ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
Phan Hồng Hạnh
Thiên tính nữ trong tác phẩm thơ của các nữ sĩ Việt Nam hiện đại
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI - 2008
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
Phan Hồng Hạnh
Thiên tính nữ trong tác phẩm thơ của các nữ sĩ Việt Nam hiện đại
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Mã Số: 60 22 32
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Trần Khánh Thành
HÀ NỘI - 2008
2
nhiều ở trong và ngoài nước. Với vốn tài liệu có trong tay, thực ra chúng tôi chưa được
tiếp xúc với một công trình nào nghiên cứu về thiên tính nữ trong văn học nói chung và
thiên tính trong thơ nữ Việt Nam hiện đại nói riêng như là một góc độ lý luận chuyên
biệt và độc lập. Song ở khía cạnh này hay khía cạnh khác, với mức độ gợi mở, khái
quát hay chuyên sâu, đã có nhiều bài viết , công trình đề cập đến vấn đề tính nữ trong
văn học nói chung và trong thơ nữ nói riêng.
Trong tác phẩm Mỹ học của Hêghen, khi đề cập đến nội dung của thơ trữ tình, tác
giả cho rằng : “Nguồn gốc và điểm tựa của nó là ở chủ thể, và chủ thể là người duy
nhất, độc nhất mang nôi dung. Chính vì vậy cho nên cá nhân phải có được một bản tính
thi sĩ, phải có một trí tưởng tượng phong phú, phải có một cảm xúc dồi dào, và có thể
lĩnh hội được những ý niệm sâu sắc và đồ sộ”.
Nhận xét ấy của Hêghen sau này được Biêlinxki và một số nhà lí luận khác phát
triển thêm. Ở thể loại này dấu ấn chủ quan của tác giả trên hình tượng thơ biểu hiện rõ
nét hơn, trực tiếp và toàn vẹn hơn các lĩnh vực khác. Những cung bậc tình cảm của nhà
thơ dù là một niềm vui hồ hởi hay một nỗi buồn sâu lắng thiết tha, dù kéo dài triền
miên trĩu nặng tâm hồn hay thoáng qua trong giây lát đều gắn liền với một cái gì của
đời sống bên ngoài, nhưng sâu xa hơn là tiếng nói thầm kín của trái tim và tâm hồn
người nghệ sĩ. Do đó, có nhiều cuộc đời thi sĩ gắn liền với đời thơ như hình với bóng.
Nói như Hàn Mặc Tử : “Người thơ phong vận như thơ ấy”. Điều này đã gợi mở cho
chúng tôi rất nhiều hướng nghiên cứu thú vị về cuộc đời các nhà thơ nữ Việt Nam. Và
sự thật là, trái tim phụ nữ luôn đa cảm hơn đàn ông. Những sáng tác của họ gắn chặt
với những thăng trầm biến cố của cuộc sống (như những nhà thơ nam giới) nhưng
4
trước hết là gắn chặt với số phận, cuộc đời họ, thậm chí là những cử chỉ yêu thương
chăm sóc, những tính toán, lo âu hàng ngày của những người đàn bà làm thơ.
Trong chuyên luận Thơ và mấy vấn đề thơ Việt Nam hiện đại, Hà Minh Đức đã
nhấn mạnh sáng tác thơ ca là một nhu cầu tự biểu hiện, một sự thôi thúc bên trong
triển của văn học nữ nói chung và thơ nữ nói riêng của nền văn học Việt Nam hiện đại.
Đặc biệt là xu hướng phát triển của những cây bút nữ - họ ngày càng táo bạo hơn trong
việc diễn tả những ước vọng và những tình cảm của họ.
Những vấn đề mà Phan Việt Thủy đưa ra cũng giúp chúng tôi phát hiện ra một hiện
tượng tâm lí của người đọc khi tiếp cận với các tác phẩm của nữ giới. Chỉ cần họ thành
thực và dám vượt ra ngoài khuôn sáo để kể lể những xúc động riêng tư của họ, đặc biệt
là những xúc động ít nhiều liên quan đến xác thịt, là người đọc lại sửng sốt, như khám
phá ra một cái gì bất ngờ. Điều này thường ít xảy ra ở những tác giả nam giới.
Khi đi so sánh sự khác biệt giữa các tác giả nam và tác giả nữ, chúng tôi đã khai
thác được những ý kiến rất quý báu của nhà phê bình Vương Trí Nhàn, của nhà văn hải
ngoại Nguyễn Mộng Giác và của nhà nghiên cứu Đặng Anh Đào. Vương Trí Nhàn
trong “Phụ nữ và sáng tác văn chương” (Tạp chí văn học số 6 - 1996) cho rằng :
“Hình như do sự nhạy cảm riêng của mình, phụ nữ bắt mạch thời đại nhanh hơn nam
giới. Họ luôn gần với cái lỉnh kỉnh dở dang của đời sống. Mặt khác với cái cực đoan
sẵn có – tốt, dịu dàng, rộng lượng thì không ai bằng, mà nhỏ nhen, chấp nhặt, dữ dằn
cũng không ai bằng – từng cây bút nữ tìm ra mặt mạnh của mình khá sớm, định hình
khá sớm.”. Trước đó, trong bài “Nghĩ về một số nhà văn hải ngoại hiện nay”(Tạp chí
văn học – California số 2 - 1986), nhà văn Nguyễn Mộng Giác cũng giải thích hiện
tượng khởi sắc của dòng văn học nữ ở hoải ngoại bằng yếu tố tâm lý. Theo ông, các
nhà văn nam ở hải ngoại ngoài thì giờ dành cho cơm áo, bên trong mỗi người.. đều có
một niềm kiêu hãnh khôn cùng. Hoặc kiêu hãnh vì địa vị chức tước họ có trong quá
khứ hoặc vì có kinh nghiệm sống phong phú…Kết quả là họ không thể cảm nhận được
bình thường cuộc sống hiện tại. Đây là tâm cảm của hầu hết những người càm bút phái
nam, nhất là những người cầm bút ở lứa tuổi ba mươi trở lên. Trong khi đó thì phái nữ
cũng như giới trẻ hội nhập vào đời sống mới dễ dàng hơn. Họ không bị phân thân nặng
nề như các bạn văn bên nam. Họ cũng có ít thì giờ được nhàn nhã mơ mộng. Nhưng
6
không gian “chín nẻo thuyền quyên” của hệ quy chiếu truyền thống với địa vị độc tôn
là nam giới.
Trong quá trình thu thập và tìm hiểu tài liệu của luận văn, chúng tôi đã có một
số phát hiện về sự khác biệt của nam và nữ dẫn đến việc thay thế một nền văn minh
mẫu hệ trở thành một nền văn minh phụ hệ. Điều này, giúp chúng tôi lý giải được sự
khác biệt mang tính đặc trưng trong sáng tác của nam và nữ ở chương 2 và chương 3.
Quả thật, khi đến thăm các di chỉ khảo cổ học của Hy Lạp và nhiều nền văn
minh khác, các nhà nghiên cứu đều có chung một nhận định là ngày xưa các thần linh
được tôn thờ phần nhiều là các nữ thần, rồi sau đó, không hiểu vì lí do gì, các nữ thần
lần lượt biến thành các nam thần cả. Trong khi có vô số các bằng chứng lịch sử cũng
như khảo cổ học cho thấy trong nền văn minh phương Tây cổ đại, cả đàn ông đàn bà
đều thờ cũng nữ thần, nhưng không ai cắt nghĩa được lý do vì sao các nữ thần đều đồng
loạt biến mất. Chúng ta không thể không thắc mắc tự hỏi là yếu tố văn hóa nào đã làm
đổi giống các vị thần ấy ? Đổi giống một cách khá triệt để.
Leonard Shlain, một giáo sư bác sĩ hiện đang làm việc tại California – Pacific
Medical Centre ở Hoa Kỳ, trong cuốn The Alphabet Versus the Goddess : Male Words
and Female Images do Penguin mới xuất bản, đã đưa ra một cách giải thích táo bạo và
rất thú vị về hiện tượng đổi giống ấy. Cách giải thích của ông có thể tóm gọn vào một
điểm : sự xuất hiện của văn tự.
Theo Leonard Shlain, nam tính đã trở thành một đặc trưng của xã hội kể từ
ngày một phần đông dân số biết đọc và biết viết. Chữ viết vốn gắn liền với tư duy phân
tích và tư duy phân tích lại gắn liền với bán cầu bên trái của não bộ. Trong khi đó nữ
tính lại gắn liền với bán cầu não phải. Sự mất quân bình giữa bán cầu não trái và phải
này có nhiều biểu hiện, trong đó có việc giảm sút lòng sùng kính đối với các nữ thần và
vai trò của nữ giới nói chúng. Một biểu hiện khác nữa là vai trò của các hình ảnh tạo
hình vốn gắn liền với bán cầu não phải dần dần bị lu mờ.
Nói một cách vắn tắt, theo Leonard Shlain, hai bán cầu não của con người có
chức năng hoàn toàn khác nhau. Bán cầu não phải phối hợp cảm xúc, ghi nhận hình
nam thần, các giá trị nam tính cũng như chế độ phụ hệ nổi lên cùng lúc với chữ viết.
9
Đây chính là cái giá mà nhân loại phải trả cho sự tiến bộ trong khả năng đọc và viết
của mình.
Những lí giải hấp dẫn trên của giáo sư, bác sĩ Leonard Shlain đã không chỉ giúp
chúng tôi có những tiền đề khoa học để lí giải những hiện tượng thơ nữ trong cái nhìn
đối sánh với thơ nam mà ngay ở chương I, trong quá trình đi tìm hiểu nữ tính, chúng
tôi cũng đã trả lời được câu hỏi, tại sao nữ tính mang nhiều giá trị côi nguồn, linh
thiêng và huyền bí đến vậy. Và tại sao nữ tính trong văn hóa nói chung và trong văn
học nói riêng suốt một thời gian dài được coi như những lớp trầm tích văn hóa, hiện
nay lại dần tỏa sáng để khẳng định lại những vị trí tương xứng của mình trong xã hội.
Ở bài viết Thơ nữ trong hành trình cắt đuôi hậu tố nữ của Inrasara, tác giả đã có cái
nhìn khá hệ thống về thơ nữ Việt Nam giai đoạn hậu hiện đại. Từ việc phân tích
nguyên nhân khủng hoảng trong tâm lí của các nhà thơ nữ giai đoạn hậu hiện đại đến
việc lí giải nỗ lực của họ trong việc cắt đuôi hậu tố nữ, Inrasara đã đi đến một kết luận
mà chúng tôi đồng tình ủng hộ : “Từ chối giọng điệu cải lương yểu điệu thục nữ, hết
còn căng thẳng bật máu với cánh đàn ông, với truyền thống, cũng không thèm đóng
thùng mô phạm trịnh trọng dạy đời, biết cười người và nhất là biết cười mình, nhà thơ
nữ hôm nay đang vượt thoát khỏi mặc cảm thân phận, khỏi trở lực nếp nhà đầy quy
ước gò bó của ngôn ngữ Việt, sẵn sàng vươn đến nơi chốn sự vô ngại trong cõi sáng
tạo”.
Đặc biệt trong bài tiểu luận phê bình văn học của Lưu Tư Khiêm (Trung Quốc) do
Phan Trọng Hậu lược dịch từ Tân Hoa Văn : “Văn học nữ tính”, đã cho chúng tôi
những định hướng vô cùng quý báu để viết nên luận văn này. Tác giả đã chỉ ra những
cách hiểu về văn học nữ tính và nhấn mạnh tính mơ hồ của bản thân khái niệm nữ tính.
Qua đó tác giả khẳng định cần phải có được khái niệm ý thức nữ tính là gì – là ý thức
của người phụ nữ theo tính tự nhiên sinh học hay ý thức nữ tính của con người độc lập
Mặc dù, bài phê bình này không liên quan trực tiếp đến nội dung luận văn của
chúng tôi, nhưng qua những phân tích lí giải của Nguyễn Duy Hoàng, chúng tôi có
được những nhận định về cảm quan sáng tác khác nhau của các tác giả nam và nữ. Nếu
như Kiều của Nguyễn Du là hiện thân của sự kết tinh của tài và tình, của tình và hiếu,
11
của tài hoa mà bạc mệnh, của những oan khổ, chịu đựng không mấy được bù đắp của
người phụ nữ trong xã hội trung cổ Việt Nam và phương Đông ; thì ở Hồ Xuân Hương
– ta có thể đi vào chỗ thâm sâu nhất những nguyện ước và khao khát, kể cả những khao
khát không tiện nói nhất của người phụ nữ chồng chất những ước thúc và kiềm tỏa của
luân lý lễ giáo và thiết chế phong kiến phương Đông.
Khi đề cập đến mảng thơ viết về phụ nữ trong Ngục trung nhật ký, Trần Thị Huyền
Trang đã phác họa được bốn kiểu người phụ nữ trong 6 bài thơ của Ngục trung nhật kí
(Người bạn tù thổi sáo, Vợ người bạn tù đến nhà lao thăm chồng, Gia quyến người bị
bắt lính, Cháu bé trong ngục Tân Dương, Nửa đêm nghe tiếng khóc chồng và Chiều
tối) : một người vợ có chồng đang ở tù, một người vợ phải bế con vào ở tù thay chồng
đang trốn lính, một người góa bụa và một người tự do. Mỗi người phụ nữ ấy đều có
những cảnh ngộ riêng, nhưng qua thơ Bác họ đều hiện lên với vẻ đẹp chuẩn mực của
người phụ nữ : tần tảo, chân phác, chịu đựng, hi sinh, giàu lòng vị tha. Đặc biệt, hình
ảnh người con gái miền sơn cước cùng với hình ảnh ngọn lửa đã hiện lên trong Chiều
tối như là một biểu tượng của sức sống vĩnh hằng. Qua những phát hiện của Trần Thị
Huyền Trang, chúng tôi càng củng cố thêm được những biểu hiện của thiên tính nữ.
Thơ tình thời con gái đã được Thanh Da sưu tầm và tổng kết qua một số gương mặt
các nhà thơ nữ Việt Nam hiện đại. Những kỉ niệm đẹp trong tình yêu (Ý Nhi), những
dang dở nuối tiếc (Đoàn Thị Ký), những tình huống tế nhị, kín đáo nhưng hết sức đằm
thắm dù vấp phải những dang dở (Phi Tuyết Ba, Bùi Kim Anh), những vẻ đẹp kiêu sa,
những mê đắm tình trường (Bích Ngọc, Nguyễn Thị Đạo Tĩnh)… Có rất nhiều những
vấn đề đặt ra trong thơ tình của các chị, chẳng hạn như thế nào là sự ích kỉ rất là phụ
phẩm của Trần Thị Thắng, Hà Phương, Lâm Thị Mỹ Dạ, Ý Nhi… những cảm xúc yêu
đương nóng bỏng hòa lẫn cùng cái tôi trữ tình công dân.
Giai đoạn thơ ca chống Mỹ đánh dấu một sự phát triển vượt bậc đầu tiên về đội ngũ
các nhà thơ nữ nói chung và in dấu rất nhiều những phong cách thơ nữ tiêu biểu của
nền thơ ca Việt Nam hiện đại nói riêng. Những thành tựu nổi bật đó đã thu hút sự quan
tâm của các nhà phê bình và độc giả.
Thơ ca sau năm 1975 nói riêng đã có một bước phát triển mới, đặc biệt trong dòng
thơ nữ. Từ năm 1975 đến 1986, những nhà thơ nữ đã trưởng thành từ giai đoạn trước
13
vẫn là những gương mặt tiêu biểu nhất, nhưng trong thơ các chị đã có những trăn trở
duy tư nhiều hơn của cuộc sống đời thường, tình yêu trong thơ các chị cũng mang
nhiều màu sắc và dáng vẻ mới, bên cạnh đó nhiều đề tài và chủ đề khác cũng đã xuất
hiện.
Đánh dấu sự thay đổi có tính đột phá của các nhà thơ nữ phải kể đến những nhà thơ
nữ trẻ đương đại như Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly, Bình Nguyên
Trang, Dạ Thảo Phương, Nguyệt Phạm, Nguyễn Thúy Hằng… Họ là những cây bút trẻ
thuộc thế hệ 7X, 8X, chịu ảnh hưởng của nhiều luồng văn học trên thế giới, có những
nét phá cách và có nhiều thể nghiệm mới mẻ. Trong hai bài viết Thơ nữ trẻ - khẳng
định một cái tôi mới và Nỗi cô đơn trong thơ nữ trẻ đương đại của Trần Hoàng Thiên
Kim, tác giả đã đưa ra những kiến giải về thơ nữ trẻ đương đại : “Thơ nữ thế hệ trẻ ăm
ắp những nỗi cô đơn trong từng trang viết, nỗi cô đơn, buồn bã trực diện và dồn dập …
Chúng ta có cảm giác rằng, nỗi buồn, nỗi cô đơn như một thứ gia vị của cuộc sống hiện
đại...nó như một thông báo với cuộc đời về một tín hiệu thẩm mỹ mới bằng thơ…” hay
: “Thơ nữ trẻ đương đại, với trào lưu Phê bình nữ quyền (Feminist Criticism) ngày
càng mạnh mẽ đang có những thay đổi để phù hợp với trào lưu chung của khu vực và
thế giới. Nhiều nhà thơ nữ trẻ được mời tham gia các chương trình diễn thơ, đọc thơ
dài ngày tại nước ngoài nên họ xác lập được bản lĩnh và lòng tự tin. Họ khẳng định bản
việc tìm hiểu nội dung trong thơ của các nữ sĩ Việt Nam hiện đại trong cái nhìn đối
sánh với các thời kỳ và với các tác giả là nam giới.
Các công trình Văn hóa và phân vùng văn hóa ở Việt Nam do Ngô Đức Thịnh (chủ
biên), Nguồn gốc về sự phát triển của kiến trúc – biểu tượng và ngôn ngữ Đông Sơn
của Tạ Đức, đặc biệt bài viết Vai trò của người vợ người trong gia đình truyền thống
Êđê của Thu Nhung Mlô đã cung cấp cho chúng tôi những kiến thức về các đặc điểm
dân cư, tổ chức xã hội và đặc biệt là đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân quan các
bản khan. Điều này đã giúp chúng tôi có thêm những luận cứ, luận chứng để lý giải
một các thuyết phục những luận điểm của mình ở chương I của luận văn.
Trong chùm bài viết về Tín ngưỡng phồn thực trên trang web :
www.vanhoaviet.com.vn, các tác giả đã đề cập rất nhiều đến văn hóa dân gian Việt
Nam bắt nguồn từ tín ngưỡng phồn thực ( phồn = nhiều, thực = nảy nở). Thời xa xưa,
15
để duy trì và phát triển sự sống, ở những vùng sinh sống bằng nghề nông cần phải có
mùa màng tốt tươi và con người được sinh sôi nảy nở. Để làm được hai điều trên,
những trí tuệ sắc sảo sẽ tìm đến những quy luật khoa học để lý giải hiện thực và họ đã
xây dựng triết lý âm dương, còn những trí tuệ bình dân thì xây dựng tín ngưỡng phồn
thực. Qua những tìm hiểu về vấn đề này trên diễn đàn của trang web :
www.vanhoaviet.com.vn, chúng tôi nhận thấy có rất nhiều những ảnh hưởng của nền
văn hóa này đối với hành trình đi tìm hiểu những đặc điểm về thiên tính nữ trong luận
văn của chúng tôi, đặc biệt về vấn đề nguồn gốc phát triển của thiên tính nữ. Tín
ngưỡng phồn thực được thể hiện ở rất nhiều mặt trong đời sống xã hội, tiêu biểu như :
thờ cơ quan sinh thực khí, thờ hành vi giao phối, trống đồng, tín ngưỡng sùng bái tự
nhiên, thờ Tam phủ, Tứ phủ, thờ Tứ pháp, thờ động vật, thực vật, tín ngưỡng sùng bái
con người, hồn và vía, tổ tiên, thổ công, thành hoàng làng… Trong đó đáng chú ý nhất
là nhận xét sau của Gs Trần Quốc Vượng : “Điều đặc biệt của tín ngưỡng Việt Nam là
một tín ngưỡng đa thần và âm tính – trọng tình cảm, trọng nữ giới. Có giả thuyết cho
Jung nhận định rằng : “Tác phẩm dự định có tính biểu tượng bằng ngay thứ ngôn
ngữ đa nghĩa được dùng như bảo chúng ta : “tôi định nói nhiều hơn cái tôi nói thực; ý
nghĩa của tôi cao hơn tôi”. Trong trường hợp này, chúng ta có thể lấy ngón tay chỉ vào
biểu tượng, ngay cả khi việc giải mã đó không làm ta thích thú. Biểu tượng nhô lên như
một lời trách cứ thường xuyên đối với khả năng suy xét và cảm nhận của chúng ta. Từ
đây tất nhiên sẽ bắt đầu một thực tế là sản phẩm mang tính biểu tượng đánh thức chúng
ta nhiều hơn, có thể nói quấy đảo chúng ta sâu hơn và vì thế hiếm khi đưa chúng ta vào
những vào những khoái cảm thẩm mỹ thuần túy, trong khi những tác phẩm không
mang tính biểu tượng từ đầu thì nhằm đến cảm giác thẩm mỹ của chúng ta dưới dạng
thuần túy hơn rất nhiều.”
So sánh những hình ảnh, biểu tượng thơ của các nữ sĩ Việt Nam nói riêng và với
các nhà thơ nam nói chung cũng là một nỗ lực của chúng tôi trên con đường hình thành
cho mình một thế giới biểu hiện đầy đủ và trọn vẹn hơn về thiên tính nữ trong thơ nữ
Việt Nam hiện đại.
17
Đặc biệt, những phát hiện sau đây của Jung đã giúp chúng tôi có những nhận định
rất sáng về tâm lí học sáng tạo nghệ thuật giữa các thế hệ nhà thơ nữ Việt Nam nói
riêng và giữa các nhà thơ là nữ giới và nam giới nói chung : “Thực tiễn phân tích tâm lí
học đối với các nghệ sĩ càng cho thấy xung lực sáng tạo nghệ thuật phát ra từ vô thức
rất mạnh – đồng thời nó rất bướng bỉnh và tùy tiện. Đã có biết bao cuốn tiểu sử các
nghệ sĩ vĩ đại nói về cơn hứng sáng tạo bắt mọi thứ của con người phụ thuộc vào nó,
khiến tác giả nhiều khi phải hi sinh cả sức khỏe và hạnh phúc gia đình để phụng sự cho
sáng tạo nghệ thuật của mình! Tác phẩm đang hình thành trong tâm trí nghệ thuật – đó
là một sức mạnh tự nhiên tự mở đường đi hoặc theo cách thô bạo và cưỡng bức, hoặc
theo cách tinh ranh không thể nào bắt chước được, giống y như tự nhiên trong các tạo
tác của nó, không bận tâm gì đến niềm vui hay nỗi khổ của con người đang trong cơn
đau sáng tạo. Cái sáng tạo sống và lớn lên trong con người, như cái cây mọc lên từ tầng
Thời điểm xuất hiện tình huống huyền thoại bao giờ cũng được đánh dấu bởi cường
độ cảm xúc đặc biệt: dường như trong ta có những dây đàn không ai ngờ là có và bao
lâu nay im tiếng bây giờ được chạm đến. Đấu tranh thích nghi – đó là một nhiệm vụ
nhọc nhằn, đau khổ, bởi vì mỗi bước đi chúng ta lại gặp những hoàn cảnh cá nhân, tức
là không điển hình. Do đó, không có gì ngạc nhiên là nếu khi gặp được một tình huống
điển hình ta bất ngờ hoặc cảm thấy được giải phóng triệt để, thấy mình như mọc cánh
hoặc có một sức mạnh không sao cưỡng nổi túm lấy ta. Vào những lúc ấy ta như không
còn là những thực thể cá nhân nữa, chúng ta – là loài giống, giọng nói của toàn nhân
loại thức dậy trong ta.
Do đó khi tìm hiểu về thiên tính nữ trong thơ nữ, chúng tôi không thể bỏ qua việc
tìm hiểu vai trò của người phụ nữ trong văn học, đặc biệt là truy nguyên vấn đề này từ
những giai đoạn sơ khai nhất của văn học. Một nền tảng vững bền sẽ tạo ra những cơ
hội thể hiện cho phái nữ - mà nhiều khi vấn đề này đã ăn sâu trong tiềm thức, được ấn
định khi họ cất tiếng khóc chào đời là bé gái.
Trong công trình nghiên cứu về Hồ Xuân Hương – hoài niệm phồn thực của tác giả
Đỗ Lai Thúy, chúng tôi tìm thấy được những dấu tích của cái thiêng và cái tục, của các
biểu tượng phồn thực từ rất lâu đã bị đẩy vào tiềm thức và vô thức dưới dạng siêu mẫu.
Những ý kiến có tính chất kinh điển này sẽ giúp chúng tôi khi tìm hiểu môi trường văn
19
hóa đã sinh thành và nuôi dưỡng cả một quần thể các cỗ máy sinh sản tồn tại thường
trực trong vô thức tập thể của cộng đồng và của cá nhân, một phần trong đó đã dẫn dắt
chúng tôi đến với những dấu ấn đầu tiên của thiên tính nữ. Và khi gặp điều kiện thuận
lợi các biểu tượng phồn thực, những vô thức tập thể giáng lâm vào sáng tạo nghệ thuật,
chúng tôi đã lần ra dấu vết của thiên tính nữ trong văn học nói chung và trong thơ nữ
nói riêng.
Tất nhiên, nhiệm vụ của chúng tôi là luôn phải đứng trên lập trường nghiên cứu lý
luận văn học vận dụng các kiến thức dân tộc học, xã hội học, tâm lý học…, tránh lấy
Phạm vi : Thơ nữ Việt Nam hiện đại được chia làm 3 giai đoạn : Giai đoạn thơ
Mới (Anh Thơ ; Hằng Phương… ); Giai đoạn thơ chống Mĩ cứu nước (Xuân
Quỳnh ; Lâm Thị Mỹ Dạ ; Trần Thị Thắng ; Hà Phương ; Phan Thị Thanh
Nhàn…); Giai đoạn từ thời kì đổi mới đến nay (Vi Thùy Linh ; Phan Huyền Thư
; Nguyễn Thị Hoàng Bắc…).
4 Phương pháp nghiên cứu :
Chúng tôi sẽ sử dụng những thao tác nghiên cứu truyền thống của ngữ văn học
cũng như dựa trên đặc thù của chuyên ngành lý luận văn học : tổng hợp, phân
tích, thống kê, so sánh… Hơn nữa, xuất phát từ những vấn đề cần tìm hiểu của
luân văn, chúng tôi luôn đặt thiên tính nữ và thơ nữ Việt Nam hiện đại trên cái
nền tổng hòa của mọi mặt thuộc đời sống vật chất và tinh thần của người dân
Việt. Việc điền dã (ở chương I) là cần thiết nhưng trong hoàn cảnh hiện tại vượt
ngoài khả năng của chúng tôi nên xin phép được thực hiện trong một dịp khác
thuận lợi hơn. Điều quan trọng là sau khi hoàn thành luận văn này, chúng tôi sẽ
thu được một phương pháp tư duy và làm việc chứ không đơn giản là chỉ những
thao tác cụ thể.
5 Cấu trúc luận văn:
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn của chúng tôi gồm 3 chương:
-
Chương 1 : Thiên tính nữ và thiên tính nữ trong văn học.
-
Chương 2 : Thiên tính nữ - biểu hiện qua tác phẩm
-
triển của một xã hội mẫu hệ. Tuy nhiên, xét thấy nhiệm vụ đặt ra của luận văn trong
một khuôn khổ nhất định, nên chúng tôi chủ yếu tìm đến với văn hóa và văn học nước
nhà để tìm hiểu về thiên tính nữ.
22
1. Những nẻo đường đến với “Thiên tính nữ” :
3.1 Tỉ lệ thần thánh :
Số Phi (1,618) được coi là một con số vô cùng quan trọng trong nghệ thuật. Phi
được coi là con số đẹp nhất trong vũ trụ này. Số phi bắt nguồn từ dãy số Fibonaci –
một phát hiện nổi tiếng không chỉ vì phép cộng những số hạng gần kề sẽ cho kết quả là
số hạng kế tiếp mà còn bởi thương số của những thương số gần kề có một giá trị gây
kinh ngạc để đạt tới con số 1,618.
Tại sao số Phi được coi là tỉ lệ thần thánh? Mặc dù toán học chưa làm sáng tỏ
nguồn gốc của số Phi nhưng khía cạnh gây sửng sốt thực sự của số Phi lại nằm ở vai
trò của nó với tư cách là một nhân tố xây dựng mang tính nền tảng trong tự nhiên.
Thực vật, động vật và thậm chí con người đều sở hữu những tài sản đáng kể mà những
tài sản ấy gắn chặt với sự chính xác bí ẩn của tỉ số giữa Phi và 1. Theo nghiên cứu của
các nhà khoa học Anh, tỉ lệ số ong cái nhiều hơn là ong đực là 1,618…; một con ốc Vũ
Anh – một loài nhuyễn thể có vỏ cứng, có thể đẩy không khí vào trong vỏ để điều
chỉnh khả năng chìm nổi, có tỉ số của mỗi đường kính vòng xoắn này với đường kính
vòng xoắn khác là 1,618…
Nếu những con số trên quá khó chứng minh, chúng ta hãy cùng cầm thước để
tìm hiểu chính những tỉ lệ trên cơ thể phụ nữ : Khoảng cách từ đỉnh đầu chúng ta đến
khi chạm đất chia cho khoảng cách từ rốn đến khi chạm đất ; Khoảng cách từ vai đến
đầu ngón tay chia cho khoảng cách từ khuỷu tay đến đầu ngón tay ; Khoảng cách từ
hông đến mặt đất chia cho khoảng cách từ đầu gối đến mặt đất…kết quả đều là số Phi.
Trong tự nhiên rõ ràng có một trật tự ngầm, mà chúng ta luôn tin rằng có bàn
tay của đấng sáng tạo sắp xếp. Cho nên trong thế giới loài người mới xuất hiện những
như một tính từ để chỉ những gì có vẻ lớn, quan trọng, chính, trung tâm như con sông
lớn gọi là sông cái, đường lớn gọi là đường cái. Trong một trò chơi, người làm chủ gọi
là người cầm cái. Trong một tô canh, phần nhiều ngon được gọi là phần cái, đối lập với
nước. Ngoài chữ cái còn những chữ liên quan đến nữ tính như chữ “bà”, “mẹ”. Con
bướm to thì gọi là con bướm bà, cặp đồ vật một lớn một nhỏ thì cái lớn gọi là mẹ cái
nhỏ gọi là con(chứ không gọi cha con)…Tóm lại tín ngưỡng phồn thực đã ăn sâu vào
đời sống vật chất cũng như tinh thần của người dân đất Việt.
24
3.2.2 Nguyên lý Mẹ trong tín ngưỡng dân gian :
Tách tín ngưỡng ra ngoài văn hóa là để rộng đường suy luận, chứ thực ra tín
ngưỡng là một hình thức văn hóa, thậm chí còn là một biểu tượng văn hóa rõ nét nhất.
Có lẽ ít dân tộc nào có đối tượng là tín ngưỡng văn hóa là phụ nữ nhiều như ở Việt
Nam. Đi suốt từ Bắc chí Nam, gần như ở địa phương nào cũng có đền thờ bà hoặc
cô(Bà chúa Liễu Hạnh, Thánh Mẫu, bà Dâu, bà Đậu, Hai bà Trưng, bà Đen…).Các Bà
đều là những biểu tượng linh thiêng nên không phải là những cô gái trẻ đẹp mà đều là
những người lớn tuổi, quyền uy, có năng lực làm cho mùa màng tốt tươi, giúp các gia
đình con đàn cháu đống, hay ban cho những đứa con hiếm muộn…
Chúng ta nhận thấy ở buổi sơ khai, có hàng loạt những nữ thần : Bà Trời, Mẹ
Đất, Bà Phong, Bà Hóa, mười hai bà mụ…Giai đoạn sau, các bà đã có một vị trí linh
thiêng trong lòng người dân, tất cả đều xem bà như các mẹ, đến nỗi có người đã nâng
tín ngưỡng này thành tôn giáo gọi là Đạo Mẫu. Từ nền tảng này, bất kỳ tín ngưỡng
ngoại nhập nào đến Việt Nam đều được bản địa hóa và thành tín ngưỡng Việt Nam. Bồ
tát Quan Thế Âm trở thành phật bà, Đức mẹ Maria cũng trở thành phật bà trong tâm
linh người Việt, trở thành văn hóa đất Việt.
3.3 Tín ngưỡng phồn thực :
3.3.1 Quan niệm:
Thời xa xưa, để duy trì và phát triển sự sống, ở những vùng sinh sống bằng nghề