LUẬN VĂN:
Cơ sở khoa học để phát triển nông
nghiệp theo hướng nông nghiệp đô thị
sinh thái và hđh nông thôn Hà Nội giai
đoạn 2006-2010
1. Sự cần thiết phải nghiên cứu đề tài
“Thủ đô Hà Nội là trung tâm đầu não chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm
lớn về văn hoá, khoa học, kinh tế và giao dịch quốc tế của cả nước". Với vị trí quan
trọng như vậy, Hà Nội có nhiều thuận lợi, nhưng cũng có nhiều thách thức trong phát
triển kinh tế, văn hoá xã hội và xây dựng cơ sở hạ tầng. Một trong những nhiệm vụ luôn
được Đảng và Nhà nước quan tâm đó là “Phát triển nông nghiệp và kinh tế ngoại thành
theo hướng nông nghiệp đô thị - sinh thái, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp - nông thôn; ưu tiên phát triển nông nghiệp sạch, các nghề, làng nghề truyền
thống, làng nông nghiệp du lịch sinh thái”. Trong giai đoạn 2001 - 2005, nhiệm vụ này
đã được quán triệt trong Đại hội lần thứ 13 của Đảng bộ thành phố, và đã được cụ thể
hoá trong chương trình 12 của Thành uỷ Hà Nội. Nhiều nội dung của nhiệm vụ đã đi
vào cuộc sống. Dù sao đây cũng là vấn đề mới cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn, vì điểm
xuất phát của nó từ một quốc gia đang phát triển, còn có nhiều khó khăn khi thực hiện
quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn. Vấn đề đặt ra là xác
định mục tiêu, chặng đường, bước đi, các giải pháp, làm thế nào đạt được mục tiêu
trong thời gian ngắn và hiệu quả cao. Để phục vụ cho chủ trương phát triển nông nghiệp
đô thị sinh thái và hiện đại hoá nông thôn Hà Nội giai đoạn 2006 - 2010, việc nghiên
cứu đề tài “Cơ sở khoa học để phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái và hiện đại
hoá nông thôn Hà Nội giai đoạn 2006-2010” có ý nghĩa thực tiễn. Trên cơ sở đó, giúp
cho các cơ quan hoạch định đường lối, chính sách làm luận cứ xây dựng chiến lược,
mục tiêu, phương hướng phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái và hiện đại hoá nông
thôn Hà Nội.
báo các chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội nông nghiệp – nông thôn Hà Nội trong giai
đoạn 2006-2010 và các giải pháp thực hiện.
5. Những đóng góp của đề tài.
5.1. Hoàn thiện cơ sở khoa học của phát triển nông nghiệp đô thị - sinh thái và
hiện đại hoá nông thôn.
5.2. Đánh giá được hiện trạng, rút ra được ưu điểm, nhược điểm và nguyên nhân
của phát triển nông nghiệp đô thị - sinh thái và hiện đại hoá nông thôn Hà Nội giai đoạn
1986 - 2005
5.3. Xây dựng được phương hướng và giải pháp phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái và hiện đại hoá nông thôn Hà Nội giai đoạn 2006 - 2010 có luận cứ khoa học.
Phần thứ nhất
Cơ sở lý luận của nông nghiệp đô thị sinh thái
và hiện đại hoá nông thôn
1.1. Nông nghiệp đô thị sinh thái
1.1.1. Khái niệm nông nghiệp sinh thái
- Sản xuất nông nghiệp vốn đã mang trong nó bản chất sinh thái, sản xuất nông
nghiệp muốn phát triển có hiệu quả và ổn định đương nhiên phải phù hợp với điều kiện
đất đai, khí hậu, thời tiết, thuỷ văn, môi trường và quần thể sinh vật tạo nên hệ sinh thái
nông nghiệp. Chính sự phù hợp đó làm cho cây trồng vật nuôi phát huy mọi ưu thế và
tác động lẫn nhau để tồn tại và phát triển, đó là một nền nông nghiệp sinh thái. Nhiều
học giả cũng cho rằng nông nghiệp sinh thái cũng chính là nông nghiệp bền vững, một
nền nông nghiệp sinh thái, hay bền vững đều mang lại hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã
hội. Nhưng ngược lại, một nền sản xuất nông nghiệp mang lại hiệu quả kinh tế cao,
chưa chắc đã là một nền nông nghiệp sinh thái và bền vững nếu như nó không có tác
động đến bảo vệ môi trường sinh thái.
“Nông nghiệp đô thị: nông nghiệp đô thị là một ngành công nghiệp mà sản xuất,
chế biến và buôn bán thực phẩm và chất đốt thực hiện trên các vùng đất và mặt nước
xen kẽ, rải rác trong các đô thị và vùng ngoại ô” (UNDP). Nông nghiệp đô thị nói một
tạo môi trường sinh thái của vùng đô thị.
- Sản xuất nông nghiệp tạo ra sản phẩm chất lượng cao, đảm bảo an toàn tthực
phẩm, giữ gìn sức khoẻ và nhu cầu cho người tiêu dùng.
1.1.2. Những đặc điểm của nông nghiệp đô thị sinh thái
Phát triển nông nghiệp ven đô với mục đích đầu tiên đó là phát triển nông thôn
ven đô chứ không phải là để thoả mãn nhu cầu của đô thị. Bởi thế, cần phải hiểu đặc
trưng của nông thôn ven đô, trước khi hiểu nông nghiệp đô thị sinh thái. Nông thôn ven
đô thường có các đặc điểm sau:
1.1.2.1- Có sự gia tăng mạnh về dân số, đặc biệt là sự gia tăng cơ học. Dân số
ven đô luôn được bổ xung bởi sự di cư từ nội thành ra và từ các nơi khác đến. Kết quả là
tồn tại một xã hội nông thôn ven đô đa dạng cả về dân số và nghề nghiệp… Rất nhiều
người sống ở nông thôn ven đô bị tách biệt giữa nơi ở và nơi làm việc, các hoạt động
phi nông nghiệp cạnh tranh về lao động khá lớn với nông nghiệp và nó thu hút đặc biệt
là lực lượng lao động trẻ. Cơ sở hạ tầng nông thôn khá tốt, nhưng đôi khi không gian
nông thôn bị chia cắt, gây khó khăn cho sinh hoạt và lao động của người dân.
1.1.2.2- Tình trạng sản xuất nông nghiệp không ổn định do ngày càng có sự mở
rộng các vành đai đô thị ra bên ngoài. Tốc độ đô thị hoá, khả năng quy hoạch đô thị,
chính sách và khả năng kiểm soát sự phát triển đô thị ảnh hưởng mạnh đến tính ổn định
của nông nghiệp ven đô. Đất đai nông nghiệp có xu thế giảm mạnh. Nông nghiệp ảnh
hưởng nhiều của sự ô nhiễm đô thị. Các thành phố càng phát triển càng tồn tại nhiều các
hộ nông dân sản xuất quy mô nhỏ, do đất đai ngày một đắt và bị mất đất vì đô thị hoá.
1.1.2.3- Nông nghiệp ven đô có nhiều lợi thế về thị trường. Tận dụng lợi thế gần
thành phố, nông nghiệp ven đô thường phát triển sản xuất các sản phẩm tươi sống, rau,
sữa, quả… tạo ra nền nông nghiệp khác biệt với đặc điểm thông thường của nó. Đó là
nông nghiệp không (hoặc ít) mang tính mùa vụ. Tuy nhiên, sản phẩm đặc sản của một
số vùng nhỏ ven đô vẫn có thể tồn tại và phát triển nhờ thị trường tiêu thụ luôn mở rộng.
Các sản phẩm đặc biệt khác như hoa, cây cảnh cũng có cơ hội phát triển.
1.1.2.4- Nông nghiệp sinh thái làm cho năng suất thấp hơn: Ngô 10%, đậu 5%…,
Quản lý độ màu mỡ của đất bao gồm sinh lý, sinh thái, quay vòng dinh dưỡng,
luân canh, trồng xen, tạo ra và sử dụng lại chất hữu cơ. Sản xuất trồng trọt bao gồm
chọn giống, nhân giống, phòng trừ sâu bệnh và cỏ dại. Chăn nuôi bao gồm chiến lược
nuôi dưỡng, thú y, bảo quản. Nguồn lợi nông trại bao gồm nguồn năng lượng tái tạo
được, lao động và cơ khí. Hệ thống sau thu hoạch bao gồm cất giữ, chế biến, vận
chuyển để giảm mất mát và giữ chất lượng.
Các cơ sở kinh tế xã hội và thể chế bao gồm: Các khung điều tiết và chính sách
hỗ trợ và công cụ trả cho người sản xuất, các cơ sở tiếp thị, phát triển vùng, cung cấp
thông tin và khung pháp lý. Tiêu chuẩn và định mức chỉ đạo việc kiểm tra, cấp chứng
chỉ, nhãn hiệu và bảo đảm tín nhiệm. Chương trình nghiên cứu, bảo đảm liên hệ với các
cơ quan nghiên cứu, thúc đẩy việc tham gia của người sản xuất vào nghiên cứu tại chỗ.
Phát triển cộng đồng tổ chức nông dân với các cơ chế tự điều tiết và mạng lưới quốc
gia. Cơ cấu thị trường bao gồm đầu ra, cơ hội, lợi thế so sánh, giá cả, nhu cầu, tổ chức,
hợp tác xã và hiệp hội, các tổ chức sản xuất - tiêu dùng, mạng lưới buôn bán. Hướng
dẫn thị hiếu tiêu dùng liên quan đến quá trình sản xuất và chất lượng sản phẩm.
Khả năng chi tiêu của người tiêu dùng để hỗ trợ sản xuất sinh học. Việc chuyển
đổi sang nông nghiệp sinh học đòi hỏi thay đổi thành phần của đầu vào. Để thay thế chi
phí về phân hóa học và thuốc trừ sâu bệnh cần các chi phí về các đầu vào khác như chất
hữu cơ, làm đất, máy móc … Việc thay đổi luân canh làm giảm năng suất, sản lượng và
thu nhập, ảnh hưởng an ninh thực phẩm và môi trường tự nhiên.
Các thay đổi ấy ảnh hưởng đến các thay đổi về xã hội trong cộng đồng. Các
nguyên tắc mà các nông gia sinh học cần nhớ: Độ màu mỡ của đất do chất hữu cơ và
chất dinh dưỡng phân hữu cơ cung cấp. Chăn nuôi phải gắn liền với trồng trọt, với luân
canh, với thức ăn sản xuất trong nông trại. Phải chuyển đổi tất cả đất hoang hóa thành
nơi sản xuất thức ăn để chăn nuôi. Phải bảo vệ đa dạng sinh học bằng cách chọn các loài
và giống cây trồng và vật nuôi địa phương để trồng, nuôi và tìm đầu ra cho chúng
(VS.GS Đào Thế Tuấn).
1.1.3.2 Việc phổ biến nông nghiệp sinh học trong sản xuất
thịt, hạt cốc, sản phẩm chế biến. Hiện nay đã có hơn 20 quy trình kỹ thuật quy định việc
sản xuất thịt, sữa, phomát, trứng, giò chả, bún bánh, bánh ngọt, rượu vang, cà phê, chè,
chứa các thức ăn chế biến. Hiện nay cũng đã có hạt giống và cây con để trồng cho nông
nghiệp sinh học.
Giá của các sản phẩm sinh học thường đắt hơn sản phẩm thường 20-50%, tuỳ loại
sản phẩm. Thường sữa, khoai tây, hạt cốc, gạo ít khi đắt hơn 20%, thịt 20-40%, quả
50% vì phải bảo quản.
1.1.4. Chỉ tiêu đánh giá
- Tổng giá trị sản xuất/1ha đất nông nghiệp.
- Tổng giá trị sản xuất/1ha đất canh tác.
- Tốc độ tăng của giá trị sản xuất, thu nhập/1ha canh tác, người lao động
- Chất lượng sản phẩm, độ an toàn thực phẩm đối với con người.
- Chỉ tiêu chất lượng môi trường nước đất, không khí vùng sản xuất.
1.2. Hiện đại hoá nông thôn
1.2.1. Khái niệm
Hiện đại hoá nông thôn là quá trình ứng dụng và đổi mới các công nghệ hiện
đại và phương pháp tiên tiến vào các ngành sản xuất, cơ sở hạ tầng và văn hóa xã
hội, nhằm tạo ra năng xuất lao động và xây dựng xã hội văn minh. Các ngành kinh
tế nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ ở nông thôn được thực hiện công nghiệp hoá,
hiện đại hoá trong sản xuất, tạo ra sản phẩm chất lượng cao, năng suất cao. Đặc biệt
trong nông nghiệp từ sản xuất nguyên liệu đến bảo quản chế biến đều tiến hành công
nghiệp để tạo ra sản phẩm sạch, an toàn thực phẩm chất lượng cao là mục tiêu phấn đấu
ở vùng nông thôn. Từ sản xuất phát triển, đi đôi với nó là cơ sở hạ tầng như hệ thống
giao thông, điện, cấp nước, thông tin cũng được hiện đai từng bước để đáp ứng yêu cầu
sản xuất và đời sống.
Khi sản xuất đã được công nghiệp, các vấn đề xã hội cũng nhất thiết phải phát
triển, có như vậy tạo nên sự cân bằng phát triển, đặc biệt là trí tuệ, trình độ, tác phong
làm việc, đầu óc tổ chức để đáp ứng được yêu cầu của quá trình hiện đại hoá. Điều đặc
độ thích hợp, ở từng vùng trong thời kỳ công nghiệp hóa và đã đạt được những thành
tựu đáng khích lệ.
Xuất phát từ những điều kiện thực tế của nước ta và vận dụng có chọn lọc kinh
nghiệm của nước ngoài, Đảng ta có chủ trương trong thời kỳ đầu đi lên công nghiệp
hóa: “đặc biệt coi trọng công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn”, nghĩa là đồng thời
vừa công nghiệp hóa đô thị vừa công nghiệp hóa nông thôn.
Cơ sở khoa học và thực tiễn của chủ trương này là ở chỗ nước ta đi lên công
nghiệp hóa từ một nền kinh tế nông nghiệp với trình độ sản xuất thấp kém, sản xuất tự
cấp tự túc, khối lượng và tỷ suất nông sản hàng hóa ít, không đủ khả năng đáp ứng nhu
cầu bức thiết của công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn.
Mặt khác, nông nghiệp và nông thôn nước ta là khu vực kinh tế có tiềm năng lớn
về tài nguyên mà ta có thế mạnh về đất đai và lao động. Công nghiệp hóa tác động vào
đất đai thông qua các giải pháp ứng dụng các thành tựu công nghệ sinh học, hóa học, cơ
điện, sẽ tạo ra năng suất cao về cây trồng, vật nuôi, nâng cao hiệu quả sử dụng đất,
nước, khí hậu nhiệt đới tạo ra sản lượng cao về nông, lâm, ngư nghiệp. Công nghiệp hóa
tác động vào đội ngũ lao động đông đảo gần 30 triệu người ở nông thôn, chiếm khoản
70% lao động xã hội, thông qua các giải pháp tổ chức quản lý, cơ chế và chính sách
khoa học, công nghệ thích hợp sẽ đẩy mạnh thâm canh tăng vụ, phát triển sản xuất
nông, lâm, ngư nghiệp, mở mang các ngành nghề, nâng cao năng suất lao động nông
nghiệp. Công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn cuối cùng tạo ra sự chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông thôn từ thuần nông sang cơ cấu kinh tế nông, công nghiệp và dịch vụ,
góp phần tích cực vào việc phân bổ lại lực lượng lao động nông nghiệp và nông thôn,
giải quyết lao động dư thừa ở nông thôn, nâng cao thu nhập của cư dân nông thôn, cải
thiện mức sống ở nông thôn và thúc đẩy việc cải tạo và xây dựng nông thôn mới. Công
nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn tạo ra điều kiện tăng trưởng khối lượng và chất
lượng nông – lâm – thuỷ, hải sản xuất khẩu, thu ngoại tệ phục vụ nhu cầu nhập thiết bị
công nghệ cho công nghiệp hóa.
Như vậy, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn nước ta có vị
nghiệp. Nhưng điều khẳng định chắn chắn CNH - HĐH nông thôn là quá trình khá dài
và đòi hỏi phải đầu tư lớn.
1.2.2.2
Hiện đại hoá các cơ sở hạ tầng
Các ngành kinh tế muốn phát triển thì cơ sở hạ tầng cũng phải phát triển tương ứng,
thậm chí có cơ sở hạ tầng còn phải đi trước một bước để thúc đẩy các ngành kinh tế
phát triển :
+ Đường giao thông
+ Hệ thống điện
+ Hệ thống bưu chính, viễn thông
+ Hệ thống nước
+ Hệ thống y tế
+ Hệ thống trường học
+ Hệ thống công trình văn hoá, phúc lợi
1.2.2.3 - Hiện đại hoá các vấn đề xã hội
+ Nâng cao trình độ dân trí của người lao động và dân cư
+ Xây dưng và tổ chức nếp sống văn hoá công nghiệp cho cộng đồng
+ Hiện đại cuộc sống văn hoá, xây dựng xã hội văn minh
1.2.3. Chỉ tiêu đánh giá hiện đại hoá
Trên thế giới không có chỉ tiêu đánh giá cho một quốc gia hiện đại, nông thôn
hiện đại, mà họ có chỉ tiêu phân chia ra các nước công nghiệp (các nước phát triển) , các
nước đang phát triển, trong các nước đang phát triển còn có một số nước chậm phát
triển.
Đây là sự đánh giá thông qua trình độ phát triển kinh tế, trong đó chỉ tiêu quan
trọng là phát triển công nghiệp, dịch vụ, họ còn gọi là các nước công nghiệp. Với logic,
khi kinh tế phát triển thì kéo theo nhiều vấn đề khác phải phát triển và ngược lại kinh tế
- Điện khí hóa nông thôn.
- Phát triển giao thông nông thôn.
- Thuỷ lợi hóa nông nghiệp.
- Cơ khí hóa, đẩy mạnh công nghiệp chế biến nông sản.
- Tiến hành cuộc cách mạng sinh học thay đổi giống cây, con có năng suất, chất
lượng cao đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước và thế giới.
- Phát triển sự nghiệp văn hóa, giáo dục, y tế nông thôn.
Để thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và kinh tế nông
thôn, Nghị quyết Trung ương bốn đã nêu ra hệ thống giải pháp lớn, cụ thể:
1.2.4.1. Đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với phân công lại
lao động ở nông thôn
Nông thôn nước ta đất chật, người đông, ruộng đất vốn đã ít lại đang bị giảm
nhanh (do xây dựng phát triển công nghiệp, kết cấu hạ tầng, đô thị hóa …), đến nay đất
canh tác bình quân một nhân khẩu nông nghiệp chỉ còn hơn 800m2, riêng miền Bắc chỉ
còn hơn 500m2, thấp hơn nhiều mức “xiềng 3 sào” của những năm 60. Hơn nữa, do hầu
hết lao động làm nông nghiệp tập trung chủ yếu vào trồng trọt, trồng cây lương thực,
nên lao động nông thôn còn dư thừa lớn (theo điều tra năm 1996, tỷ lệ thiếu việc làm ở
nông thôn là 27,6% tương ứng 2,2 tỷ ngày công chưa được sử dụng. ở một số tỉnh tỷ lệ
thiếu việc làm ở nông thôn tới 30%-32% lực lượng lao động). Trong những năm tới cần
chuyển đổi căn bản cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, vừa nâng cao giá trị trên một
đơn vị diện tích đất canh tác, tăng nhanh tỷ trọng các sản phẩm ngoài lương thực (rau
màu, cây công nghiệp, chăn nuôi ... Nếu trồng lúa năng suất 10 tấn trên 1 ha một năm
thì giá trị thu được trên 1 ha một năm chỉ đạt 15 - 20 triệu đồng. Nhờ thay đổi cơ cấu
cây trồng , áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ, nhiều địa phương đã tạo ra 40
- 50 triệu đồng trên 1 ha một năm), vừa phát triển tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp và
dịch vụ trong khu vực nông thôn, để đến năm 2000 sử dụng được trên 75% thời gian lao
động ở nông thôn. Để thực hiện được điều đó cần phải:
1.2.4.2 Thực hiện tốt các chủ trương về phát triển nông, lâm, ngư nghiệp theo
mắt và lâu dài của đất nước cũng như với tư cách một quốc gia đã tham gia Hội nghị về
bảo vệ môi trường thế giới, cần phải có những biện pháp kiên quyết ngăn chặn tình
trạng này.
Trước hết, phải bảo vệ cho được diện tích rừng hiện có, đặc biệt bảo vệ nghiêm
ngặt rừng đặc dụng và rừng phòng hộ, khoanh nuôi rừng tái sinh, quản lý chặt chẽ việc
khai thác vốn rừng kinh tế. Xây dựng quy hoạch cụ thể và tích cực triển khai thực hiện
dự án trồng mới 5 triệu ha rừng đã được Quốc hội thông qua. Bảo đảm phủ xanh 40%
diện tích cả nước.
Để ngăn chặn tình trạng du canh du cư, đốt phá rừng bừa bãi, chuyển đồng bào
miền núi sang định canh, định cư, ổn định cuộc sống, cần phải thực hiện nhất quán và
tích cực chủ trương giao đất, giao rừng cho hộ gia đình làm chủ, bảo đảm lợi ích của hộ
nhận đất, nhận rừng, giúp đỡ cho các hộ có điều kiện sinh sống để trồng rừng, chăm sóc,
bảo vệ rừng, để đồng bào sống được bằng nghề rừng ngay cả khi có chủ trương đóng
cửa rừng. Cần xem xét cụ thể điều kiện sinh sống trước mắt và lâu dài của nhân dân
từng xã, từng huyện miền núi để có biện pháp phát triển kinh tế - xã hội tại chỗ, hoặc
chính sách tạo việc làm, đảm bảo đời sống cho những hộ cần chuyển cư. Hạn chế thấp
nhất tình trạng di dân tự do, cần phối hợp giữa các tỉnh, các huyện có dân đi và dân đến
để tổ chức việc di dân có tổ chức, có kế hoạch, có hiệu quả.
- Trong ngư nghiệp và phát triển kinh tế biển: Nước ta là quốc gia có biển; phát
triển kinh tế biển, đánh bắt và nuôi trồng hải sản là thế mạnh của nền kinh tế nước ta.
Trong những năm qua, ngành thuỷ sản đã tạo ra lượng hàng xuất khẩu có giá trị lớn
(năm 1996: 651 triệu USD; năm 1997:750 triệu USD, năm 2004 kế hoạch xuất khẩu 2
tỷ USD ).
Tiềm năng đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản còn rất lớn. Trước mắt phải khôi
phục lại đội tàu thuyền đánh bắt và diện tích nuôi trồng thuỷ sản bị thiệt hại lớn do cơn
bão số 5 gây ra. Đầu tư cho các vùng không bị thiên tai phát triển để bù lại và nâng cao
sản lượng bảo vệ nguồn lợi hải sản và khôi phục môi trường sinh thái biển vùng gần bờ,
cần hạn chế việc đánh bắt cá ven bờ, chuyển mạnh sang đánh bắt xa bờ, nuôi trồng thuỷ
800m2, ở đồng bằng Bắc bộ là 500m2, tức là mỗi mảnh chỉ khoảng 50-80m2). Bởi vậy
cần khuyến khích và giúp đỡ các hộ nông dân đổi đất cho nhau để liền thửa, liền
khoảnh, tạo điều kiện cho thâm canh và nâng cao năng suất lao động. Hiện nay việc này
đang được các hộ nông dân ở một số tỉnh thành thực hiện tích cực.
Trong nông nghiệp, nông thôn hiện nay đang diễn ra hiện tượng sang nhượng
ruộng đất, tích tụ, tập trung ruộng đất. Những người sang nhượng, chuyển quyền sử
dụng đất cho người khác có nhiều loại, có nhiều lý do: Người chuyển sang làm việc
khác, nghề khác, người thiếu vốn, thiếu lao động, ốm đau bệnh tật hoặc rủi ro tai hoạ,
người không có kinh nghiệm sản xuất … Điều này một mặt dẫn đến tích tụ và tập trung
ruộng đất, hình thành nên những hộ sản xuất hàng hóa lớn và tạo điều kiện thúc đẩy sự
phân công lao động xã hội trong nông nghiệp, nông thôn. Nhưng mặt khác lại đưa tới
hàng vạn hộ nông dân (hiện nay tập trung chủ yếu ở vùng đồng bằng sông Cửu Long)
không còn ruộng đất phải trở thành người làm thuê, làm mướn, phân hóa giàu nghèo ở
nông thôn ngày càng mở rộng.Xử lý vấn đề này có ý kiến cho rằng việc tích tụ và tập
trung ruộng đất là tất yếu phải diễn ra trong quá trình phát triển nông nghiệp và là xu
hướng tiến bộ. Để tích tụ và tập trung ruộng đất thì nhất định có một bộ phận nông dân
không có ruộng đất, nhưng đó là điều kiện để phân công lại lao động nông nghiệp, để
chuyển một bộ phận nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ. Đó là điều bình
thường.Cần phải có sự tích tụ và tập trung ruộng đất trong quá trình phát triển của nông
nghiệp. Nhưng vấn đề là tích tụ đến mức nào, như thế nào? Tất nhiên là phải phân công
lại lao động nông nghiệp, rút bớt lực lượng lao động khỏi nông nghiệp cùng với quá
trình phát triển kinh tế đất nước. Nhưng điều đó lại phụ thuộc vào trình độ phát triển của
công nghiệp và dịch vụ, vào khả năng thu hút lực lượng lao động của các khu vực này.
Khi công nghiệp và dịch vụ chưa phát triển mà nông dân mất đất phải đi làm thuê, làm
mướn là điều không thể chấp nhận. Vì vậy Nghị quyết trung ương bốn khóa VIII cũng
đã chỉ ra là cần quản lý chặt chẽ việc nhượng quyền sử dụng đất theo đúng pháp luật,
không để nông dân nghèo sống bằng nghề nông phải bán đất (những người chuyển đi
làm nghề khác hay di cư lập nghiệp ở nơi khác … thì có thể nhượng quyền sử dụng đất).
Đặc biệt phải ngăn chặn và xử lý các thủ đoạn chèn ép, cưỡng đoạt ruộng đất của người
Phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn là một
hướng quan trọng để thực hiện công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn, chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động nông thôn để lao động nông thôn dư thừa không đổ xô
vào các đô thị lớn, gây ra nhiều vấn đề kinh tế-xã hội phức tạp. Phát triển công nghiệp
nông thôn, khôi phục và phát triển các làng nghề, các nghề thủ công truyền thống, các
dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống ở nông thôn, để nông dân “ly nông bất ly hương”,
là hướng phát triển được nhiều nước đang phát triển thực hiện có kết quả tốt.
Để phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn, Nhà
nước cần có sự hỗ trợ xây dựng và nâng cấp kết cấu hạ tầng ở nông thôn như điện,
đường, hệ thống nước, trường, trạm, chợ … Bổ sung chính sách khuyến khích mọi
người, mọi doanh nghiệp thuộc mội thành phần kinh tế, kể cả người nước ngoài đầu tư
vào phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn, như xoá bỏ các
thủ tục phiền hà trong đăng ký kinh doanh, những quy định không hợp lý về cư trú, về
quản lý hộ khẩu, phân biệt người địa phương với người nơi khác đến đầu tư và tìm việc
làm; tăng thời gian miễn, giảm thuế, ưu đãi về lãi suất, thời hạn cho vay và bảo lãnh các
khoản tín dụng, giảm giá thuê đất hoặc miễn toàn bộ tiền thuê đất đối với những dự án
đầu tư vào vùng khó khăn, kể cả với đầu tư 100% vốn nước ngoài …
Quy hoạch và xúc tiến việc xây dựng các khu công nghiệp, đặc biệt là các khu
quy mô nhỏ, tạo sẵn cơ sở hạ tầng để thu hút đầu tư vào nông thôn; xây dựng các thị
trấn, thị tứ cùng với các khu công nghiệp, hình thành các trung tâm kinh tế - xã hội văn hóa, khoa học và công nghệ ở nông thôn.
Việc phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn cần
được tổ chức theo theo hưóng liên kết cơ sở công nghiệp chế biến nông - lâm - thuỷ sản
với đơn vị sản xuất nguyên liệu, liên kết giữa các khâu trước, trong và sau sản xuất,
giữa sản xuất nguyên liệu, chế biến và tiêu thụ sản phẩm, đảm bảo lợi ích của các khâu,
gắn kết quan hệ nông nghiệp với công nghiệp, công nhân với nông dân. Một số mô hình
đã hình thành ở một số địa phương như Liên hiệp mía đường Lam Sơn, nông trường
Sông Hậu cần được tổng kết, nhân rộng.
1.2.4.5 Tăng nhanh trang thiết bị kỹ thuật trong nông nghiệp, nông thôn
ổn định, nhiều khi xuống quá thấp nên giá trị tăng thêm của nông sản không tương ứng
với mức tăng sản lượng, nông dân bị thu thiệt, được muà nông dân không phấn khởi,
làm cho sức mua của xã hội hạn chế, ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển chung của nền
kinh tế. Ngoài lúa thì hạt điều, cao su, cà phê, chè, các loại hoa quả khác cũng gặp
những vấn đề khó khăn về thị trường, sự bấp bênh của giá cả.
Thị trường tiêu thụ nông sản đang trở thành vấn đề lớn, bức sức đối với sản xuất
nông nghiệp và đời sống nông dân. Nông sản xuất khẩu của Việt Nam có cơ cấu tương
tự như nhiều nước trong khu vực: gạo, cà phê, cao su, chè … Gần đây các nước như
Thái Lan, Malaixia, Indônêxia, Philippin, đồng tiền mất giá do cuộc khủng hoảng tài
chính - tiền tệ càng làm cho hàng xuất khẩu của Việt Nam phải cạnh tranh gay gắt hơn,
khó khăn hơn.
Để mở rộng thị trường tiêu thụ, yếu tố quyết định là nâng cao chất lượng sản
phẩm, hạ giá thành, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm. Đó là những vấn đề thuộc
lĩnh vực sản xuất, phải phấn đấu thực hiện. Còn trong lĩnh vực lưu thông cần phải giải
quyết một số giải pháp lớn sau:
- Thực hiện cơ chế lưu thông thật sự thông thoáng trên thị trường trong nước đối
với các loại vật tư và sản phẩm nông nghiệp, công nghiệp nông thôn với sự tham gia
của mọi thành phần kinh tế, xóa bỏ tình trạng độc quyền, chia cắt, cát cứ trong việc mua
nông sản. Nhưng phải đặc biệt coi trọng, củng cố và phát triển hệ thống thương nghiệp
nhà nước trên địa bàn nông thôn, phát triển các hình thức hợp tác, liên kết giữa thương
nghiệp nhà nước với hợp tác xã, nông dân và lực lượng thương nghiệp tư nhân nhỏ.
Khắc phục tình trạng thương nghiệp nhà nước co cụm về thành phố, thị xã, thị trấn, kinh
doanh đơn thuần chỉ để nuôi sống mình, thả nổi thị trường nông thôn, gây thiệt hại đến
lợi ích của nông dân, không phục vụ phát triển sản xuất nông nghiệp.
Ngăn ngừa và xử lý kịp thời những hành vi đầu cơ lũng đoạn thị trường, xử lý
kịp thời những biến động trên thị trường làm thiệt hại lợi ích của nông dân và Nhà nước.
Miễn thuế lưu thông đối với hàng tươi sống và những nông sản thực phẩm thiết yếu cho
đời sống nhân dân.
nghiệp - công nghiệp hóa xảy ra từ thế kỷ 19. Chính sự phát triển của nông nghiệp đô
thị đã hài hoà hai quá trình đô thị hóa và phát triển nông nghiệp hiện đại.
Trong các năm 1970 nông nghiệp đô thị còn ít được chú ý. ở một số nước châu
Phi bắt đầu xây dựng các dự án nông nghiệp đô thị như ở Ghana, Zaire, Zambia với sự
giúp đỡ của Pháp FOA, UNICEF. Sang các năm 1980 nhiều tổ chức phát triển của các
nước và tổ chức quốc tế hỗ trợ nhiều dự án ở châu Phi, á, Mỹ Latin. Sang các năm 1990
thì phong trào nông nghiệp đô thị phát triển mạnh ở nhiều nước và bắt đầu phát triển cả
ở các nước đã phát triển như Mỹ, Canada, Anh, Hà Lan. Nhiều tổ chức quốc tế về nông
nghiệp đô thị ra đời, thúc đẩy việc nghiên cứu về vấn đề này. Các tổ chức phi chính phủ
tham gia vào phong trào này ngày càng đông từ thực tiễn phát triển nông nghiệp đô thị
của các nước có thể rút ra mặt tích cực của nông nghiệp đô thị: Đô thị có xu hướng phát
triển với mật độ dân số thấp hơn trước nên có nhiều đất để làm nông nghiệp. Nông
nghiệp đô thị có hiệu quả và tính cạnh tranh cao hơn nông nghiệp nông thôn, nhất là
trong những ngành rau, thuỷ sản, gia cầm, lợn. Nông nghiệp đô thị ở các nước đang
phát triển nhằm tạo an ninh thực phẩm, việc làm, môi trường còn ở các nước đang phát
triển thì nhằm vào chất lượng cao.
Theo các dự báo từ năm 1993 đến 2005, nông nghiệp đô thị tăng tỷ lệ tự túc thực
phẩm từ 15% lên 33%, phần rau, thịt, cá, sữa dùng ở đô thị tăng từ 33 lên 50%, số nông
dân ra đô thị sản xuất hàng hóa tăng từ 200 lên 400 triệu người. Công nghệ trong nông
nghiệp đô thị bắt đầu phát triển nhanh và trong thời gian tới sẽ phát triển rất nhanh.
Châu á là một vùng có nhiều châu thổ đông dân. Vấn đề phát triển của các châu thổ này
từ lâu đã là một đề tài mà nhiều ngành khoa học quan tâm. Vùng Nam và Đông Nam
châu á có hai loại châu thổ: Châu thổ đông dân (trên 300 dân một km2), có 250.000km2
với 120 triệu dân và châu thổ thưa dân có 120.000 km2 với 10 triệu dân.
Trong tương lai các châu thổ như châu thổ sông Hồng sẽ phát triển như thế nào.
Dự đoán sự phát triển này thực ra rất khó. Dự đoán của P.Gourou vào các năm 1930 là:
“Nếu người ta chấp nhận một suất dư là 15 trên 1000 thì dân số Châu thổ Bắc Kỳ sẽ là
13.000.000 khẩu vào năm 1984. Chúng tôi tin rằng số dư thực sự phải giữ mức giữa 10
có một hệ thống kinh tế trong đó dịch vụ chiếm một vị trí quan trọng. Trên thế giới có 5
tổ hợp siêu đô thị: Vùng 5 hồ lớn ở Mỹ, vùng bờ biển phía
Bảng1: Các hệ thống nông nghiệp đông dân ở châu á
Nhật
Đài Loan
Đông Nam Châu thổ
Bản
Dân số/ha canh tác
TQ
sông Hồng
28,5
24,3
22,6
23,0
Nông dân/ha canh tác
1,5
4,5
2510
2470
Sản lượng chăn nuôi($/ha)
1450
5450
2310
1070
Lương thực
10
7
30
43
Rau quả
13
20
Lương thực nhập(kg/ha)
6106
8289
2164
754
Lương thực sử dụng(kg/ha)
8717
10892
9125
7683
Lương thực sử dụng(kg/người)
305
449
403
335