dịch NaOH.
Các tác chất ban đầu, qua nhiều giai đoạn, làm cho học sinh rối, nghĩ đến nhiều
phương trình, nhưng thực chất chỉ có một giai đoạn trung gian cần phải xác định:
Tìm hiểu về các phương pháp gây nhiễu trong bài tập trắc nghiệm Hóa học phổ thông

Trang 10


Luận văn tốt nghiệp

Đặng Thị Minh Tâm

O
 2Fe2O3
2Fe3O4 

Ưu điểm:
Sử dụng có tác dụng đối với học sinh không có sự khái quát, tổng hợp, phân tích
vấn đề.
Nhược điểm:

Vận dụng
Là khả năng sử dụng các kiến thức đã học vào một hoàn cảnh cụ thể mới: vận
dụng nhận biết, hiểu biết thông tin để giải quyết vấn đề đặt ra; là khả năng đòi hỏi học
sinh phải biết vận dụng kiến thức, biết sử dụng phương pháp, nguyên lý hay ý tưởng
để giải quyết một vấn đề nào đó. [5]
Tùy mức độ câu hỏi yêu cầu, mức độ nhiễu cũng khác nhau.
Mức độ khó của ba mức độ nhận thức: nhận biết > thông hiểu > vận dụng.
Tương ứng với mức độ khó khi gây nhiễu: nhận biết > thông hiểu > vận dụng.
Ưu điểm:
Phân loại khả năng nhớ, tổng hợp phân tích của từng học sinh.
Có thể kết hợp với các phương pháp gây nhiễu khác.
Nhược điểm:
Tìm hiểu về các phương pháp gây nhiễu trong bài tập trắc nghiệm Hóa học phổ thông

Trang 12


Luận văn tốt nghiệp

Đặng Thị Minh Tâm

Phương pháp này chỉ thấy rõ ràng khi các câu trắc nghiệm khách quan xuất hiện
cùng một lúc.
Ví dụ 8:
Xét về mặt cấu tạo chất béo thuộc loại chất nào sau đây?
A. Polime
B. Axit
C. Este
D. Ancol
Đáp án đúng: C

tráng gương.
Trong phần dẫn có sử dụng từ mấu chốt “mạch cacbon không phân nhánh”, học
sinh không chú ý, sẽ chọn C.
Ví dụ 10:
Cho 3,7 gam este no, đơn chức, mạch hở tác dụng hết với dung dịch KOH, thu
được muối và 2,3 gam rượu etylic. Công thức của este là:
A. CH3COOC2H5.
B. C2H5COOC2H5.
C. C2H5COOCH3.
D. HCOOC2H5.
Đáp án đúng: D
Phân tích
Câu hỏi ở mức độ vận dụng, yêu cầu học sinh phải nhớ lại công thức tổng quát
của este no, đơn chức, mạch hở, phản ứng thủy phân trong môi trường kiềm, cách tính
toán số liệu.
Đáp án C: Học sinh có thể loại trừ khi suy luận từ phản ứng thủy phân este.
Các đáp án A, B, D: bắt buộc học sinh phải giải.
Đáp án A: Tăng thêm một carbon so với kết quả đúng. Học sinh chọn đáp án này,
nếu học sinh quên đếm carbon ở nhóm – COO.
Nhận xét: Ta thấy tùy mức độ nhận thức của học sinh, mà khả năng loại trừ đáp án sai
ở từng mức độ khác nhau.

Tìm hiểu về các phương pháp gây nhiễu trong bài tập trắc nghiệm Hóa học phổ thông

Trang 14


Luận văn tốt nghiệp

Đặng Thị Minh Tâm

Đặng Thị Minh Tâm

II.2.2.3. Phương pháp tương đồng
Sử dụng trong câu trắc nghiệm lý thuyết.
Dùng những khái niệm, sự vật, hiện tượng, tính chất, ... có nét tương đồng thường
gây nhầm lẫn cho học sinh, tạo cảm giác gần đúng, khó phân biệt để làm phương án
nhiễu. [5]
Sự tương đồng thường gây nhầm lẫn cho học sinh do học sinh không nắm vững
bản chất phản ứng.
Ví dụ 12:
Dãy chất nào sau đây đều tham gia phản ứng tráng gương với dung dịch
AgNO3/NH3
A. Axetilen, anđehit axetic, axit fomic
B. Anđehit fomic, glucozơ, etylen
C. Anđehit fomic, axit fomic, etyl fomat
D. Axit fomic, but -1- in, natri fomat
Đáp án đúng: D
Phân tích
Học sinh thường đồng nhất phản ứng giữa axetilen với dung dịch AgNO3/NH3 và
phản ứng tráng gương của hợp chất chứa nhóm chức andehit. Vì cả hai đều phản ứng
với AgNO3/NH3 và tạo kết tủa. Ankin có nối ba đầu mạch cho phản ứng thế kim loại,
sản phẩm là kết tủa, chứ không phải Ag. [5]
Sự tương đồng như trên dễ gây cho học sinh nhầm lẫn. Học sinh không nắm vững
bản chất phản ứng sẽ bị hấp dẫn bởi phương án nhiễu.
Ưu điểm:
Sử dụng gây nhiễu có hiệu quả tốt.
Nhược điểm:
Chỉ sử dụng được đối với các kiến thức có sự tương đồng.

Tìm hiểu về các phương pháp gây nhiễu trong bài tập trắc nghiệm Hóa học phổ thông


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status