1.
Cơ chế tạo nghĩa của từ ghép chính phụ
Cơ chế tạo nghĩa của từ ghép chính phụ
1. Cơ chế tạo từ ghép chính phụ dựa vào quan hệ ý nghĩa
Từ ghép chính phụ là từ ghép gồm 2 tiếng trở lên kết hợp với nhau theo quan hệ chính phụ. Một tiếng làm nòng
cốt tách ra có thể có nghĩa từ vựng, một tiến làm thành phần phụ có thể có nghĩa hoặc mờ nghĩa.
Xét về mặt ngữ nghĩa, thành phần chính là thành phàn biểu thị nòng cốt, thành phần phụ dựa vào thành phần
chính để đưa ra thành phần phụ cụ thể hóa thành phần chính.
Như vậy chúng ta có thể chia cơ chế tạo nghĩa của từ ghép chính phụ xét theo mặt ý nghĩa ra làm 2 loại: Từ ghép
chính phụ ghép từ các tiếng có nghĩa, và từ ghép chính phụ ghép có một tiếng có nghĩa còn tiếng kia thì bị mờ
nghĩa hoặc không có nghĩa.
Hơn nữa do lịch sử ngôn ngữ phát triển và biến đổi, nên xét về cơ chế cấu tạo của từ ghép chính phụ về mặt
nghĩa, trong bài làm em sẽ đi khảo sát cả từ ghép chính phụ gốc Hán Việt.
1.1. Tiếng chính có nghĩa kết hợp với tiếng phụ có nghĩa
Cơ chế tạo nghĩa này là sự phối hợp ngữ nghĩa của 2 tiếng trở lên, trong đó tiếng chính hay tiếng phụ khi tách ra
đều có nghĩa từ vựng. Trong đó tiếng chính thường được dành thành từ, còn tiếng phụ mặc dufcos nghĩa những
không đủ khả năng và tư cách ngữ pháp, tuy nhiên tiếng phụ mang nghĩa. Tiếng chính và tiếng phụ kết hợp với
nhau theo quan hệ chính phụ vì vậy mà kết hợp với nhau hết sức chặt chẽ.
Ví dụ: Gạch chỉ, gạch hoa, gạch men, hàn hơi, hàn khẩu, hàn huyên…
Trong ví dụ ở trên chung ta nhận thấy tiếng chính ở đây là gạch, hàn, đều có nghĩa và mang tính chất tổng quát
bao hàm. Trong đó: chỉ, hoa, men, hơi, khẩu(nghĩa là lỗ thủng), huyên(hỏi han), đều có nghĩa nhưng nó ở phạm
vi nhỏ hơn. Từ đó từ ghép chính phụ được cụ thể hơn, mang sắc thái rõ hơn. Và hơn nữa, trong từ ghép chính
phụ chúng ta không thể thay đổitrật tự các tiếng trong từ như từ ghép đẳng lập. Nếu như trong câu ghép đẳng
lập: Quần áo, nhà cửa có thể đổi ví chí các tiếng trong từ như thành áo quần, của nhà… ý nghĩa của từ ghép cũng
không có gì thay đổi. tuy nhiên trong từ ghép chính phụ nếu thay đổi vị chí của các tiếng của các từ ghép chính
phụ: Gạch men, gạch hoa, àn huyên, quả đất, mía đỏ thành: Men gạch, hoa gạch, huyên hàn, đất quả, đỏ mía…từ
ghép đó sẽ có nghĩa bị thay đổi hoặc là trở nên vô nghĩa.
Nhìn vào mặt ý nghĩa của các tiếng trong câu taọ nên từ ghép chính phụ chúng ta nhận thấy sự phối hợp ngữ
nghĩa trong các từ ghép chính phụ giữa tiếng chính mang nghĩa tổng quát và tiếng phụ mang ý nghĩa giới hạn
ối….
Trong ví dụ trên những tiếng chính đều có nghĩa còn những tiếng phụ đã mất hoặc là chỉ mang tính chất chỉ mức
độ.
Từ ghép chính phụ chỉ sự vật mà tiếng phụ mất nghĩa từ vựng hoặc là không có nghĩa: xe ca, xe cộ, gà ri, lúa
má...
Từ ghép chính phụ chỉ hoạt động mà tiếng phụ không có nghĩa: giết chóc, kiếm chác, đổi chác, bêu diếu, khuyên
lơi, lẩn quẩn, chăm sóc, quát tháo, ôm chầm, cười tủm...
Từ ghép chính phụ có ý nghĩa biểu hiện tính chất tiếng
Qua đó chúng ta nhận thấy rằng, cơ chế tạo nghĩa của từ ghép chính phụ một tiếng có nghĩa và tiếng kia không
có nghĩa nó sẽ gợi tả hình tượng của tính chất đó bằng vỏ ngữ âm của nó. Như vậy nghĩa của từ ghép chín phụ
theo cơ chế này không có tính chất hoàn chỉnh( nghĩa của tính chất cộng nghĩa của mức độ) nhưng tiếng phụ
không thể tách rời tiếng chính, bởi tiếng phụ không mang nghĩa. Từ ghép chính phụ được tạo ra theo cơ chế này
sẽ rất lỏng lẻo về mặt ngữ pháp và không ổn định.
1.3. Từ Ghép chính phụ tạo ra theo cơ chế có tiếng gốc Hán
Từ ghép chính phụ gốc Hán , cũng như cấu tạo thường, là những tiếng có nghĩa trong từ ghép chính phụ gốc Hán
được sắp xếp theo trật tự phụ trước, chính sau, điều này trái ngược hoàn toàn với cơ chế tạo ngĩa của từ ghép
chính phụ gốc Việt.
Ví dụ: Công nhân, nông dân, quân sự, đồng bào, quốc ca, đoàn ca, thương nghiệp, công nghiệp, nông nghiệp…
Tiếng có nghĩa trong các từ ghép gốc Hán được tái hiện trong rất nhiều từ: Ca, Đồng…
-Quốc ca, Đoàn ca, đồng ca, tam ca, xướng ca, cầm ca…
- Đồng bào, đồng đội, đồng chí, đồng hương, đồng niên, đồng ngũ…
Chính nhờ sự tái hiện có tính chất, hệ thông này mà chúng ta nhận thấy từ ghép chính phụ gốc Hán có được sắp
xếp theo trật tự phụ trước, chính sau. Và như khảo sát ở trên chúng ta nhận thấy thường thì danh từ có gốc Hán
theo cơ chế này là chủ yếu. Tuy nhiên cũng có một bộ phận từ ghép chính phụ gốc Hán theo cơ chế giống với từ
ghép chính phụ gốc Việt
Ví dụ: -Thuyết minh, phát động, đại diện, phụ nữ…
Trong từ ghép chính phụ gốc Hán chúng ta nhận thấy sự sáng tạo của ông cha ta dần dần từ ghép gốc Hán đang
dần được thay thế theo cơ chế tạo nghĩa của tiếng Viết. Qua dó chúng ta nhận thấy sự sáng tạo của ông cha, và
2.2. Từ ghép chính phụ động từ
Từ ghép chính phụ theo cơ chế này có một tiếng chính thường là do từ loại động từ đảm nhận. Tiếng đứng sau là
tiếng phụ thường là tính từ, danh từ, động từ, hoặc là thành tố phụ khác đã bị mờ hoặc mất nghĩa. Những từ ghép
tạo ra từ tiếng chính là động từ sẽ có nghĩa biểu thị sự hoạt động.
- Từ ghép chính phụ động từ + danh từ: cảm ơn, cướp súng, cướp cò, ăn cơm, ăn khoai, bỏ việc, bỏ phiếu, dẫn
đầu, ăn khớp, ăn ý, ăn quà, vắng mặt...
- Từ ghép chính phụ động từ + động từ: ăn cắp, ăn trộm, ăn cướp, ăn ở, ăn xin, nằm nhờ, ở đậu, học đuổi, đạp
tan, đưa vòa, biết ơn, mang qua, tụt xuống, ngủ ngồi, đặt đứng, ngồi ăn...
- Từ ghép chính phụ động từ + tính từ: xoa dịu, tảy sạch, soi sáng, ăn mừng, chúc mừng, đấu dịu, căng thẳng,
đánh cong, bẻ cong, ăn ngon, mặc đẹp, sơn đỏ, chạy nhanh, viết châm, ăn mặn, uống ngọt, đẻ non, để ngược,
đánh liều, đẩy mạnh, đè nặng..
Những từ ghép theo cơ chế này những tiếng chính là động từ nên có ý nghĩa biểu thị sự hoạt động, tiếng phụ đi
sau chỉ đối tượng, mục đích, phương thức...của hoạt động. Cả 2 tiếng kết hợp tạo nên một khối kết hợp thành
một khái niệm hoàn chính biểu thị một loại hoạt động của sự vật.
2.3. Từ ghép chính phụ tính từ
Từ ghép chính phụ theo cơ chế này có một tiếng chính thường là do từ loại tinh từ đảm nhận. Tiếng đứng sau là
tiếng phụ thường là tính từ, danh từ, động từ, hoặc là thành tố phụ khác đã bị mờ hoặc mất nghĩa.
- Từ ghép chính phụ tính từ + danh từ: Tốt bụng, vui tính, mát tay, mát lòng, mát dạ, mát gan, lành nghề, mù
chữ, mù mắt, hay chữ, nhanh tay, nhanh mắt, nhanh trí, cao tay,...
- Từ ghép chính phụ tính từ + động từ: tươi cười, vui sống, buồn lo, buồn đau, dễ chịu, khéo nói, chăm học,
chăm làm, khó chịu, khó khăn, khó nói, khó ở, ham chơi, ham làm...
- Từ ghép chính phụ tính từ + tính từ: mát lạnh, xanh lơ, xanh thẩm, xanh đen, tím nhạt, đỏ đậm, ngọt dịu, háu
ăn, đỏ hồng, đau điếng, ướt dáo...
Từ ghép chính phụ được tạo ra theo cơ chế tiếng chính là tính từ, tiếng phụ là các từ loại khác kết hợp với nhau
theo quan hệ chính phụ sẽ tạo nên ý nghĩa trừu tượng chỉ tính chất, đặc điểm của các sự vật hiện tượng.