KHẢO SÁT MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA CÔN TRÙNG NƯỚC CHỈ THỊ VỚI Ô NHIỄM CHẤT HỮU CƠ TẠI CÁC THỦY VỰC TỰ NHIÊN Ở VQG CÁT TIÊN - Pdf 33

BÁO CÁO KẾT QUẢ

KHẢO SÁT MỐI TƯƠNG QUAN
GIỮA CÔN TRÙNG NƯỚC CHỈ THỊ
VỚI Ô NHIỄM CHẤT HỮU CƠ
TẠI CÁC THỦY VỰC TỰ NHIÊN
Ở VQG CÁT TIÊN


ÐẶT VẤN ÐỀ
Trong hành quân dã ngoại ngoài thiên nhiên của các đoàn khảo sát nghiên
cứu thực địa hay hành quân lập đồn trú của bộ đội trong rừng, điều cần thiết hàng
đầu đó là nước. Vì vậy, việc đánh giá nhanh các nguồn nước tại khu vực dã ngoại
là điều không thể thiếu. Trong khi không có các trang thiết bị phân tích nước đắt
tiền tại các phòng thí nghiệm cùng với việc cần thiết nhận biết nhanh một cách
định tính nguồn nước đề xử dụng ngay lập tức cho sinh hoạt thì việc tìm ra một
phương pháp đánh giá nhanh và thô nguồn nước tại nơi dã ngoại là điều vô cùng
quan trọng.
Ðặc thù địa lý ở miền Nam Việt Nam nhất là khu vực miền Ðông Nam Bộ
tập chung nhiều hệ thống sông suối đầu nguồn như: sông Ðồng Nai, sông Sài Gòn,
sông La Ngà… Các nguồn nước này đóng vai trò quan trọng trong sinh thái cũng
như cung cấp nước cho các thành phố lớn về phía hạ lưu như Tp. Hồ Chí Minh,
Tp. Biên Hoà. Nhưng hiện nay tình trạng ô nhiễm các nguồn nước tự nhiên, do các
khu công nghiệp, các hoạt động sinh hoạt của người dân dọc theo các nguồn nước
này ngày càng gia tăng. Vì vậy, trong công tác quản lý môi trường ở thành phố thì
việc nghiên cứu giám sát chất lượng các nguồn nước này là rất cần thiết.
Trong những nghiên cứu giám sát chất lượng nước từ trước đến nay ở miền
Nam Việt Nam, thông thường người ta chỉ chú trọng đến các chỉ tiêu hoá học và
hoá lý. Rất nhiều sinh vật nước là những chỉ thị quan trọng đối với chất lượng
nguồn nước lại ít được quan tâm. Thực trạng này đã dẫn đến việc đánh giá chưa
toàn diện, đầy đủ về hiện trạng của các nguồn nước. Việc áp dụng thêm các

Năm 1976, M. B. Ivanova đã nghiên cứu ảnh hưởng của nước bị nhiễm bẩn
lên giáp xác nổi và tác giả thấy rằng có thể sử dụng chúng để đánh giá mức độ
nhiễm bẩn của sông. So sánh kết quả nghiên cứu ở các con sông có nước thải vùng
Leningrat, Moskva, tác giả đã xác định được mối tương quan về số lượng trung
bình của 2 nhóm Cladocera và Copepoda. Từ đó tác giả rút ra kết luận: khi mức độ
nhiễm bẩn của sông tăng thì số loài giáp xác giảm xuống từ 1 – 2 lần và số lượng
của chúng cũng giảm xuống.
Tại Bỉ, năm 1978 đã có chương trình nghiên cứu chất lượng nước của tất cả
các nguồn nước ở Bỉ trên cơ sở dùng phương pháp kỹ thuật đánh giá bằng sinh học
(Lafontaine et al, 1979). Phương pháp luận cơ sở là sử dụng chỉ số sinh học Bỉ
(Belgian Biotic Index – BBI) của De Pauw (1983). Các kết quả thực hiện của
chương trình này cho thấy các chỉ tiêu hoá học (DO, NH4, PO4, BOD, COD) đều
có tương quan với BBI. Cũng theo De Pauw, 1 sơ đồ biểu thị các mức độ ô nhiễm
của từng lưu vực con sông Laan (Bỉ) theo các giá trị của BBI được thiết lập. Kết
quả thấy rằng sơ đồ này gần trùng hợp với sơ đồ xác định các mức độ ô nhiễm
nước bằng các chỉ thị hoá học.
Ở Anh người ta sử dụng các chỉ số sinh học Trent và Chandle và phát triển
rộng rãi thành điểm số về quan trắc sinh học (Biological monitoring working party
– BMWP score). Phương pháp này dựa vào việc thu mẫu và phân tích các mẫu
động vật không xương sống cỡ lớn theo các taxon họ khác nhau. Mỗi họ cho điểm
từ 1 – 10 tuỳ theo mức độ chống chịu với ô nhiễm của chúng.
Trong khoảng chục năm trở lại đây, vấn đề sử dụng sinh vật chỉ thị bắt đầu
được nghiên cứu áp dụng ở Châu Á. Mục tiêu của các nhóm nghiên cứu là đưa ra
các chỉ số sinh học phù hợp đánh giá chất lượng môi trường nước phù hợp với điều
kiện tự nhiên của khu vực, thậm chí của từng lãnh thổ.
2


Ở Thailand đã có nghiên cứu dọc theo sông Ping chảy qua Chaing Mai. Mẫu
được lấy ở vùng đất thấp và đất cao mà ở đó là khu vực nông nghiệp phát triển đã

Thành phần ưu thế:

- Suối, sông vùng thượng + Ðộng vật nổi: ấu trùng côn trùng Chaoborus
lưu (nước chảy, nền đá cứng, đá, sp., Chironomidae, Trichoptera, Plecoptera,
Helicoptera
cát, sỏi)
+ Thực vật nổi: Tảo Silic
+ Ðộng vật đáy: Trai họ Amblemidae

3


- Sông vùng đồng bằng Thành phần ưu thế:
(nước chảy chậm, đáy mềm: + Ðộng vật nổi: Giáp xác Cladocera
bùn, cát)
+ Thực vật nổi: Tảo Silic, tảo lục dạng sợi
(Spirogyra), tảo lam (Oscilatoria)
+ Trai hến Corbicula
- Sông vùng đồng bằng Thành phần ưu thế: Có các loài thuộc nhóm sinh
thái nước lợ.
thấp, ven biển
+ Ðộng vật nổi: Sinocalanus, Schmackeria,
Pseudodiaptomus
Ðặc tính dinh dưỡng

+ Thực vật nổi: Nở hoa thời kỳ mùa đông, chi
Melosira (taûo Silic), chi Microcystis (taûo lam)

- Phì dinh dưỡng hồ chứa
phía Bắc Việt Nam: hồ Hoà + Ðộng vật nổi: Giống ưu thế Daphnia,

nguồn nước. Các nhóm côn trùng nước có quan hệ rất mật thiết với môi
trường sống của chúng. Do đó, nếu chất lượng của một dòng chảy thay đổi,
chúng mất một thời gian rất lâu để hồi phục lại cấu trúc quần thể ban đầu. Vì
vậy, việc xác định các nhóm hiện diện trong dòng chảy, chúng ta có thể biết
được chất lượng của dòng chảy đó ở thời điểm khảo sát.
2. Mục tiêu
Nghiên cứu về mặt định tính khu hệ côn trùng nước ở một số thuỷ vực tại
Vườn Quốc gia Cát Tiên - Tỉnh Ðồng Nai, nhằm tìm ra một phương pháp đánh giá
nhanh chất lượng nguồn nước một cách sơ lược phục vụ cho dã ngoại.
II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
So sánh thành phần các nhóm côn trùng nước với chỉ tiêu BOD, COD môi
trường nước khu vực khảo sát, từ đó tìm ra những nhóm nhạy cảm làm chỉ thị để
nhận biết nhanh chất lượng nguồn nước tại nơi đây. Ngoài ra, trên cơ sở mẫu thu
được đối chiếu với hệ thống điểm BMWP (Biological Monitoring Working Party)
của Việt Nam để đánh giá nhanh chất lượng nguồn nước khu vực khảo sát
1. Ðịa điểm thu mẫu
Ðịa điểm thu mẫu gồm:
- Khu vực Thác dựng, Thác Trời: là thuỷ vực nước chảy quanh năm, không
chịu tác động của con người (do nằm khá sâu trong rừng)
- Khu vực thác Bến Cự: Là 1 trong những loại hình của vùng đất bán ngập
nước. Vào mùa khô thường xuất hiện các vũng, ao khô cạn.
- Khu đập tràn: là thuỷ vực chịu tác động của con người do quá trình xây
dựng đập để tích nước vào mùa khô
- Khu vực suối tạm: Ðây là con suối chạy trong rừng gần khu vực cầu Bến Cự
2. Thu mẫu côn trùng nước
2.1.

Dụng cụ thu mẫu

Côn trùng nước hiện diện cả dạng trưởng thành và trước trưởng thành tại vị trí

3. Xử lý mẫu:
Mẫu vật thu được trong môi trường nước (kể cả mẫu thu được ở mặt nước)
- Rửa sạch bằng nước, loại bỏ bùn, chất bẩn.
- Xử lý mẫu bằng Alcool 10%, hoặc bằng nước nóng 80oC
- Ðịnh hình và lưu trữ trong alcool 70%
Ngoài ra, côn trùng nước dạng trưởng thành có thể được thu thập trên không để
kiểm tra bổ sung phần định danh côn trùng. Trường hợp này, mẫu được gắn kim và
sấy khô 70oC từ 24 – 72 giờ hay hơn.
4. Thu mẫu nước:
- Việc thu mẫu nước nhằm mục đích phân tích chỉ tiêu hoá học (COD và
BOD), các phương pháp thu mẫu đều dựa vào TCVN 5996 – 1995 “ Chất
lượng nước lấy mẫu, hướng dẫn lấy mẫu ở sông và suối” :
4.1.

Thiết bị lấy mẫu

Vật liệu: Sử dụng các bình Polyetylen

6


4.2.

Phương pháp lấy mẫu

- Chọn địa điểm lấy mẫu: Là địa điểm nơi thu thập mẫu côn trùng
- Cách thức lấy mẫu: Nhúng bình Polyetylen xuống nước, ngập bình và thu
mẫu nước đến khi đầy bình.
- Ghi chú các thông tin cần thiết lên nhãn và dán vào bình.
+ Tên sông hoặc suối

Từ 107o09’05” đến 107o35’20”” kinh độ đông.
Với tổng diện tích tự nhiên là 74.219ha
2. Ðịa hình địa mạo:
Ðặc điểm nổi bật về địa hình cuả VQG CátTiên là ở cuối cùng cuả dãy
Trường Sơn, vùng chuyển tiếp xuống địa hình đồng bằng Nam bộ nên có cả địa
hình vùng núi và địa hình vùng đồi có độ cao tuyệt đối (độ cao so với mặt nước
biển) từ 100m - 670m.
3. Nhóm nhân tố đá mẹ - thổ nhưỡng:
Từ nền địa chất với 3 cấu tạo chính là: Trầm tích, Bazal và Sa phiến thạch đã
phát triển hình thành 4 loại đất chính của Vườn Quốc Gia Cát Tiên như sau:
+ Ðất phát triển trên đất Bazal (Fk)
+ Ðất phát triển trên đá cát (Fq)
+ Ðất phát triển trên đá sét (Fs)
+ Ðất phát triển trên phù sa cổ (Fo):( Ðất xám bạc màu trên phù sa cổ)
4. Nhóm nhân tố khí hậu - thuỷ chế:
4.1. Khí hậu:
Vườn Quốc gia Cát Tiên cũng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa.
Trong năm có 2 mùa mưa và mùa khô rõ rệt. Mùa mưa thường từ tháng 5 đến
tháng 10, mùa khô thường từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.
4.2. Thủy chế:
VQG Cát Tiên có một hệ thống sông, suối, đầm, bầu rất phong phú và đa
dạng:
- Sông Ðồng Nai bao bọc phía Bắc, phía Tây và phía Ðông VQG với chiều
dài vào khoảng gần 90km, có lưu lượng nước bình quân là 405 m3/ngày.
8


- Có nhiều hệ thống suối lớn phân bố tương đối đều trong VQG như:
+ Suối Leh, Ðarsoni, suối Ðambri, Ða Thai, ÐaceNac, Ða Nhor (khu vực
Bắc Cát Tiên tỉnh Lâm Ðồng).

1.2.

Nhộng

Những con nhộng bị bọc ở trong cái kén bịt kín ngoại trừ con trưởng thành.
Phụ thuộc không nhiều vào cơ thể nhưng cánh thì gắn chặt vào cơ thể. Râu nhìn
chung rất dài, hàm dưới khỏe và thường chéo lẫn nhau.
1.3.

Cánh lông trưởng thành

Thành trùng hầu hết có râu rất dài và cánh xếp theo vòm mái nhà, khắp cơ
thể được bao phủ bởi một lớp lông cứng.
9


1. Họ Philopotamidae
1.1.Ấu trùng: Khi trưởng thành chúng thường dài 10 – 12mm nhưng 1 vài
trường hợp lên tới 16,5mm. Ðầu thì dài ra nó là mép ngoài. chỉ có 1 tấm lưng.
Phần bụng có khuynh hướng cuộn lại và không có gills.
1.2. Đặc điểm
Ấu trùng chỉ có ở khu vực nước chảy mạnh, của những con suối. Tổ của
chúng không bị giới hạn và dạng thuôn dài, miệng tổ hướng về phía đầu nguồn.
Thức ăn của ấu trùng bao gồm cả thực vật và động vật.
2. Họ Hydrosychidae
2.1. Ấu trùng
Thường có cơ thể cong mạnh, thường có kích thước 10-16mm khi trưởng
thành, có khi lên đến 30mm. Cả 3 đốt ngực đều có những tấm lưng rất phát triển.
Mang có nhánh có ở bụng của đốt ngực 2 và 3 và ít nhất ở những đốt bụng 1-6.
Bụng có những lông nhỏ. Chân giả ở hậu môn thường có những chùm lông dài.


Ấu trùng

Ấu trùng có dạng thuôn dài, trụ tròn đến dẹt phẳng, khi thành thục có chiều
dài từ 3 - 20m, hiếm khi tới 30mm hoặc hơn. Ðầu có đôi mắt phát triển tốt, râu
thon và phần phụ miệng nghiền, nhai. Chúng thường có chân khoẻ trên đó có một
cái vuốt hoặc hiếm khi không có. Mọc từ hai bên bụng là một hàng mang khác
nhau, ở một vài loài, hầu hết những tấm mang được làm từ những cặp mang rộng
lớn phía trước mà nó che phủ và bảo vệ cơ thể hoặc một yếm ngực. Cuối cơ thể là
2 hoặc 3 đuôi dài.
2.2.

Ðặc điểm trưởng thành

Những côn trùng này mềm, có 2 - 4 cánh hay nhiều hơn, hình tam giác với
nhiều gân. Những cánh này được dựng ngược trên cơ thể khi chúng nghỉ ngơi. Ðầu
thường có đôi mắt phát triển tốt (đặc biệt là ở con đực), râu nhỏ và phụ bộ miệng
không có chức năng rõ rệt. Chân có chiều dài khác nhau, chân trước thường dài
nhất. Bụng thuôn dài và tận cùng có 2 hoặc 3 đuôi, thon.
2.3.

Ðời sống

Ðây là dạng côn trùng có hình thức biến thái không hoàn toàn. Hầu hết có
một hoặc hai thế hệ/năm và thời gian ấu trùng phát triển kéo dài từ vài tuần đến 2
năm.
Những con gần thành trùng có những cái cánh mờ với hàng lông nhỏ. Phù
du thường tồn tại ở giai đoạn gần thành trùng trong 1 hoặc 2 ngày, chúng bám vào
thực vật ven bờ nhiều giờ trước khi vũ hoá. Sự biến đổi từ giai đoạn gần thành
trùng sang giai đoạn trưởng thành thực chất đó là sự làm sạch những cái cánh để

đôi khi là nhóm phù du vượt trội ở nhiều vùng. Ấu trùng thường ẩn trong các loại
đá xốp, sỏi, những mảnh vụn hoặc ở cạnh bờ sông.
4. Họ Ephemeridae
4.1. ấu trùng: Ðây là loài tiêu biểu cho dạng đào bới kích thước cơ thể
khoảng 12 – 32mm. Ngàm không có răng hay chỉ là 1 vài gai cơ bản. Có 3 đuôi .
4.2. đặc điểm: có khoảng 13 loài đã được biết đến, Ấu trùng sống trong bùn,
chất cặn nền ở sông, suối, ao, hồ, chúng ăn ít và một số ăn cặn, chúng rời khỏi
hang vào ban đêm.
5. Họ Baetidae
5.1. Ấu trùng: Cơ thể thon dài với chiều dài 3-12 mm khi thành thục. Ðầu có
dạng thẳng đứng và râu dài gấp đôi chiều rộng đầu. Cánh sau tiêu biến hoặc nhỏ.
Mang dạng tấm ở đốt bụng 1-7, 1-5 hay 2-7. 2 hoặc 3 đuôi.
5.2. Ðặc điểm: Ấu trùng sống ở những thuỷ vực nước chảy và nườc đứng,
thường tạo thành thành phần rộng lớn ở nền đáy. Môi trường sống của chúng
tương đối rộng lớn như suối, những dòng nước, hồ sạch, vùng nước ấm, và thậm
chí cả những vùng cống rãnh.
3. BỘ PLECOPTERA (Cánh úp, bọ đá Stoneflies)
Bọ đá (Stoneflies) cư trú ở môi trường nước ngọt dạng ấu trùng. Chúng có
họ hàng với gián và giữ được điều kiện nguyên thủy là có đuôi. Tên thông thường
của chúng xuất phát từ những cá thể của nhiều loài được tìm thấy đang trườn hoặc
đang ẩn mình giữa các tảng đá ở các dòng suối hoặc dọc theo bờ sông. Gần 500
loài bọ đá được biết đến. Nhiều loài được biết đến như những côn trùng chỉ thị cho
các vùng nước sạch.
3.1.

Ấu trùng

Có dạng thon dài, dẹt hoặc hình trụ, dài 5-35mm (không bao gồm đuôi), có
khi dài tới 60mm khi thành thục. Ðầu có đôi mắt to vừa phải và tách biệt, râu thon
dài, phụ bộ miệng kiểu nghiền. Chân khá phát triển, và cuối mỗi chân có hai vuốt.

để phân biệt họ này với tất cả các họ khác của bộ Plecoptera.
Có khoảng gần 40 loài được biết đến. Ấu trùng xuất hiện trong môi trường
nước chảy, thường dưới các tảng đá ở chỗ nông và đôi khi trong nền cát. Vòng đời
đôi khi cần hơn một năm.
2. Họ Peltoperlidae
2.1. Ấu trùng: Ấu trùng trưởng thành dài 8-15mm trừ đuôi. Hình dạng của
môi dưới là sự kết hợp của 3 vết khía hình V dọc bên ngòai mép. Ngực lớn và dễ
thấy, tấm lưng của ngực che phủ một phần đỉnh đầu và các đốt ở gốc bụng.
2.2.

Ðặc điểm:

Nhóm có 5 giống và 12 loài. Ấu trùng là những sinh vật ăn cỏ dựa trên các
chất thối rửa xuất hiện ở các dòng suối và thác ở những vùng núi hoặc đồi, giữa
các vật vụn.
4. BỘ COLEOPTERA (Cánh cứng Beetles)
Bọ cánh cứng là nhóm lớn nhất và có lẽ là tiến hoá nhất trong thế giới côn
trùng. Sự thay đổi trong thích nghi của chúng được phản ánh bởi khoảng 300.000
loài được biết đến. Trong đó có hơn 1000 loài sống thuỷ sinh và bán thuỷ sinh.

13


Một số loài ở suối là sinh vật chỉ thị rất tốt cho chất lượng nước. Một số bọ
cánh cứng thuỷ sinh khác gây hại cho lúa, một số có ích trong việc kiểm soát cỏ
dại thuỷ sinh.
4.1.

Hình thái trưởng thành


Sự thích nghi với môi trường nước

Bọ cánh cứng thuỷ sinh xuất hiện các trạng thái ấu trùng, trưởng thành hoặc
cả hai ở nhiều độ sâu khác nhau của môi trường thuỷ sinh và bán thuỷ sinh. Chất
lượng của nước không hạn chế nhiều loài côn trùng thuỷ sinh vì nhiều bọ cánh
cứng thuỷ sinh sử dụng khí quyển hơn là ôxy hoà tan trong nước cho sự hô hấp.
Chúng được biết từ nước mặn, suối nước nóng, vùng triều lên xuống, tầng nước
ngầm và những hố cây, hầu như tất cả các môi trường sống nước ngọt đều rất tốt.
1. Họ Dytiscidae (Bọ cánh cứng ăn thịt trong nước)
1.1.
Ấu trùng: ấu trùng hình thon dài từ 5 – 70mm khi trưởng thành.
Chân trước mảnh. Bụng có 8 đốt và thường có dạng hình nón ở cuối, không có
móc ở phần cuối bụng.
1.2.

Ðặc điểm:

Ấu trùng của bọ cánh cứng ăn thịt thường có 1 phần ngực trước từ mảnh đến
khoẻ và có dạng hình liềm, hàm dưới kém phát triển giúp cho việc nhận biết của
chúng. Ấu trùng của những loài ăn xác thối, ở một khía cạnh khác, thường có hàm
khoẻ với một hoặc nhiều răng.
14


2. Họ Gyrinidae
2.1. Ấu trùng: Hình thon, kích thước khoảng 30mm, bụng có tơ bên và phần
cuối có 4 móc.
2.2. Ðặc điểm:
Họ xuất hiện ở các vũng nước tù hoặc nước chảy, đặc biệt ở ao và suối. Con
trưởng thành thường được tìm thấy ở bề mặt của nước tĩnh và đặc biệt thích nghi

và chuồn chuồn ngô (Dragonflies). Ðây là trạng thái côn trùng nguyên thuỷ được
tiến hoá bởi phù du (mayflies) và giống như phù du, chuồn chuồn có hình dạng rất
15


khác biệt với các nhóm côn trùng ngày nay. Chúng là một trong những bộ côn
trùng nước cơ bản, vào khoảng 450 loài, đặc biệt ở những vùng nhiệt đới. Chuồn
chuồn là một trong những bộ lớn nhất của nhóm côn trùng dưới nước. Dạng trưởng
thành trên cạn được biết bởi màu sắc rất đẹp và khả năng bay lượn.
5.1.

Ấu trùng:

Ấu trùng dài, thon hoặc có dạng mập, có kích thước lớn (10 - 16mm). Râu dễ
thấy, rõ ràng. Hàm nhai biến đổi thành môi dùng để cầm nắm. Bình thường thì môi
này gập lại để bảo vệ đáy của hàm và những mảnh môi khác. Chân ngực rất phát
triển. Hai đôi cánh mầm hiện diện. Mang không hiện diện dọc cơ thể, ấu trùng
không có đuôi, tuy nhiên cuối bụng có 3 cấu trúc dạng nêm ngắn (ở chuồn chuốn
ngô) hoặc 3 tấm đuôi dẹt (ở chuồn chuồn kim)
5.2.

Ðặc điểm:

Odonata là côn trùng có hình thức bi?n thái không hoàn toàn.
Những con trưởng thành có thể sống từ vài tuần đến vài tháng. Trong giai
đoạn hoạt động sau đó dạng trưởng thành chưa có màu sắc hoàn chỉnh và chưa
thành thục về mặt sinh dục.
Sự giao phối diễn ra rất phức tạp. Giữa chuồn chuồn kim và chuồn chuồn
ngô có cách thức giao phối hoàn toàn khác nhau
5.3.

hơn chiều dài của đốt bụng thứ 9.
2.2. Ðặc điểm:
Ðây là nhóm lớn nhất của chuồn chuồn với hơn 90 loài và phân bố rộng.
Môi trường sống là những ao hồ thông thường. Chúng cũng xuất hiện ở
những đầm lầy, bụi rậm và những vùng nước đứng của những con sông và suối,
đôi khi trong những mạch nước hoặc rãnh mương. Nhiều loài có thể thích ứng đối
với mỗi môi trường đa dạng và chịu đựng được ở những mức oxy thấp hoặc những
môi trường nhiệt đới cao.
Nhìn chung, họ này thường được tìm thấy xung quanh những vũng ao.
Những giống này được biết đến vì có những cặp cánh rất đẹp.
3. Họ Gomphidae (Chuồn chuồn ngô, bộ phụ Anisoptera)
3.1. Ấu trùng: Ấu trùng thường có hình dạng biến thiên và thường dài 23 40mm, hiếm khi đạt đến 65mm con trưởng thành. Râu được chia làm 4 đốt, đốt thứ
3 lớn và mập, đốt thứ 4 khá nhỏ và thỉnh thoảng không nhận ra. Môi dạng tấm.
3.2. Ðặc điểm:
Ðây là họ lớn, phân bố rộng bao gồm khoảng 18 giống và hơn 80 loài
Ấu trùng của họ đào hang trong cát, phù sa hoặc thỉnh thoảng bám chặt ở
những giá thể đã chết ở sông, suối hay trong các ao, hồ. Chúng nằm chờ cho con
mồi chết từng phần. Một số giống có thể chịu được ở vùng nước sạch của những
con suối không luân chuyển.
6. HEMIPTERA (BỘ CÁNH NỬA)
Bộ cánh nửa là một bộ lớn gồm cả các họ trên cạn và ở nước v?i kho?ng 300
loài. Khoảng 100 loài được tìm thấy dọc theo bề mặt của nước. Nhiều loài bọ nước
được biết đến bởi kích thước lớn và khả năng trượt trên nước tài tình của chúng.
Cả dạng chưa thành thục và thành thục đều có sự thích nghi tương tự nhau
với sự tồn tại trong môi trường nước. Hầu hết các loài bọ nước đều là loài ăn thịt
và gây nhiều thiệt hại cho các côn trùng sống trong nước kể cả các loài như là
muỗi. Một vài loài là thức ăn quan trọng cho cá.
6.1.

Mô tả:

xoan. Con trưởng thành 15 – 45mm (không tính phần ống thở). Chân trước thích
nghi bắt mồi. Phần cuối bụng rất phát triển, có ống thở dài (đôi khi hơn 20mm) ở
con trưởng thành gồm 2 cấu trúc giống như roi.
1.2. Ðặc điểm:
Họ phân bố rộng và có khoảng 13 loài
Bò cạp nước xuất hiện ở các dòng suối, ao, đầm lầy thường ở giữa các mảnh
vụn hoặc thực vật tại chỗ nước nông. Chúng bơi kém nhưng thỉnh thoảng chèo
vụng về băng qua nước. Chúng thở bằng cách duy trì sự tiếp xúc giữa không khí và
bề mặt nước bằng ống thở kéo dài. Các cơ quan cảm giác nằm ở bụng giúp cho bò
cạp nước định hướng được dưới nước
2. Họ Corixidea
2.1. Mô tả: Những con này hơi phẳng, cấu trúc song song, dạng bơi. Con
trưởng thành dài 3-11mm. Mỏ ngắn, tù, hình tam giác không có đoạn rõ ràng.
Chân trước ngắn, xương cổ chân được biến đổi thành cấu trúc dạng muỗng. Chân
sau biến thành dạng mái chèo với lông bơi phát triển.
2.2. Ðặc điểm:
Họ Corixidae là nhóm lớn nhất trong bọ nước với hơn 100 loài
Những loài bơi tự do sống trong một số sinh cảnh bao gồm nước chảy hay
nước đứng, hồ nước lợ… Chúng là côn trùng thường thấy ở hồ ao cạn và một vài
loài chịu được ô nhiễm cao. Không khí thì được chứa chủ yếu ở bộ giáp bụng trên
cơ thể. Bộ giáp có khả năng như mang vật lý được tăng thêm nhờ vào sự chuyển
động chèo thuyền của chân sau (như hệ thống thông gió). Do đó Corixidae ít dựa
vào oxygen trong không khí hơn là những loài côn trùng nước khác mặc dù phải
lên mặt nước thường xuyên hơn ở những nơi nghèo oxygen.
18


1. Họ Gerridae
3.1. Mô tả: Những loài này thường có chân thon thả hay to lớn, dài. Con
trưởng thành dài 3 - 20mm có cánh, cánh ngắn hay không cánh. Các vuốt ở trước

những con ruồi màu đen, loài ruồi chích hút, những con ruồi nhỏ, những con ruồi
ngựa và một số loài sống ở dưới nước đều có thức ăn là máu người, vật nuôi và cả
những động vật hoang dã. Chúng thường là những con vật truyền nhiễm bởi vì thói
quen của chúng là hút máu hoặc chúng rất độc và chúng thường nhằm vào những
người bị bệnh tật bởi lượng máu lấy được sẽ lớn hơn, chúng gây ra những vết
19


thương đau đớn, và đôi khi chúng là nguyên nhân gây ra dị ứng. Ðiều quan trọng
hơn, một vài loài, đặc biệt là nằm trong số những loài muỗi có khả năng truyền
những bệnh đáng sợ, như bệnh viêm não, sốt rét, sốt vàng da…
7.1.

Ấu trùng:

Ấu trùng thường có hình thon dài, hình dạng giống con giòi thường có chiều
dài từ 1 - 100 mm. Ðầu có thể phát triển hoặc không phát triển và dễ nhận thấy.
Mắt của chúng thường kém phát triển. Ðôi râu phát triển khác nhau. Phần miệng
thường có những thay đổi lớn. Ngực không bao giờ có 3 đôi chân có đốt nhưng
một số có 1 hoặc 2 đôi chân giả hiện diện ở phía trước. Ðôi cánh bị tiêu biến đi.
Bụng có 8 – 10 đốt; bụng có thể có những đôi chân giả phát triển khác nhau; đốt
cuối cùng có thể có đôi chân giả hoặc có nhiều thịt hoặc có nhiều sợi nhỏ.
7.2.

Nhộng:

Nhộng có thể hoạt động hoặc nằm yên, và phần nhiều sống dưới nước. Bao
kén ngoài của nhộng đã đã ngăn cản sự phát triển của đôi cánh và chân. Ngực có
một đôi cánh phát triển. Thông thường những con nhộng sống tự do cũng có bộ
máy hô hấp ở phía cuối.

được đặt dưới sự kiểm soát chặt chẽ.
2. Họ Chironomidae (Họ muỗi vằn)
2.1. Ấu trùng: Ấu trùng thon, trụ dài, hơi cong, 2-20mm, đôi khi lớn hơn. Có
một đôi chân giả trước ngực và một đôi ở cuối. Ðốt cuối cùng có một cặp u ở lưng,
mỗi cục mang một chùm lông .
2.2. Ðặc điểm: Ấu trùng thường lớn. Các họ phân bố theo vùng địa lý dễ
phân biệt. Có hơn 100 giống, nhiều hơn 2000 loài. Những loài mới đuợc tìm thấy
với tốc độ nhanh. Nhóm này là nhóm thích nghi rộng rãi nhất trong tất cả các loài
côn trùng thủy sinh. Ấu trùng của loài này được coi là quan trọng vì là thức ăn của
cá và chỉ thị chất lượng môi trường. Các muỗi vằn trưởng thành thường có đời
sống ngắn và không ăn, mặc dù có vài ngoại lệ. Chúng thường bị lôi cuốn bởi ánh
sáng và đôi khi nổi lên với số lượng lớn.
3. Họ Simulidae (Ruồi đen)
3.1. Ấu trùng: Hình trụ, thường có kích thước từ 3 - 8mm, hiếm khi đến
12mm hoặc hơn. Ðầu thường có dạng hình quạt với chùm lông ở miệng. Ngực
trước có một chân giả nơi bụng, có khi chân giả không xuất hiện. Bụng thường
phình ra phía sau và phần đuôi gắn với một chiếc đĩa.
3.2. Ðặc điểm: Sự phồng lên ở phần cuối của cơ thể có lẽ là những đặc điểm
để nhận biết ấu trùng ruồi. Có trên 150 loài
Ấu trùng hầu như được gắn với đá, mảnh gỗ vụn, thực vật bôûi phần cuối
bụng trong dòng chảy của sông và suối.

21


KT QU - THO LUN
I. THNH PHN CC H CễN TRNG NC TI VQG CT TIấN
- Cỏc mu cụn trựng thu sinh sau khi thu thp, em v phũng thớ nghim x
lý, tin hnh nh danh v thu c kt qu sau:
Bng 1: Thnh phn cỏc nhúm cụn trựng nc ti VQG Cỏt Tiờn


0

+

+

1. Heptageniidae (10)

+++

+++

0

++

0

2. Leptophlebiidae (10)

++

++

0

+

0


++

+

++

1. Perlidae (10)

+++

+++

0

+++

0

2. Peltoperlidae

+

0

0

+

0


0

+

0

1. Elmidae (5)

0

0

+

0

+

2. Psephenidae (5)

+

++

+

+

+

4. Gyrrinidae (5)

0

0

0

+

+

1. Nepidae (5)

0

0

0

+

0

2. Gerridae (5)

+++

+++


1. Simuliidae (5)

+

+

++

+

+

2. Culicidae

0

0

+++

0

+++

3. Chironomidae (2)

0

0


+

+

0

0

0

+++

0

+++

0

0

++

0

++

18

18


0 : Vắng mặt
23


+ : ít gặp
++ : thường gặp
+++: xuất hiện nhiều
( ): điểm số BMWPVietnam
NHẬN XÉT
- Có tổng số 28 họ, 12 bộ thu được và định danh tại VQG Cát Tiên. Ða số các
họ đều thuộc các nhóm côn trùng nước (trừ họ Viviparidae, họ
Glossiphonidae, họ Thiaridae). Vì vậy, có thể cho thấy trong môi trường
nước tại các thuỷ vực chủ yếu là các nhóm côn trùng nước. Trong các họ
nêu trên có 3 họ không tham gia trong bảng tính điểm BMWP là: Họ
Peltoperlidae (Bộ Plecoptera), Họ Culicidae (Bộ Diptera), Họ Pyralidae (Bộ
Lepidoptera).
- Dựa vào bảng trên cho thấy tại khu đập tràn thác Bến cự có số họ đông đảo
nhất 20/28 họ, điều này có được giải thích các nhóm côn trùng nước ở nơi
đây tương đối đa dạng là do khu vực này vào mùa mưa nước chảy ra như
những dòng suối nhỏ, nên đã làm tăng lượng oxy hoà tan trong nước, cùng
với nền có nhiều đá, sỏi nhỏ và lá cây rụng là giá thể tốt cho các nhóm côn
trùng nước sống đáy làm tổ. Vì vậy, đây là khu vực thu hút được tương đối
nhiều nhóm côn trùng nước ở đáy.
- Tại khu vực thác dựng – thác trời: Do đây là những địa điểm có nước chảy
mạnh quanh năm, dòng nước chảy rất siết. Vì vậy, điều kiện thu mẫu bị hạn
chế nên thành phần các họ côn trùng nước tương đối thấp.
- Khu suối tạm trong rừng gần thác Bến Cự, tuyến Bằng lăng: Ðây chỉ là
những con suối nhỏ chảy trong rừng, mực nước thấp vào mùa khô thường
cạn. Vì vậy, thành phần thuỷ sinh vật thấp. Ấu trùng chủ yếu là các nhóm
côn trùng có điểm số BMWP thấp (Bộ Coleoptera, Oligochaeta,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status