Nghiên cứu lựa chọn, sử dụng một số bài tập thể dục (với gậy, với bóng) và trò chơi vận động như một học phần tự chọn để pah1t triển thể lực cho sinh viên nữ trường đại học sài gòn - Pdf 33

3

MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU

1

CHƢƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU.
1.1.Quan điểm của Đảng và nhà nƣớc về GDTC cho học sinh, sinh viên
các trƣờng Đại học, Cao đẳng và THCN

3

1.2. Đăc điểm tâm lý lứa tuổi 18 – 22 (sinh viên).

4

1.3. Vai trò của thể dục và trò chơi với phát triển
thể chất sinh viên.

15

1.4. Các công trình nghiên cứu liên quan.

16

CHƢƠNG II: MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU.
2.1. Mục đích nghiên cứu.



21

2.4.2.1. Phỏng vấn sinh viên.

21

2.4.2.2. Phỏng vấn giảng viên.

21

2.4.2.3. Phƣơng pháp quan sát sƣ phạm.

22

2.4.2. 4. Phƣơng pháp thực nghiệm sƣ phạm.

23

2.4.2.5. Phƣơng pháp toán học thống kê.

24

CHƢƠNG III: KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.
3.1. Nhiệm vụ 1: Đánh giá các học phần chung và các học phận tự chọn
hiện tại với các ƣu điểm và nhƣợc điểm của chƣơng trình.

28

3.1.1. Chƣơng trình giảng dạy môn Giáo dục thể chất của

43

3.2.3.1. Lựa chọn bài tập.

44

3.2.3.2. Xác định lƣợng vận động cho quá trình tập luyện.

47

3.2.3.3 . Phƣơng pháp tổ chức giảng dạy (tập luyện).

48

3.2.3.4.Tiến trình giảng dạy.

50

3.2.3.5. Phƣơng pháp đánh giá và nội dung kiểm tra đánh giá.

53

3.3. Nhiêm vụ 3: Đánh giá hiệu quả của các bài tập (với gậy, với bóng)
và trò chơi vận động đến sự phát triển thể lực chung của sinh viên nữ
trƣờng Đại học Sài Gòn.

54

3.3.1. Tổ chức thực nghiêm sƣ phạm.



KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ

71


7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

VIẾT TẮT

THUẬT NGỮ TIẾNG VIỆT

GD

Giáo dục

GD - ĐT

Giáo dục - Đào tạo

GV

Giảng viên

GDTC

Giáo dục thể chất


Thành phố Hồ Chí Minh

SV

Sinh viên

CLB

Câu lạc bộ

TC

Tổng cộng

STT

Số thứ tự


8

DANH MỤC CÁC BẢNG

STT

TÊN BẢNG SỐ LIỆU

TRANG

1

trƣờng Đại học Sài Gòn.

33

6

Bảng 3.5: Lƣợng vận động giờ học GDTC của sinh viên
trƣờng Đại học Sài Gòn.

34

7

Bảng 3.6: Kết quả phỏng vấn sinh viên về sự cần thiết xây
dựng và đa dạng hóa chƣơng trình tự chọn môn GDTTC
cho sinh viên trƣờng ĐHSG.

37

8

Bảng 3.7: Kết quả phỏng vấn Giảng viên Bộ môn Giáo dục
thể chất trƣờng Đại học Sài Gòn.

41

9

Bảng 3.8. Tổng hợp các động tác, bài tập thể dục (với gậy,
với bóng) và các trò chơi vận động để phát triển thể chất

Bảng 3.12: Trình độ thể lực chung của các nhóm nghiên
cứu.Trƣớc thực nghiệm SP.

58

14

Bảng 3.13: Trình độ thể lực chung của các nhóm nghiên
cứu. Sau thực nghiệm SP.

63

15

Bảng 3.14: Nhịp tăng trƣởng của các nhóm nghiên cứu.

66


10

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

STT

TÊN BẢNG SỐ LIỆU

TRANG

Biểu đồ 1: Mật độ chung giờ học GDTC của sinh viên


Biểu đồ 5: Trình độ thể lực chung của các nhóm
5

nghiên cứu. Sau thực nghiệm sƣ phạm.

64

Biểu đồ 6: Nhịp tăng trƣởng của các nhóm nghiên
6

cứu.

67


12

PHẦN MỞ ĐẦU
Trƣờng Đại học Sài Gòn đƣợc thành lập theo quyết định số 478 / QĐ – TTT ngày
25/ 04/ 2007 của Thủ tƣớng Chính Phủ, trên cơ sở nâng cấp từ trƣờng Cao Đẳng Sƣ
Phạm thành phố Hồ Chí Minh. Đại học Sài Gòn là cơ sở giáo dục Đại học công lập
trực thuộc UBND TP. Hồ Chí Minh, Đại học Sài Gòn chịu sự quản lý Nhà nƣớc
về Giáo dục của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Chuẩn bị thể chất cho nguồn nhân lực là một quá trình giáo dục, giáo dƣỡng rất
công phu, chu đáo, đƣợc xã hội đồng tình, nhiều ngành ủng hộ và thực hiện, trong đó
ngành TDTT và ngành Giáo dục đã có những đóng góp rất quan trọng. Hay nói cách
khác muốn phát triển thể chất cho sinh viên (SV) đạt hiệu quả cao cần phải đánh giá
đúng sự phát triển thể chất qua từng giai đoạn, phải thông qua tìm kiếm và áp dụng
các biện pháp khác nhau phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện thực tế của nhà trƣờng.

sinh viên, hiệu quả giáo dục bị hạn chế. Vì vậy nghiên cứu bổ sung và ứng dụng các
bài tâp thể dục (với gậy, với bóng) và trò chơi vận động trong các buổi học GDTC là
hết sức quan trọng và cần thiết. Với ý nghĩa, tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu và
đặc điểm của trƣờng đại học Sài Gòn (sinh viên đông, đa phần là sinh viên nữ) chúng
tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu lựa chọn, sử dụng một số bài tập Thể dục (với
gậy, với bóng) và Trò chơi vận động nhƣ một học phần tự chọn để phát triển thể
lực cho sinh viên nữ trƣờng Đại học Sài Gòn”.


14

CHƢƠNG I

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1.Quan điểm của Đảng và nhà nƣớc về GDTC cho học sinh, sinh viên các trƣờng
Đại học, Cao đẳng và TCCN.
Việc dạy và học thể dục thể thao trong Giáo dục thể chất (GDTC) trƣờng học các
cấp đƣợc nhiều văn bản pháp quy của nhà nƣớc khẳng định và ghi rõ. Hiến pháp nƣớc
Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, năm 1992, điều 41 “Quy định chế độ GDTC
bắt buộc trong trƣờng học”.[6]
Đổi mới nội dung chƣơng trình GDTC, đổi mới việc dạy và học môn Thể dục trong nhà
trƣờng là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách của ngành Giáo dục & Đào tạo và VHTTDL từ
Trung ƣơng đến địa phƣơng nhằm đạt đƣợc mục tiêu đến năm 2030 tăng đƣợc thể lực,
nhất là sức mạnh và sức bền và nâng cao đƣợc tầm vóc, nhất là chiều cao của các thế hệ
thanh niên Việt Nam, đáp ứng yêu cầu của nền sản xuất công nghiệp và yêu cầu của sự
hội nhập quốc tế về Thể dục thể thao theo đúng tinh thần Nghị quyết 08/NQ-TW của Bộ
Chính trị. Thể dục thể thao trƣờng học là bộ phậ quan trọng của phong trào thể dục, thể
thao, một mặt của giáo dục toàn diện nhân cách học sinh, sinh viên, cần đƣợc quan tâm
đầu tƣ đúng mức.
Xây dựng và thực hiện “Đề án tổng thể phát triển giáo dục thể chất và thể thao trƣờng

quan). Trong qua trình tập luyện và vui chơi, trí tƣởng tƣợng ngày càng đƣợc phát
triển.


16

- Cảm xúc: Lứa tuổi sinh viên có tình cảm phong phú và đa dạng. Trạng thái cảm
xúc của lứa tuổi này sâu hơn so với tuổi thiếu niên, đôi khi thanh niên nam nữ cũng
có cảm xúc mâu thuẫn trong lãnh vực tế nhị này. Vì vậy, giáo viên cần có sự giúp đỡ,
chia sẻ, khuyên nhủ một cách đúng đắn để sinh viên tự ý thức và tu dƣỡng đạo đức,
hình thành nếp sống lành mạnh.
- Ý thức nhân cách: Ở lứa tuổi này biểu hiện trƣớc hết ở sự tự ý thức. Chính điều
đó khiến cho sinh viên quan tâm đến phẩm chất nhân cách và năng lực của mình.
Trong quá trình tập luyện, giảng viên cần giúp đỡ một cách phù hợp, khéo léo đối với
từng sinh viên, để hình thành ở họ một biểu tƣợng khách quan, đúng đắn về mình,
vẫn tế nhị, thể hiện sự tôn trọng nhân cách sinh viên.
Tóm lại, các đặc tính giải phẫu sinh lý của lứa tuổi 18 - 22 nói chung là các đặc
tính của ngƣời trƣởng thành. Do vậy, ở trƣờng Đại học và Cao đẳng cần chú ý:
- Phải đƣợc tiếp tục GDTC một cách khoa học để nâng cao thể lực cho sinh viên,
góp phần hoàn thiện các chức năng và các hệ thống cơ quan trong cơ thể.
- Phát triển đầy đủ các tố chất thể lực làm tiền đề phát triển thể lực chung rộng
rãi và phát triển thể lực chuyên môn cần thiết sau này cho sinh viên.
Đặc điểm phát triển các tố chất thể lực của lứa tuổi sinh viên:
Tố chất thể lực của con ngƣời là tổng hòa các chất lƣợng của cơ thể biểu hiện
trong điều kiện cụ thể của cuộc sống, lao động, học tập và hoạt động thể dục thể thao.
Khả năng vận động là biểu hiện bên ngoài của tố chất thể lực, thể dục thể thao là
phƣơng tiện (qua các bài tập) để nâng cao khả năng vận động góp phần cải tạo thể
chất con ngƣời.
Các nhân tố về trạng thái chức năng của hệ thần kinh, chất lƣợng của các cơ quan
vận động và chức năng của các cơ quan đảm bảo năng lƣợng cho cơ thể có ảnh hƣởng


18

độ co cơ phụ thuộc trƣớc tiên vào tỉ lệ sợi cơ nhanh và sợi cơ chậm trong bó cơ. Các
cơ có tỉ lệ sợi cơ nhanh, đặc biệt là sợi cơ nhóm II – A có khả năng tốc độ cao hơn.
Tốc độ co cơ chịu ảnh hƣởng của hàm lƣợng ATP (Adenozin Triphotphat) và CP
(Creatin photphat). Đây là nguồn năng lƣợng có sẵn trong cơ để giúp cho các hoạt
động tốc độ đƣợc thực hiện. Tố chất nhanh mang tính di truyền, phụ thuộc vào các
quá trình hóa học trong cơ và vào tần số động tác đơn và yếu tố tâm lý. Tố chất nhanh
phát triển tƣơng đối sớm, chủ yếu ở lứa tuổi 10 – 13, nếu không đƣợc tập luyện tốt thì
đến giai đoạn 16 – 18 tuổi sẽ rất khó nâng cao. Vì vậy, khi ở lứa tuổi này không có
điều kiện luyện tập thƣơng xuyên, thì sang lứa tuổi 18 -25, cần phải chú ý trong quá
trình tập luyện sao cho phù hợp. Nhất là ở lứa tuổi trƣởng thành, nếu không thƣờng
xuyên rèn luyện, sẽ càng gặp nhiều khó khăn trong hoạt động, học tập và làm việc.
Các phƣơng pháp phát triển sức nhanh: trong quá trình tập luyện phát triển sức
nhanh thƣờng sử dụng các bài tập có tác dụng phát triển năng lực phản ứng, có tần số
cao. Ngoài ra, còn sử dụng các môn bóng nhƣ: bóng chuyền, bóng đá, bóng
rổ…thông qua các trò chơi vận động hoặc các bài tập:
- Xuất phát thấp
- Xuất phát cao
- Chạy tăng tốc
- Chạy tốc độ cao các cự ly từ 20 - 60 m.
Phƣơng pháp cơ bản để phát triển sức nhanh: đó là phƣơng pháp tập luyện lặp lại
và giãn cách có cƣờng độ gần tối đa và tối đa. Trong huấn luyện sức nhanh cần chú ý
đến cấu trúc của lƣợng vận động với các yêu cầu sau:


19

- Cƣờng độ vận động cần đƣợc sắp xếp trong khoảng gần tối đa đến tối đa. Ngƣời

nhƣ không khác biệt so với các trị số lực phát huy trong điều kiện tĩnh. Trong các
động tác nhanh, các trị số lực giảm dần theo chiều tăng tốc độ. Khả năng sinh lực
trong các động tác nhanh tuyệt đối (tốc độ) và khả năng sinh lực trong các động tác
tĩnh tối đa (sức mạnh tĩnh), không có tƣơng quan nhau.
Trên cơ sở đó, sức mạnh đƣợc chia thành sức manh đơn thuần (khả năng sinh lực
trong các động tác chậm hoặc tĩnh) sức mạnh tốc độ (khả năng sinh lực trong các
động tác nhanh). Sức manh tốc độ còn đƣợc chia nhỏ tùy theo chế độ vận động thành
sức mạnh động lực và sức mạnh hoãn xung.
Trong hoạt động vận động nói chung và hoạt động thể thao nói riêng, sức mạnh
luôn có mối quan hệ với các tố chất thể lực khác, nhất là sức nhanh và sức bền. Do
đó, năng lực sức mạnh đƣợc phân chia thành ba hình thức: Năng lực sức mạnh tối đa,
năng lực sức mạnh nhanh (sức mạnh tốc độ), năng lực sức mạnh bền. Sức mạnh cũng
là tiền đề rất quan trọng để nâng cao thành tích thể dục thể thao. Ở lứa tuổi 18 – 25,
lứa tuổi thuận lợi cho cơ bắp phát triển tốt nhất. Vì vậy, trong quá trình rèn luyện tố
chất này cần chú ý sao cho phù hợp để phát huy một cách tốt nhất.
Trong giáo dục tố chất sức mạnh, ngƣời ta sử dụng các bài tập gồm các động tác
với lực đối kháng. Về mặt tác động chức năng, bản chất của các loại lực đối kháng
không có gì khác biệt nhau nhiều lắm. Vấn đề cơ bản của phƣơng pháp rèn luyện sức
mạnh là cần phải định lƣợng trọng lƣợng theo ba cách:


21

Theo tỉ lệ trọng lƣợng tối đa, theo hiệu số so với trọng lƣợng tối đa, theo số lần lặp
lại trong một lƣợt tập.
Trong thực tế, có ba cách tạo ra sự kích thích lớn đối với họat động của cơ, gây nên
sự căng cơ tối đa:
+ Lặp lại cực hạn đối với lƣợng đối kháng chƣa tới mức tối đa.
+ Sử dụng lƣợng đối kháng tối đa.
+ Sử dụng trọng lƣợng chƣa tới mức tối đa với tốc độ cực đại.

25, khi tập luyện sức bền, đòi hỏi sự nỗ lực lớn không những bằng cơ bắp, mà còn
bằng ý chí khắc phục khó khăn, ngại khó, lƣời biếng…
Ở tuổi này, có sự thuận lợi trong nhận thức tự giác tập luyện, hiểu rõ tác dụng, lợi
ích khi tập luyện một cách khoa học. Cho nên, giáo viên cần lƣu ý giáo dục nhận thức
cho sinh viên hiểu và nắm rõ đƣợc chức năng tác dụng của bài tập khi tham gia tập
luyện.
Phát triển sức bền với mục đích mở rộng và nâng cao năng lực hoạt động của hệ
thống tim mạch, các chức năng trao đổi chất trong điều kiện đủ oxy và phát triển sức
bền chung cho nhóm cơ lớn. Nâng cao sức bền thực chất là quá trình làm cho cơ thề
thích nghi dần dần với lƣợng vận động ngày một lớn, cần phải có sự tích lũy, thích
nghi dần và kéo dài liên tục trong nhiều năm, chính vì thế, trong quá trình tập luyện


23

sức bền, đòi hỏi sinh viên phải có ý chí kiên trì, khắc phục cảm giác mệt mỏi và nặng
nề, nhàm chán do tính đơn điệu của bài tập.
Để phát triển sức bền, cần phải nâng cao khả năng ƣa khí lẫn khả năng yếm khí
của sinh viên. Để nâng cao khả năng ƣa khí, cần giải quyết ba nhiệm vụ:
- Nâng cao khả năng hấp thụ oxy tối đa
- Nâng cao khả năng kéo dài duy trì mức hấp thụ oxy tối đa.
- Làm cho hệ tuần hoàn và hệ hô hâp nhanh chóng đạt đƣợc mức hoạt động với
hiệu suất cao.
Trong khi đó, nhiệm vụ chính của nâng cao khả năng yếm khí của cơ thể là tăng
cƣờng khả năng giải phóng năng lƣợng nhờ các phản ứng phân hủy photphocreatin và
phân hủy glucoza, đồng thời nâng cao khả năng nợ oxy ở mức cao.
Phƣơng pháp tập luyện và phát triển sức bền:
- Phương pháp kéo dài: có đặc điểm là hoạt động trong thời gian dài và không có
thời gian nghỉ giữa.
Việc nâng cao khả năng hấp thụ oxy có thể thực hiện theo 2 cách khác nhau: Có

tập và làm việc.[12]
1.2.4. Tố chất mềm dẻo.
Mềm dẻo là năng lực thực hiện động tác với biên độ lớn. Biên độ tối đa của động
tác là thƣớc đo của năng lực mềm dẻo. Thông thƣờng, độ linh hoạt của các khớp càng
lớn, thì khả năng mềm dẻo của cơ thể càng lớn.


25

Mềm dẻo là tiền đề quan trọng để đạt đƣợc yêu cầu về số lƣợng và chất lƣợng
động tác. Tố chất này đƣợc phát triển rất sớm phù hợp với lứa tuổi thiếu niên nhi
đồng. Đặc biệt là lứa tuổi 11 – 14, trƣớc khi hệ vận động phát triển chƣa hoàn chỉnh.
Có thể tập mềm dẻo khi tập thể dục buổi sáng, trong giờ khởi động, các động tác chân
làm tăng độ linh hoạt của khớp, đồng thời là động tác khởi động, có tác dụng tích cực
với tập luyện kỹ thuật ở phần cơ bản, ngăn ngừa chấn thƣơng. Còn ở tuổi trƣởng
thành, tố chất mềm dẻo tập luyện rất khó khăn, vì các cơ, khớp xƣơng, hệ thần kinh…
đã phát triển tƣơng đối hoàn chỉnh.
Vì vậy, khi rèn luyện tố chất mềm dẻo cần chú ý đến biên độ động tác, những yêu
cầu khi thực hiện cần phải phù hợp với lứa tuổi để đề phòng chấn thƣơng có thể xảy
ra.Tuy nhiên, nếu năng lực mềm dẻo không đƣợc phát triển một cách đầy đủ sẽ dẫn
đến những hạn chế và khó khăn trong quá trình phát triển các năng lực thể thao, cũng
nhƣ trong cuộc sống.
1.2.5.Tố chất khéo léo (khả năng phối hợp vận động).
Khéo léo là khả năng thực hiện động tác phức tạp và khả năng hình thành nhanh
những động tác mới phù hợp với yêu cầu vận động.
Về bản chất, sự khéo léo là khả năng hình thành những đƣờng liên hệ tạm thời đảm
bảo cho việc thực hiện những động tác vận động phức tạp, vì vậy nó liên quan đến
việc hình thành kỹ năng vận động.
Năng lực phối hợp vận động là một phức hợp các tiền đề của vận động (cần thiết ít
hoặc nhiều ), để thực hiện thành công một hoạt động thể thao nhất định. Năng lực này


27

Bài tập thể dục (với gây, với bóng) các động tác có cấu trúc đơn giản, thực hiện
bằng các nhóm cơ lớn, những hoạt động phối hợp ít phức tạp, sự tham gia vào quá
trình vận động của các cơ quan tƣơng đối rộng và ở mức huy động hợp lý, nhằm đảm
bảo sự phối hợp nhịp nhàng, khả năng thích ứng dần dần với bài tập.[5]
Trò chơi vận động: vui chơi giải trí, thỏa mãn nhu cầu về mặt tinh thần. Giáo dục,
giáo dƣỡng thể chất (góp phần giáo dục đạo đức, ý chí, hình thành và phát triển các tố
chất, kỹ năng, kỹ xảo cần thiết cho cuộc sống, TCVĐ đã trở thành một phƣơng tiện
để giáo dục thể chất và hƣớng dẫn sự phát triển của con ngƣời.
1.4. Các công trình nghiên cứu liên quan.
Cho đến nay, đã có nhiều đề tài nghiên cứu về các môn tự chọn, các bài tập phát
triển thể lực cho sinh viên có thể điểm lƣợc một số đề tài nhƣ:
- Tác giả Nguyễn Văn Khanh – Trần Đình Thuận – 2005 “Đổi mới tổ chức dạy
học môn thể thao tự chọn ở trƣờng Cao đẳng sƣ phạm Đà Lạt”.
- Tác giả Lê Thị Thúy – 2007 “Nghiên cứu hiệu quả của thể dục nhịp điệu đối với
việc nâng cao sức khỏe cho nữ sinh viên trƣờng Đại học Nha Trang”.
- Tác giả Nguyễn Việt Hòa – 2009 “Nghiên cứu lựa chọn một số bài tập thể lực
nhằm phát triển thể chất cho nam sinh viên trƣờng đại học Ngoại ngữ - đại học Quốc
gia Hà Nội”.
nhƣng chƣa có công trình nghiên cứu nào sử dụng các bài tập thể dục (với gậy, với
bóng) và trò chơi vận động lại rất phù hợp với hoàn cảnh hiện tại của nhà trƣờng
(sinh viên đông, đa phần là sinh viên nữ, điều kiện sân bãi hạn chế…).
Hiện nay, chƣơng trình giáo dục thể chất của trƣờng Đại học Sài Gòn đã có một số
bài tập Thể dục và Trò chơi vận động (TCVĐ), song số lƣợng các bài tập và trò chơi



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status