NGHIÊN CỨU MỘT SÓ NỘI DUNG BẤT CẬP TẠI THÔNG T ư s ố
06/2011/TT-BYT QUY ĐỊNH VÈ QUẢN LÝ MỸ PHẨM
Vũ Thị Thu Hưong, Hứa Thanh Thủy, Phạm Nữ Hạnh Vân, Đỗ Quyên,
Lê Hiếu, Kiều Thi Tuyết Mai' Nguyễn Thanh Vân, Hoàng Văn Đức,
Nguyễn Thanh Hưong, Nguyễn Xuân Tiến.
HDKH: GS.TS. Nguyễn Thanh Bình.
Trường Đại học Dược Hà Nội
Từ khóa: Bất cập, mỹ phẩm, quản lý, thông tư 06
Tóm tất:
Triển khai Hiệp định về hệ thống hòa hợp ASEAN trong quản lý mỹ phẩm,
ngày 25/01/201 ỉ, Bộ Y tế (BYT) đã ban hành thông tư số 06/201 ỉ/TT-BYT quy
định về quản lý mỹ phẩm. Quả trĩnh thực hiện thông tư thời gian vừa qua đã bộc
lộ một sổ khó khăn, vưởng mắc. Vì vậy, để đáp ứng vói sự phát triến của thị
trường mỹ phẩm, BYT xác định việc thay đổi thông tư là một vẩn đề cần thiết.
Được sự chỉ đạo của BYT, chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài, sử dụng
phương pháp nghiên cứu định tỉnh để xác định những bất cập trong nội dung và
trong quá trình triển khai thực hiện thông tư 06. Kết quả cho thấy một số nội
dung trong thông tư chưa cụ thể; các quy định liên quan đến quy trĩnh công bố,
quảng cảo sản phẩm còn phức tạp và không phù hợp với tình hình hiện tại; thời
gian giải quyết hồ sơ chưa hợp lý. Mặt khác, việc thiếu thong nhất giữa các văn
bản và các cơ quan quản lý cũng gây ra nhiều khó khăn cho doanh nghiệp.
Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, mỹ phấm đã trở thành sản phâm tiêu dùng
quen thuộc, với nhu cầu tiêu thụ ngày càng tăng, chủng loại sản phẩm ngày càng
phong phú, đa dạng [6 ]. Nhằm thúc đẩy tăng trưởng thưong mại và hợp tác giữa
các quốc gia trong việc đảm bảo an toàn, chất lượng các sản phẩm mỹ phẩm, Việt
Nam đã tham gia ký kết Hiệp định về hệ thống hòa hợp ASEAN trong quản lý
mỳ phẩm tại hội nghị Bộ trưởng Kinh tế ASEAN lần thứ 35 [3], Thực hiện các
nguyên tắc của Hiệp định, ngày 25/1/2011, Bộ Y tế (BYT) đã ban hành Thông tư
số 06/2011/TT-BYT quy định về quản lý mỹ phẩm {sau đây được gọi tắt là
Thông tư 06). Thông tư 06 về cơ bản đã phù họp với các văn bản quy phạm pháp
luận nhóm(TLN) với ưu điểm có thể lấy ý kiến của số đông người tham gia, cho
phép tưcmg tác giữa các đối tượng, tiết kiệm thời gian...được lựa chọn thực hiện.
Ba cuộc TLN đã được tiến hành: (1) TLN giữa các doanh nghiệp khu vực phía
Bắc, (2) TLN giữa các doanh nghiệp khu vực phía Nam và (3) TLN giữa các đại
diện Sở Y tế khu vực phía Bắc. Trong trường họp không tổ chức được thảo luận
nhóm hoặc số lượng người được phỏng vấn nhỏ kỹ thuật phỏng vấn sâu (PVS) sẽ
được thực hiện: (1) PVS các nhà quản lý tuyến trung ương và (2) PVS các đại
diện SYT phía Nam. Địa điểm thực hiện các cuộc TLN và PVS đựa lựa chọn
trước với mục đích thuận tiện và thoải mái nhất đối với đối tưọng tham gia, được
lấy ý kiến từ chính các đối tượng tham gia phỏng vấn. Mồi cuộc TLN sẽ có một
chủ toạ điều hành và một thư ký. Các đối tượng tham gia được thông báo về mục
tiêu chủ đề thảo luận, tính bảo mật, đảm bảo ẩn danh trong nghiên cứu. Nội dung
các ý kiến được ghi chép và ghi âm theo phương pháp thực hiện nghiên cứu định
tính [2],
Bản ghi âm và những ghi chủ của mỗi cuộc TLN, PVS được gỡ băng bởi
hai nghiên cửu viên độc lập. Các thông tin được mã hóa theo chủ đề được thảo
luận.
Kết quả
Những bất cập về nội dung Thông tư 06/2011/TT-BYT
Thuật ngữ chưa rõ ràng
Khái niệm “sản phẩm mỹ phẩm” chưa thực sự rõ ràng gây ra nhiều khó
khăn cho cả các nhà quản lý và doanh nghiệp. Các SYT cho rằng trong nhiều
trường hợp, rất khó để xác định một sản phẩm có phải là mỹ phẩm hay không,
đặc biệt là những sản phẩm nằm ở “ranh giới” giữa mỹ phẩm và các loại sản
phẩm khác: “Vấn đề về sản phẩm ranh giới là vấn đề muôn thuở ngay cả đổi với
cơ quon quản lý... Vì định nghĩa nhiều khi không thể cụ thể hết được" (CV
CQLD). Chính vì khái niệm không rõ ràng nên có trường họp cách xử lý của các
chuyên viên không thống nhất đối với cùng một sản phẩm ''cùng một sở, người