Cơ cấu nghĩa của từ
1. Một từ có thể có một hoặc nhiều nghĩa, nhưng đó không phải là những tổ chức lộn xộn.
Nếu là một từ nhiều nghĩa (đa nghĩa) thì các nghĩa đó của từ có quan hệ với nhau, được sắp xếp theo
những cơ cấu tổ chức nhất định.
Trong từng nghĩa của mỗi từ cũng vậy, chúng gốm những thành tố nhỏ hơn, có thể phân tích ra được
(dưới đây sẽ gọi là các nghĩa tố – seme) và cũng được sắp xếp theo một tổ chức nào đó.
Như vậy, xét cơ cấu nghĩa của từ là ta xác định xem từ đó có bao nhiêu nghĩa, mỗi nghĩa có bao nhiêu
thành tố nhỏ hơn, và tất cả chúng được sắp xếp trong quan hệ với nhau như thế nào.
2. Mỗi một nghĩa thường gồm một số nghĩa tố được tổ chức lại.
Nghĩa tố được hiểu là một dấu hiệu logic ứng với một thuộc tính chung của sự vật, hiện tượng (biểu vật)
được đưa vào nghĩa biểu niệm
Đó cũng chính là "yếu tố ngữ nghĩa chung của các từ thuộc cũng một nhóm từ hoặc riêng cho nghĩa của
một từ đối lập với nghĩa của những từ khác trong cùng một nhóm"
(1)
.
Ví dụ, một nghĩa của từ chân trong tiếng Việt được phân tích là: bộ phận thân thể động vật (ở phía dưới
cùng) để đỡ thân thể đứng yên hoặc vận động dời chỗ.
Trong nghĩa này, có ba dấu hiệu logic của sự vật ứng với ba thuộc tính chung của nó, đã được đưa vào.
Đó là ba nghĩa tố của một nghĩa trong từ chân.
Ba nghĩa tố trên đây được phát hiện thông qua sự tập hợp và so sánh với các từ khác: tay, đầu, vai,
ngực, bụng, lưng,
Nghĩa tố "bộ phận thân thể động vật" chung cho mọi từ trong nhóm.
Hai nghĩa tố còn lại được phát hiện thông qua so sánh với các từ trong nhóm để thấy những khác biệt
trong dấu hiệu logic về vị trí, chức năng của sự vật được gọi tên (biểu vật).
Ta có thể hình dung một tập hợp các nghĩa tố của nghĩa nghĩa cũng tương tự như một tập hợp các nét
khu biệt của một âm vị vậy. Chỉ có điều ở đây, các nghĩa tố nằm trong tương quan giả định lẫn nhau và
thuyết minh cho nhau. Chúng quan hệ thứ tự, tôn tri trong tổ chức nghĩa. Ví dụ: Trong nghĩa của từ
"chân" vừa phân tích, ta có ba nghĩa tố gọi theo thứ tự là a. b. c.
Tuy nhiên, đó không phải là thứ tự thời gian, tuyến tính, mà thứ tự từ cái lớn đến cái nhỏ, từ cái cần yếu
nhất đến cái ít cần yếu hơn Điều này được miêu tả lại trong từ điển như một "phổ" của những lời giải
nghĩa vậy.
3.2. Các nghĩa của từ đa nghĩa được xây dựng và tổ chức theo những cách thức, trật tự nhất định. Vì
vậy, người ta cũng có thể phân loại chúng. Có nhiều cách phân loại, nhưng thường gặp nhất là những
lưỡng phân quan trọng như sau:
3.2.1. Nghĩa gốc – Nghĩa phái sinh
Lưỡng phân này dựa vào tiêu chí nguồn gốc của nghĩa. Nghĩa gốc được hiểu là nghĩa đầu tiên hoặc
nghĩa có trước, trên cơ sở nghĩa đó mà người ta xây dựng nên nghĩa khác. Ví dụ với từ chân:
(1) Bộ phận thân thể động vật ở phía dưới cùng, để đỡ thân thể đứng yên hoặc vận động rời chỗ;
(2) Cương vị, phận sự của một người với tư cách là thành viên của một tổ chức (có chân trong ban quản
trị).
( )
Nghĩa 1 của từ chân ở đây là nghĩa gốc. Từ nghĩa 1 người ta xây dựng nên các nghĩa khác của từ này
bằng những con đường, cách thức khác nhau.
Nghĩa gốc thường là nghĩa không giải thích được lí do, và có thể được nhận ra một cách độc lập không
cần thông qua nghĩa khác.
Nghĩa phái sinh là nghĩa được hình thành dựa trên cơ sở nghĩa gốc, và vì vậy chúng thường là nghĩa có
lí do, và được nhận ra qua nghĩa gốc của từ.
Nghĩa 2 của từ chân vừa nêu là một ví dụ về nghĩa phái sinh.
3.2.2. Nghĩa tự do – Nghĩa hạn chế
Lưỡng phân này một mặt dựa vào mối liên hệ giữa từ (với tư cách là tên gọi) với đối tượng, mặt khác, là
khả năng bộc lộ của nghĩa trong những hoàn cảnh khác nhau mà từ xuất hiện.
Nếu một nghĩa được bộc lộ trong mọi hoàn cảnh, không lệ thuộc vào một hoàn cảnh bắt buộc nào, thì
nghĩa đó được gọi là nghĩa tự do.
Xét từ SẮT trong tiếng Việt, nó có nghĩa: Kim loại – rắn, cứng – màu sáng – tỉ khối 7,88 – nóng chảy ở
nhiệt độ 1535
0
C.
Nghĩa này là nghĩa tự do vì được bộ lộ trong mọi hoàn cảnh: Giường sắt, Mua sắt, Có công mài sắt có
ngày nên kim,
Ngược lại, nếu một nghĩa chỉ được bộc lộ trong một (hoặc vài) hoàn cảnh bắt buộc thì nghĩa đó được gọi
là nghĩa hạn chế. Ví dụ: Ngoài nghĩa vừa nêu, từ SẮT còn bộc lộ nghĩa "Nghiêm ngặt, cứng rắn, và
(Chế Lan Viên)
Trong khi đó, áo trắng trong hoàn cảnh nói sau đây lại không phải vậy:
Tôi về xứ Huế chiều mưa
Em ơi áo trắng bây giờ ở đâu
(Nguyễn Duy)
Những lưỡng phân trên đây chưa phải là toàn bộ sự phân loại nghĩa của từ, nhưng đó là những lưỡng
phân quan trọng. Chúng sẽ được vận dụng như những tiêu chí cần thiết trong khi phân tích để nhận diện,
chia tách nghĩa của từ đa nghĩa cho hợp lí.
3.3. Để xây dựng, phát triển thêm nghĩa của các từ, trong ngôn ngữ có nhiều cách. Tuy nhiên, có hai
cách quan trọng nhất thường gặp trong các ngôn ngữ là: chuyển nghĩa ẩn dụ (metaphor) và chuyển
nghĩa hoán dụ (metonymy).
3.3.1. Ẩn dụ
Ẩn dụ là một phương thức chuyển tên gọi dựa trên sự liên tưởng, so sánh những mặt, những thuộc
tính, giống nhau giữa các đối tượng được gọi tên.
Có thể diễn giải định nghĩa này như sau:
Giả sử ta co từ T với tên gọi cho đối tượng Đ1 (và lẽ đương nhiên, T có nghĩa S1).
Khi cần gọi tên cho một đối tượng Đ2 nào đó, mà người ta thấy giữa Đ1 và Đ2 có những đường nét,
những mặt nào đó giống nhau, người ta có thể dùng T để gọi tên luôn cho cả Đ2. Lúc này, một nghĩa S2
tương ứng được xác lập trong T.
Chúng ta nói rằng ở đây đã diễn ra một phép ẩn dụ.
Ví dụ: Từ CÁNH trong tiếng Việt có nhiều nghĩa. Khi định danh cho cánh chim, cánh chuồn chuồn,
cánh bướm, nó có nghĩa là: Bộ phận dùng để bay của chim, dơi, côn trùng; có hình tấm, rộng bản, tạo
thành đôi đối xứng ở hai bên thân và có thể khép vào, mở ra.
Trên cơ sở so sánh nhiều sự vật khác có hình dạng tương tự (hoặc người Việt liên tưởng và cho là chúng
tương tự nhau), người ta đã đã chuyển CÁNH sang gọi tên cho những bộ phận giống hình cánh chim ở
một vật: cánh máy bay, cánh quạt, cánh hoa; cánh chong chóng, cánh cửa, ngôi sao năm cánh; kề vai
sát cánh đấu tranh, cánh tay, cánh buồn; cánh rừng, cánh đồng, cánh quân, (những tên gọi về sau này
đã khác rất xa so với cánh chim).
3.3.2. Hoán dụ
Hoán dụ là một phương thức chuyển tên gọi dựa trên mối liên hệ logic giữa các đối tượng được gọi tên.