Khu vực kinh tế tư nhân ở thành phố hà nội trong thời kỳ đổi mới thực trạng và giải pháp phát triển luận văn ths ki - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

LƯU THỊ HỒNG VIỆT

Khu vực kinh tế tư nhân ở thành phố Hà Nội trong
thời kỳ đổi mới - thực trạng và giải pháp phát triển

LUẬN VĂN THẠC SỸ

Người hướng dẫn: TS. Đinh Quang Ty

Hà nội - 2004


MỤC LỤC
......................................................................................................

1

Chƣơng 1. Sự cần thiết của khu vực kinh tế tƣ nhân đối với sự phát
triển kinh tế - xã hội ở thành phố Hà Nội................................

5

Mở đầu

1.1. Những luận cứ chủ yếu đúc rút từ lịch sử kinh tế thị trường và
từ hệ quan điểm của các nhà kinh điển mác-xít. ...................................................
5
1.2. Duy trì và khuyến khích sự phát triển lâu dài của khu vực kinh

Chƣơng 3. Mục tiêu, phƣơng hƣớng và các giải pháp phát triển khu
vực kinh tế tƣ nhân ở thành phố Hà Nội trong giai đoạn
2005 - 2010..................................................................................

75

3.1. Mục tiêu và phương hướng phát triển khu vực kinh tế tư nhân
trên địa bàn thành phố Hà Nội..............................................................................
77
3.2. Các giải pháp đẩy mạnh phát triển khu vực kinh tế tư nhân trên
địa bàn thành phố Hà Nội.....................................................................................
84
Kết luận........................................................................................................

101


Danh mục tài liệu tham khảo......................................................................

1

103


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đổi mới cơ chế, hoàn thiện quan hệ sản xuất theo nguyên tắc phù hợp
với trình độ phát triển lực lượng sản xuất của các thành phần kinh tế là một
thành công lớn của Đảng ta trong thời kỳ qúa độ lên chủ nghĩa xã hội. Với
những đổi mới trong tư duy lý luận, cơ chế và chính sách, Đảng và Nhà nước

nghề, trình độ kỹ thuật, công nghệ, tính năng động sáng tạo trong hoạt động
sản xuất kinh doanh của khu vực này còn thấp. Vì vậy, việc nghiên cứu để
đánh giá đúng vai trò, vị trí của khu vực kinh tế tư nhân ở thành phố Hà Nội
trong thời gian hiện nay, từ đó đưa ra những giải pháp chính sách hợp lý cho
sự phát triển khu vực kinh tế tư nhân ở thành phố Hà Nội là một vấn đề cần
thiết, nhằm góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển với tốc độ nhanh, chống
“tụt hậu” về kinh tế so với cả nước, tạo điều kiện nhanh chóng hội nhập với
nền kinh tế khu vực và thế giới.
Với những lý do trên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài: “Khu vực kinh tế tư
nhân ở thành phố Hà Nội trong thời kỳ đổi mới - thực trạng và giải pháp
phát triển” để thực hiện luận văn cao học, với hy vọng đóng góp một phần
cho sự phát triển kinh tế tư nhân ở thành phố Hà Nội.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm trước đổi mới, theo cách tư duy cũ, thành phần kinh
tế tư nhân được xem là đối tượng cải tạo và phải xoá bỏ, vì thế việc nghiên
cứu và phát triển thành phần kinh tế này hầu như không được đặt ra. Từ khi
Đảng ta khởi xướng công cuộc đổi mới, chủ trương đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước, đặc biệt là chuyển nền kinh tế nước ta sang nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, việc nghiên cứu về thành
phần kinh tế tư nhân trở nên sôi động và được nhìn nhận theo hướng tích cực
ở nhiều góc độ khác nhau. Từ năm 1986 cho đến nay đã có nhiều bài báo,

3


tham luận khoa học, các công trình nghiên cứu về thành phần kinh tế này cụ
thể như:
- Đào Thị Phương Liên (1995): “Sự phát triển của kinh tế tư nhân
trong giai đoạn chuyển nền kinh tế Việt Nam sang kinh tế thị trường”, Luận
án tiến sĩ kinh tế, Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội.

Đối tượng: Nghiên cứu vai trò, vị trí và thực trạng của khu vực kinh tế
tư nhân trên địa bàn thành phố Hà Nội
Phạm vi nghiên cứu: Khu vực kinh tế tư nhân trên địa bàn thành phố
Hà Nội trong thời kỳ đổi mới
5. Cơ sở lý luận, phƣơng pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu
Cơ sở lý luận: Dựa trên những luận cứ chủ yếu đúc rút từ lịch sử kinh
tế thị trường và từ hệ quan điểm của các nhà kinh điển mácxít, đặc biệt đi từ
góc độ sở hữu để phân tích về kinh tế tư nhân.
Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu:
Luận văn vận dụng các phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp
duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, các phương pháp nghiên cứu khoa
học khác như: tổng hợp, phân tích, thống kê, so sánh... dựa trên các nguồn tài
liệu thu thập được về kinh tế tư nhân ở thành phố Hà Nội.
6. Đóng góp của luận văn: Xác định cơ bản vai trò, vị trí của khu vực
kinh tế tư nhân trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần ở thành phố Hà Nội
hiện nay, từ đó nêu lên một số giải pháp để phát triển khu vực kinh tế tư nhân
trong những năm tới, nhất là từ năm 2005 - 2010.
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu,
giảng dạy và học tập môn học có liên quan.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương, 8 tiết.
5


Chƣơng 1: Sự cần thiết của khu vực kinh tế tư nhân đối với sự phát
triển kinh tế - xã hội ở thành phố Hà Nội.
Chƣơng 2: Tiềm năng, lợi thế phát triển và thực trạng của khu vực
kinh tế tư nhân ở thành phố Hà Nội.
Chƣơng 3: Mục tiêu, phương hướng và các giải pháp phát triển khu

Để có nhận thức đúng và chính sách đúng đối với kinh tế tư nhân ở
Việt Nam nói chung và ở thành phố Hà Nội nói riêng, dĩ nhiên là cần phải
bám sát thực tế và những đặc điểm riêng của quốc gia, của địa phương. Ở đây,
chúng tôi chưa đi sâu vào khía cạnh này, vấn đề mà chúng tôi muốn nhấn
mạnh là: không thể biệt lập hoá kinh tế tư nhân ở Việt Nam nói chung và ở
Hà Nội nói riêng; trái lại phải đặt nó trong mối liên hệ với những trật tự khách
quan và có tính phổ biến đã được kiểm nghiệm bởi lịch sử hình thành và phát
triển của nền kinh tế thị trường trên thế giới nói chung.
1.1.1.1. Lịch sử phát triển kinh tế của nhân loại không thể tách rời vai
trò của kinh tế tư nhân
Xét về góc độ lịch sử của nhân loại nói chung, kinh tế tư nhân ra đời
tồn tại và phát triển là một tất yếu khách quan. Điều đó về căn bản được quy
định bởi quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất. Ở các xã hội khác nhau, kinh tế tư nhân đạt tới
trình độ phát triển khác nhau và có vai trò cụ thể khác nhau, và vì vậy, sự nhìn
nhận về vị trí của kinh tế tư nhân ở từng thời kỳ cũng khác nhau.
Ngay từ khi nền sản xuất hàng hoá mới ra đời, ở nhiều nước châu Âu,
kinh tế tư nhân đã bắt đầu xâm nhập vào hầu hết các lĩnh vực trong đời sống
kinh tế - xã hội. Dựa trên nền tảng của sở hữu tư nhân, kinh tế tư nhân phát
triển một cách tự phát và khá nhanh bên trong nền sản xuất hàng hoá giản
đơn, với nhiều loại hình sản xuất, kinh doanh, buôn bán đa dạng và phong
phú. Trong nền kinh tế hàng hoá có quy mô nhỏ, kinh tế tư nhân chiếm tỉ
trọng lớn nhất và có vai trò rất quan trọng trong việc đáp ứng những nhu cầu
tiêu dùng cơ bản của xã hội loài người.
7


Trong xã hội phong kiến ở các nước phương Đông, do sự thống trị của
tầng lớp vua chúa và quan lại, với cơ chế ban phát - cống nạp, quan hệ buôn
bán dường như bị ngăn cấm, bài xích. Kinh tế tư nhân dưới cơ chế này bị

chung và ở thành phố Hà Nội nói riêng trong quá trình xây dựng nền kinh tế
thị trường là hoàn toàn phù hợp với quy luật tiến hoá chung của thế giới.
1.1.1.2. Vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường nói
chung
Từ kinh nghiệm của thế giới, có thể khẳng định rằng: không có kinh tế
tư nhân thì về thực chất cũng không có kinh tế thị trường; trong khi đó kinh tế
thị trường lại là con đường phát triển mang tính phổ biến đối với cả nhân loại.
Trong mọi nền kinh tế thị trường, sự tăng trưởng và phát triển của khu
vực tư nhân và sự phát triển của cộng đồng gắn liền với nhau trong mối quan
hệ phụ thuộc lẫn nhau. Sự tăng trưởng và phát triển của khu vực tư nhân sẽ
đem lại thu nhập cao hơn, y tế và giáo dục tốt hơn cho người dân trong cộng
đồng. Mặt khác, đối với các doanh nghiệp, thu nhập cao hơn có nghĩa là thị
trường rộng lớn hơn, sức khoẻ và giáo dục tốt hơn thì lực lượng lao động có
năng suất cao hơn và năng suất cao hơn sẽ đem lại nhiều lợi nhuận hơn.
Vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường được thể hiện
trên những khía cạnh của đời sống xã hội như phát triển kinh tế, phát triển xã
hội và quản lý khu vực công.
a. Đối với phát triển kinh tế:
Mục tiêu kinh tế của phát triển là nhằm tạo cho người dân có mức thu
nhập cao hơn thông qua sự tăng trưởng nhanh về tổng sản phẩm quốc nội.
Trong nền kinh tế thị trường, điều này có thể đạt được cùng với nỗ lực của
khu vực công và khu vực tư nhân.
Thứ nhất, một trong những đóng góp quan trọng của khu vực kinh tế
tư nhân đối với phát triển kinh tế là khả năng huy động vốn cho các ngành sản
xuất hàng hoá và dịch vụ. Nguồn vốn là yếu tố đầu vào cần thiết cho quá trình
sản xuất. Trong một nền kinh tế đang phát triển, nguồn vốn rất khan hiếm.

9




hưởng tích cực nhất đến việc phân bổ một cách có hiệu quả nguồn lực khan
hiếm trong nền kinh tế.
Thứ tư, phát triển kinh tế tư nhân góp phần tạo nguồn thu thuế cho
chính phủ, thông qua hệ thống thuế, các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả
sẽ đóng góp vào tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Các khoản đóng
góp này giúp duy trì bộ máy hoạt động của chính phủ cũng như là nguồn quan
trọng để xây dựng phần lớn các cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội cần thiết. Để
bảo đảm vững chắc nguồn thu này, điều quan trọng là cơ cấu thuế, quy trình
thu thuế, quá trình kiểm toán cần được phát triển phù hợp sao cho việc trốn
thuế và các tác nhân xấu ảnh hưởng tới sự tăng trưởng và hiệu quả được tối
thiểu hoá.
b. Đối với phát triển xã hội:
Xét về tổng thể, mục tiêu của phát triển xã hội là tạo nên sự công bằng
về cơ hội cho tất cả các thành viên trong xã hội bất kể vị thế kinh tế và xã hội
của họ thông qua các dự án xã hội. Những dự án này bao gồm giáo dục và đào
tạo, sức khoẻ, nhà ở, trợ giúp cho sự phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ,...
Về trách nhiệm xã hội, nhiều công ty thuộc khu vực kinh tế tư nhân
xem trách nhiệm xã hội như là trách nhiệm của họ, hành động với tư cách như
những công dân tốt trong xã hội, nhằm bảo đảm rằng những mối quan tâm
của xã hội như môi trường, an toàn của khách hàng, an toàn của người lao
động sẽ được đề cập, quan tâm một cách thích đáng trong kế hoạch kinh
doanh và trong quá trình hoạt động. Tại một số quốc gia, các doanh nghiệp tư
nhân thường tuân thủ tốt hơn theo những quy định về mặt môi trường so với
các doanh nghiệp nhà nước.
Việc thực hiện các dự án xã hội ở nhiều quốc gia cho thấy: các dự án xã
hội thành công thường là các dự án do các tổ chức phi chính phủ thuộc khu
vực tư nhân thực hiện, chứ không phải là các dự án do các cơ quan thuộc
chính phủ trực tiếp thực hiện. Chẳng hạn như ở Philipin, các dự án cho các
11

12


Ở phần lớn các nền kinh tế thị trường thuộc các nước phát triển, doanh

nhân thường được mời vào một vị trí tạm thời ở khu vực công, từ đó họ có thể
có cơ hội chuyển tải phương pháp làm việc, cách suy nghĩ cho các nhân viên
chính phủ. Một trong những khó khăn mà các nhà kế hoạch và hoạch định
chính sách trong nền kinh tế thị trường hay gặp phải là việc dự báo tác động
và kết quả của các chính sách, vì họ phải dựa trên các phản ứng của khu vực
tư nhân đối với các chính sách này. Bằng cách đưa khu vực tư nhân tham gia
một cách chủ động vào quá trình hoạt động và xây dựng chính sách, vấn đề
khó khăn này sẽ được tối thiểu hoá. Nhờ có sự tham gia của các đại diện khu
vực kinh tế tư nhân, chúng ta có thể hình dung được tác động có thể có của
một chính sách nhất định xét đến giác độ phản ứng của khu vực doanh
nghiệp. Khu vực tư nhân có thể cung cấp những chỉ dẫn trong việc lựa chọn
chính sách và cũng nhờ có khu vực này mà chính sách mang tính kịp thời và
cập nhật hơn.
Việc tham gia hiệu quả của khu vực tư nhân trong việc xây dựng chính
sách đòi hỏi khu vực tư nhân phải được tổ chức sao cho những vấn đề cần
phải có chính sách mới hay cần phải có sự thay đổi chính sách có thể được
thảo luận một cách tự do, độc lập ở khu vực tư nhân vì họ có quyền tự do bầu
cử cho những người đại diện của họ vào các cơ quan xây dựng chính sách. Sự
thành công trong việc tham gia của khu vực tư nhân phụ thuộc vào việc các tổ
chức tư nhân này được tổ chức hiệu quả và vững chắc như thế nào. Kinh
nghiệm ở các nước cho thấy, trình độ giáo dục của chủ doanh nghiệp và quy
mô doanh nghiệp là những nhân tố quan trọng bảo đảm tham gia có hiệu quả
với tư cách là một đối tác của chính phủ trong hoạch định kế hoạch, xây dựng
chính sách và giám sát thực hiện. Và một nhân tố quan trọng khác là sự sẵn
sàng của các viên chức chính phủ trong việc chia sẻ trách nhiệm với khu vực

phát triển của sản xuất hàng hoá của sở hữu tư nhân - đó là một trong những
luận điểm rất quan trọng của C.Mác và Ph.Ăngghen.
Khi nghiên cứu vấn đề sở hữu gắn liền với sự phát triển của sản xuất,
C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra mối quan hệ hữu cơ giữa sự phát triển của
phân công lao động, của lực lượng sản xuất với sự thay đổi các hình thức sở
hữu. Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, những giai đoạn phát triển khác nhau của
sự phân công lao động cũng đồng thời là những hình thức khác nhau của sở
hữu. Nói cách khác, mỗi giai đoạn mới của phân công lao động cũng quy định
những quan hệ giữa các cá nhân với nhau, căn cứ vào quan hệ của họ với tư
liệu lao động, công cụ lao động và sản phẩm lao động. Ở đây sở hữu được
hiểu là những hình thức quan hệ của người với tư liệu lao động, công cụ lao
động và sản phẩm lao động, hay đó là những hình thức chiếm hữu của cải vật
chất hoặc tinh thần trong mỗi giai đoạn phát triển nhất định của xã hội.
Các hình thức sở hữu đã hình thành và biến đổi cùng với tiến trình phát
triển của xã hội loài người. Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, hình thức sở hữu
đầu tiên là sở hữu bộ lạc, phù hợp với giai đoạn chưa phát triển của sản xuất,

15


khi người ta sống bằng săn bắn và đánh cá, bằng chăn nuôi hay nhiều lắm là
trồng trọt. Trong giai đoạn ấy, sự phân công lao động còn rất ít phát triển và
chỉ giới hạn trong phạm vi mở rộng hơn nữa sự phân công lao động hình
thành một cách tự nhiên trong gia đình.
Hình thức sở hữu thứ hai là sở hữu công xã và sở hữu nhà nước tồn
tại trong thời cổ, và ra đời chủ yếu từ sự tập hợp nhiều bộ lạc thành một thị
tộc và chế độ nô lệ vẫn tiếp tục tồn tại ở đó. Cùng với sở hữu công xã thì sở
hữu tư nhân về động sản và sau này về bất động sản cũng đã phát triển nhưng
dưới hình thức sở hữu ngoại lệ và phụ thuộc vào sở hữu công xã.
Hình thức sở hữu thứ ba là sở hữu phong kiến hay sở hữu đẳng cấp.

Hình thức sở hữu này đến một giới hạn nhất định sẽ không thích hợp với lực
lượng sản xuất đã được xã hội hoá cao trong chủ nghĩa tư bản, tức là nó mâu
thuẫn với và cản trở sự phát triển của lực lượng sản xuất, và vì vậy phải bị
thay thế bằng một hình thức sở hữu khác có tính xã hội hoá cao. Tư tưởng này
đã được C.Mác và Ph.Ăngghen viết trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”
như sau:
“Đặc trưng của chủ nghĩa cộng sản không phải là xoá bỏ chế độ sở hữu
nói chung mà là xoá bỏ chế độ sở hữu tư sản”.
Nhưng chế độ sở hữu tư sản lại biểu hiện cuối cùng và hoàn bị nhất của
phương thức sản xuất và chiếm hữu dựa trên cơ sở những đối kháng giai cấp,
trên cơ sở những người này bóc lột những người kia.
Theo ý nghĩa đó, những người cộng sản có thể tóm tắt lý luận của mình
thành công thức duy nhất đó là: Xoá bỏ chế độ tư hữu.
Luận điểm trên của C.Mác và Ph.Ăngghen trước đây được hiểu là chế
độ sở hữu tư sản là sản phẩm tất yếu của quá trình phát triển, của các chế độ
tư hữu. Sản xuất nhỏ dựa trên chế độ tư hữu là nguồn gốc sinh ra chế độ sở
hữu tư hữu hoặc là tất yếu sẽ phát triển thành sở hữu tư sản. Từ đó không ít
người đã suy diễn một cách máy móc và ngộ nhận rằng muốn ngăn cản chủ
nghĩa tư bản thì chỉ còn cách duy nhất là xoá bỏ hoàn toàn chế độ tư hữu nói
17


chung. Điều này không những đã bị thực tiễn xã hội bác bỏ mà ngay cả khi
đối chiếu với tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen cũng đều không đúng. Luận
điểm trên của C.Mác và Ph.Ăngghen cần phải hiểu rằng với sự phát triển của
lực lượng sản xuất thì chế độ sở hữu phải thay đổi cho phù hợp với tính chất
và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Tức là những hình thức chiếm
hữu của cải vật chất và tinh thần sẽ thay đổi theo sự thay đổi của lực lượng
sản xuất. Ở đây sự chiếm hữu cần phải xem xét ở cả khía cạnh đối tượng cần
chiếm hữu, chủ thể đi chiếm hữu và phương thức thực hiện sự chiếm hữu.


1.1.2.2. Những luận cứ rút ra từ quan điểm của V.I.Lênin
Ở đây chúng ta phải đặc biệt chú ý đến quan điểm của V.I. Lênin về

tính tất yếu khách quan của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Theo V.I.
Lênin, sự cần thiết khách quan phải có thời kỳ quá độ là do đặc điểm ra đời,
phát triển của phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa và cách mạng vô sản.
Quan hệ sản xuất phong kiến và quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đều
dựa trên cơ sở chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất. Do vậy quan hệ sản xuất tư
bản chủ nghĩa có thể ra đời trong lòng xã hội phong kiến. Sự phát triển của
phương thức sản xuất phong kiến đến một trình độ nhất định, sẽ làm sâu sắc
thêm mâu thuẫn của xã hội phong kiến, cách mạng tư sản sẽ nổ ra. Nhiệm vụ
của cách mạng tư sản chủ yếu chỉ giải quyết về mặt chính quyền nhà nước,
làm cho kiến trúc thượng tầng thích ứng với cơ sở hạ tầng của nó. Cách mạng
vô sản có điểm khác biệt căn bản với cách mạng tư sản. Do quan hệ sản xuất
tư bản chủ nghĩa dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, còn quan hệ sản
xuất xã hội chủ nghĩa dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, nên chủ
nghĩa xã hội không thể ra đời từ trong lòng chủ nghĩa tư bản. Phương thức
sản xuất cộng sản chủ nghĩa chỉ ra đời sau khi cách mạng vô sản thành công,
giai cấp vô sản giành được chính quyền, bắt tay vào công cuộc xây dựng chủ
nghĩa xã hội. Hơn nữa, sự phát triển của phương thức sản xuất cộng sản chủ
nghĩa là một thời kỳ lâu dài, không thể ngay một lúc có thể hoàn thiện được.
Để phát triển lực lượng sản xuất, tăng năng suất lao động, xây dựng chế độ
công hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, xây dựng một xã hội kiểu mới
cần phải có thời gian - nói cách khác, tất yếu phải có thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội. Từ đó Lênin cho rằng, nếu như cách mạng tư sản thắng lợi đánh
dấu sự kết thúc của thời kỳ quá độ từ xã hội phong kiến lên chủ nghĩa tư bản,
thì cách mạng vô sản thắng lợi là sự khởi đầu cho thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội. Và theo V.I.Lênin, đặc điểm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội là sự tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần và xã hội nhiều giai cấp.


21


Quan điểm của V.I.Lênin về nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ
quá độ được thể hiện rõ nét trong Chính sách kinh tế mới (NEP). Không bao
lâu sau Cách mạng Tháng Mười, việc thực hiện kế hoạch xây dựng chủ nghĩa
xã hội bị gián đoạn bởi cuộc nội chiến 1918-1920. Chính trong giai đoạn này
V.I.Lênin đã áp dụng Chính sách cộng sản thời chiến là trưng thu lương thực
thừa của nông dân sau khi dành cho họ mức ăn tối thiểu, đồng thời xoá bỏ
quan hệ hàng hoá - tiền tệ. Thực sự mà nói, Chính sách cộng sản thời chiến đã
đóng một vai trò quan trọng trong thắng lợi của Nhà nước Xô Viết chống thù
trong giặc ngoài, bảo vệ Nhà nước Xô Viết. Tuy nhiên khi hoà bình lập lại,
Chính sách cộng sản thời chiến không còn thích hợp nữa. Nó trở thành nhân
tố kìm hãm sự phát triển sản xuất, chẳng hạn như chính sách trưng thu lương
thực thừa đã triệt tiêu động lực đối với nông dân. Nhìn chung, việc xoá bỏ
quan hệ hàng hoá - tiền tệ đã làm mất tính năng động của nền kinh tế vốn dĩ
mới bước vào giai đoạn phát triển. Vì vậy khủng hoảng kinh tế - chính trị diễn
ra rất sâu sắc, điều đó đòi hỏi phải có Chính sách kinh tế mới để thay thế. Và
Chính sách kinh tế mới được V.I.Lênin đề xướng đã đáp ứng yêu cầu tiếp tục
xây dựng chủ nghĩa xã hội trong giai đoạn mới. Nội dung của Chính sách
kinh tế mới (NEP) như sau: thay thế chính sách trưng thu lương thực bằng
chính sách thuế lương thực; tổ chức thị trường, thương nghiệp, thiết lập quan
hệ hàng hoá tiền tệ giữa nhà nước và nhân dân, giữa thành thị và nông thôn,
giữa công nghiệp và nông nghiệp; đặc biệt sử dụng sức mạnh kinh tế nhiều
thành phần, các hình thức kinh tế quá độ như khuyến khích phát triển sản xuất
nhỏ của nông dân, thợ thủ công, khuyến khích kinh tế tư bản tư nhân, sử dụng
chủ nghĩa tư bản nhà nước; củng cố lại các doanh nghiệp nhà nước, chuyển
sang chế độ hạch toán kinh tế... Đồng thời V.I.Lênin chủ trương phát triển
mạnh mẽ quan hệ hợp tác kinh tế với các nước tư bản phương Tây để tranh

không có cơ chế thực hiện quyền hạn và nghĩa vụ thì quyền làm chủ của con
người vẫn chỉ là hình thức và mang nặng tính ước lệ. Điều đó dẫn đến hậu
quả là làm mất đi sự quan tâm của hàng triệu người lao động đối với tư liệu

23


Trích đoạn Duy trì và khuyến khích sự phát triển lâu dài của khu vực kinh tế tƣ nhân ở Hà Nội đã hoàn toàn phù hợp với chủ trƣơng và chính sách Khu vực kinh tế tƣ nhân là bộ phận cấu thành quan trọng trong cấu trúc kinh tế xã hội của thành phố Hà Nộ Nhận định tổng quát về tiềm năng, lợi thế của thành phố Hà Nội trong việc phát triển khu vực kinh tế tƣ nhân Tác động của đường lối và chính sách đổi mới đến khu vực kinh tế tư nhân ở Hà Nộ Giải pháp liên kết hợp tác giữa khu vực kinh tế tư nhân với các khu vực kinh tế khác trên địa bàn Thành phố Hà Nội nhằm mở rộng thị
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status