Báo cáo KH: " Cơ sở khoa học để phát triển các sản phẩm du lịch thể thao mạo hiểm vùng núi phía Bắc" - Pdf 23

BỘ VĂN HÓA-DU LỊCH VÀ THỂ THAO
VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH

BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP BỘ
CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỂ PHÁT TRIỂN
CÁC SẢN PHẨM DU LỊCH THỂ THAO
MẠO HIỂM VÙNG NÚI PHÍA BẮC

Chủ nhiệm đề tài: PHẠM TRUNG LƯƠNG
Viện Nghiên cứu phát triển du lịch
Gouloises” năm 2002 trên một lãnh thổ trải dài từ Lào Cai đến Hải Phòng. Mức độ hấp
dẫn của các sản phẩm du lịch thể thao - mạo hiểm ở khu vực này sẽ được tăng lên khi
du khách còn được khám phá những giá trị văn hoá bản địa đặc sắc của nhiều dân tộc
thiểu số như Tày, Dao, H’Mông, v.v. sinh s
ống ở đây.

Mặc dù có tiềm năng lớn về du lịch thể thao - mạo hiểm, tuy nhiên thời gian
qua loại hình du lịch này còn chưa phát triển, các sản phẩm du lịch thể thao - mạo
hiểm chưa rõ nét, đơn điệu và thiếu hấp dẫn. Khách du lịch hiện nay đến với vùng núi
phía Bắc chủ yếu là để tham quan, tìm hiểu các giá trị văn hoá của một số dân tộc
thiểu số, tham quan cả
nh quan ở một số vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên như
Ba Bể, Hoàng Liên, v.v. Tiềm năng du lịch đặc sắc của khu vực này cho đến nay còn
để ngỏ. Một trong những nguyên nhân cơ bản của tình trạng trên là cho đến nay chưa
có được cơ sở khoa học (lý luận và thực tiễn) làm cơ sở cho việc đẩy mạnh sự phát
triển các sản phẩm du lịch đặc sắc này.

Nhằm đẩy m
ạnh sự phát triển và nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch thể thao
- mạo hiểm ở vùng núi phía Bắc, góp phần tích cực khắc phục một trong những hạn
chế cơ bản của du lịch Việt Nam và thực hiện chiến lược phát triển du lịch Việt Nam
đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, việc tiến hành nghiên cứu đề tài “Cơ sở
học để phát triển các sản ph
ẩm du lịch thể thao - mạo hiểm ở vùng núi phía Bắc” là rất
cần thiết và mang tính cấp thiết. Kết quả nghiên cứu không chỉ có ý nghĩa lý luận mà
sẽ còn có giá trị thực tiễn, góp phần đẩy mạnh sự phát triển loại hình du lịch đặc thù
và hấp dẫn của vùng núi phía Bắc Việt Nam. BÁO CÁO TỔNG HỢP

lịch thể thao - mạo hiểm
 Xác lập những định hướng chính phát triển các sản phẩm du lịch thể thao – mạo
hiểm chủ yếu ở vùng trung du miền núi phía Bắc
 Kiến nghị một số giải pháp nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng du lịch vùng
núi phía Bắc để phát triển các sản phẩ
m du lịch thể thao - mạo hiểm, góp phần
tích cực vào sự nghiệp phát triển du lịch vùng du lịch Bắc Bộ nói riêng, du lịch
Việt Nam nói chung.

1.2.3 Các quan điểm nghiên cứu chính

* Quan điểm hệ thống lãnh thổ

Hoạt động phát triển nói chung, du lịch thể thao mạo hiểm nói riêng, ở bất kỳ
cấp phân vùng lãnh thổ nào cũng không tách rời trong hệ thống lãnh thổ chung ở cấp
cao hơn. Hơn nữa, do đặ
c tính của hoạt động du lịch là có tính liên vùng và xã hội hoá
cao nên nghiên cứu các yếu tố liên quan đến hoạt động du lịch không thể tách rời khỏi

BÁO CÁO TỔNG HỢP

CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỂ PHÁT TRIỂN CÁC SẢN PHẨM DU LỊCH THỂ THAO – MẠO HIỂM VÙNG NÚI PHÍA BẮC
3
quan điểm hệ thống lãnh thổ. Quan điểm hệ thống còn đặc biệt có ý nghĩa trong quá
trình nghiên cứu các yếu tố tài nguyên và môi trường do mối liên hệ liên vùng trong
quản lý và đánh giá các tác động ảnh hưởng.

* Quan điểm tổng hợp

Quan điểm tổng hợp là quan điểm truyền thống của nghiên cứu tự nhiên nói

Tây Bắc và một phần tiểu vùng du lịch duyên hải Đông Bắc (địa bàn các địa
phương : Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Điện Biên, Lai Châu, Lao Cai, Yên
Bái, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Phú Thọ, Bắc Giang, Sơn La, Hòa
Bình và Quảng Ninh ).
 Về thời gian:
các số liệu, tài liệu chủ yếu được sử dụng trong nghiên cứu là
những tư liệu đã công bố trong vòng 5 năm trở lại đây (2000 - 2005).
 Đối tượng: tài nguyên du lịch, sản phẩm và điều kiện trực tiếp ảnh hưởng đến
phát triển các sản phẩm du lịch thể thao - mạo hiểm BÁO CÁO TỔNG HỢP

CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỂ PHÁT TRIỂN CÁC SẢN PHẨM DU LỊCH THỂ THAO – MẠO HIỂM VÙNG NÚI PHÍA BẮC
4
1.2.5 Các phương pháp và quy trình nghiên cứu

1.2.5.1. Các phương pháp nghiên cứu chủ yếu

* Phương pháp phân tích tổng hợp và phân tích hệ thống

Đây là phương pháp cơ bản được sử dụng phổ biến trong hầu hết các nghiên
cứu khoa học. Nghiên cứu về phát triển du lịch có quan hệ chặt chẽ tới các điều kiện tự
nhiên, kinh tế - xã hội, vì vậy phương pháp này có ý nghĩa quan trọng trong quá trình
nghiên cứu của đề
tài này.

* Phương pháp điều tra thực địa

Công tác thực địa có mục đích cơ bản là kiểm tra chỉnh lý và bổ sung những tư

Trong khuôn khổ nghiên cứu này, ph
ương pháp hệ thông tin địa lý (GIS) sẽ
được sử dụng để đánh giá mức độ thuận lợi của hoạt động phát triển du lịch thể thao
mạo hiểm đứng trên cơ sở tổng hợp các điều kiện và tài nguyên du lịch có liên quan. BÁO CÁO TỔNG HỢP

CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỂ PHÁT TRIỂN CÁC SẢN PHẨM DU LỊCH THỂ THAO – MẠO HIỂM VÙNG NÚI PHÍA BẮC
5
Khái quát về Hệ thông tin địa lý - GIS:

Ngày nay, khái niệm về hệ thông tin địa lý (Geographic Information System - GIS)
còn chưa được hoàn toàn thống nhất từ những góc độ nghiên cứu và ứng dụng khác
nhau. Có thể nêu ra một số thí dụ:

 GIS là một hệ thống thông tin bao gồm một số phụ hệ (subsystem) có khả năng
đổi dữ liệu địa lý thành các thông tin có ích (Calkins and Tomlinson 1977;
Marble 1984; Star and Estes 1990).

 GIS là một hệ thống có chức năng xử lý các thông tin địa lý nhằm phục vụ
quy hoạ
ch, trợ giúp quyết định trong một lãnh vực chuyên môn nhất định.
(Pavlidis 1982).

 GIS là một hệ thống chứa hàng loạt chức năng phức tạp dựa vào khả năng máy
tính và các bài toán xử lý thông tin không gian. (Tomlinson and Boy 1981).
 GIS là một hệ thống sử dụng cơ sở dữ liệu để trả lời các câu hỏi về bản chất địa
lý của các thực thể địa lý. (Goodchild 1985; Peuquet 1985).
 GIS là một h

CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỂ PHÁT TRIỂN CÁC SẢN PHẨM DU LỊCH THỂ THAO – MẠO HIỂM VÙNG NÚI PHÍA BẮC
6
Hệ GIS coi mô hình tiếp cận lãnh thổ như một loại các lớp bản đồ trùng phủ
(Overlay) lên nhau mà mỗi lớp bản đồ riêng rẽ là một biến số. Thông tin thể hiện trên
các bản đồ này có thể được tổ chức theo một trong hai cách : raster hoặc vector. Mô
hình Raster sử dụng lưới điểm để thực hiện và lưu trữ thông tin, thể hiện trực tiếp cho
phần bên trong của vùng và gián tiếp cho đường bao. Mô hình Vector thể hi
ện toàn bộ
thụng tin thành điểm, đường hoặc vùng, thể hiện trực tiếp cho đường bao và gián tiếp
cho phần bên trong của vùng.

Năng lực của một hệ GIS dù theo cấu trúc Raster hay Vector thể hiện ở các chức
năng xử lý và hiển thị các thông tin không gian của hệ ấy, bao gồm :

 Truy nhập dữ liệu;
 Tạo và biến đổi các bản đồ;
 Tạo, chồng x
ếp, gộp các vùng;
 Các phép đo, biến đổi toán học;
 Chồng xếp (overlay) và gộp (combine) các vùng;
 Xử lý Raster;
 Phân tích không gian 3 chiều (3D analysis)

Các mô hình xử lý chủ yếu có thể được mô tả như sau :

+ Mô hình quản lý dữ liệu bản đồ nhiều cấp: Mụ hỡnh này nhằm đáp ứng nhu cầu
quản lý một số lượng lớn các đối tượng phân bố trên một phạm vi lónh thổ
rộng mà
mỗi đối tượng lại là một cơ sở dữ liệu - bản đồ hoàn chỉnh với nhiều lớp bản đồ cùng
với các dữ liệu đi kèm.

trong thực tế là phương pháp phân tích chồng xếp (Overlay Analysis) . Trong khuôn
khổ phương pháp này, các số liệu không bị biến đổi mà chỉ phối hợp với nhau theo các
phương pháp chồng xếp, tách chọn hoặc gộp nhóm. Công cụ toán học cơ bản được sử
dụng nhiều nhất là đại số tập hợp (Boolean Algebra). Các phép toán cơ bản của đại số
tập hợ
p là AND, OR, XOR NOT. Khi các số liệu thông tin địa lý đã được lưu trữ và có
thể được truy nhập bằng các phương thức khác nhau, việc tái phân loại, ghép nhóm là
những thao tác đầu tiên hay được thực hiện. Tư liệu được ghép nhóm theo các yêu cầu
cho trước và sau đó được thể hiện trên màn hình.

Các thuật toán chồng xếp chủ yếu áp dụng cho cấu trúc dữ liệu raster. Tuy
nhiên, cũng có thể áp dụng cho các bản đồ vector. Đương nhiên khi chồng xếp các bản
đồ vectơ với nhau, rất nhiều các vùng đa giác được tạo thành. Có những vùng thực sự
có ý nghĩa và có những vùng hoàn toàn xuất hiện do sự không nhất quán giữa các bản
đồ chuyên đề tạo thành. Đương nhiên với kiến thức chuyên ngành người ta có thể hiệu
đính hoặc loại bỏ hoặc gộp các vùng lại với nhau.

Kỹ thuật chồng xếp thường được đề xuất theo 2 cách : Qua bảng tra xếp cấp và
qua mô hình toán họ
c.

+ Qua bảng tra xếp cấp, ví dụ từ bản đồ nham và bản đồ kiểu địa hình có thể
đưa ra bản đồ dạng đất (Land Form) qua bảng tra: Loại nham + Kiểu địa hình =>
Dạng đất

+ Qua mô hình toán học, ví dụ như : XM=A*D
t1
*L
t2
*p

đánh giá các yếu tố thành phần chính bao gồm:
địa hình (độ dốc, sự tập trung các đỉnh núi cao, các hang động); hệ thống thuỷ văn (các
dòng sông, con suối và hồ nước) – kết hợp sự tập trung các làng/bản dân tộc nơi còn
lưu giữ được những giá trị văn hóa truyền thống và các giá trị sinh học (các vườn quốc
gia, khu bảo tồn thiên nhiên) – kết hợp các giá trị cảnh quan.

1.2.5.2 Quy trình nghiên cứu

Quy trình nghiên cứu của
đề tài được bao gồm các bước cơ bản sau:

* Xác lập mục tiêu và nội dung nghiên cứu

Đây là bước khởi đầu quan trọng đối với việc thực hiện đề tài. Các mục tiêu,
nội dung cũng như giới hạn nghiên cứu của đề tài sẽ được điều chỉnh phù hợp với điều
kiện thực hiện trong những hoàn cảnh cụ thể căn cứ vào ý kiến đóng góp của hội đồng
khoa học và các chuyên gia trong và ngoài ngành .

* Thu thập tư liệ
u và tiến hành phân tích sơ bộ trong phòng

Các nội dung cần thu thập phân tích xử lý tư liệu bao gồm:
 Về hiện trạng tiềm năng và điều kiện phát triển du lịch nói chung, phát triển du
lịch thể thao mạo hiểm nói riêng ở vùng núi phía Bắc;
 Về hiện trạng phát triển du lịch nói chung, phát triển du lịch thể thao mạo hiểm,
bao gồm lượng khách du lịch, doanh thu, đầu tư, lực lượng lao động... ở vùng
núi phía Bắc;

Về các điều kiện có liên quan khác đến phát triển du lịch thể thao mạo hiểm
như các vấn đề về kinh tế - xã hội, hệ thống hạ tầng cơ sở, hệ thống các chính

cáo dự thảo sẽ được chỉnh sửa bổ sung và hoàn thiện để trở thành báo cáo cuối cùng
chính thức của đề tài trình Hội đồng khoa học đánh giá nghiệm thu.


hoang sơ, ít bị tác động c
ủa con người với các giá trị đa dạng sinh học cao; v.v.

Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) đã phân loại các loại hình du lịch chính
theo các mục đích cơ bản của thị trường khách bao gồm: du lịch tham quan, du lịch
nghỉ mát, du lịch chữa bệnh, du lịch vui chơi giải trí; du lịch thăm thân; du lịch công
vụ; du lịch tín ngưỡng, v.v.. Tất cả những mục đích đi du lịch đều xu
ất phát từ ý thích
cá nhân của khách du lịch (tham quan, nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí, ...) hoặc là nghĩa
vụ mà khách du lịch có trách nhiệm thực hiện đối với xã hội hoặc với chính bản thân
mình (công vụ, chữa bệnh,...). Nội dung phân loại được thể hiện trên Sơ đồ 1.

Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến sự phát triển của một loại hình du lịch nào đó
bao gồm :

- Điều kiện tự nhiên
: đây là nhóm yếu tố khách quan có ảnh hưởng trực tiếp
đến sự phát triển của những loại hình du lịch dựa vào tự nhiên như du lịch nghỉ dưỡng,
du lịch thể thao (ngoài trời), du lịch sinh thái, v.v. Những biến đổi về điều kiện tự
nhiên, đặc biệt là điều kiện khí hậu, thuỷ văn trên thế giới nói chung, ở Việt Nam nói
riêng trong thời gian gần đây
đã và đang có những ảnh hưởng nhất định đến sự phát
triển của những loại hình du lịch này. Tuy nhiên ảnh hưởng của nhóm yếu tố này
thường chỉ làm thay đổi phạm vi, mức độ, quy mô của những loại hình du lịch dựa vào
tự nhiên mà không làm thay đổi bản chất của loại hình du lịch.

BÁO CÁO TỔNG HỢP

CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỂ PHÁT TRIỂN CÁC SẢN PHẨM DU LỊCH THỂ THAO – MẠO HIỂM VÙNG NÚI PHÍA BẮC
11
- Sự biến đổi (về số lượng và chất lượng) của tài nguyên du lịch
: đây cũng là
nhóm yếu tố khách quan (một cách tương đối) có ảnh hưởng đến sự phát triển của
phần lớn các loại hình du lịch hiện nay. Ví dụ, sự mất đi của một loài sinh vật đặc hữu
ở một khu bảo tồn thiên nhiên/vườn quốc gia nào đó sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển
của loại hình du lịch sinh thái ở khu vực đó nói riêng, ở quố
c gia nơi có loài sinh vật
đó nói chung. Tuy nhiên yếu tố ảnh hưởng này có thể được kiểm soát bởi pháp luật
nhằm bảo tồn và phát triển tài nguyên. Ở Việt Nam, các văn bản luật về tài nguyên nói
chung và các luật tài nguyên chuyên ngành nói riêng như Luật Bảo vệ rừng, Luật Tài
nguyên nước, Luật Khoáng sản, Luật Đất đai, Luật Di sản Văn hoá, v.v. đã và đang
góp phần điều chỉnh các tác động đến tài nguyên thiên nhiên, di sản văn hoá nói
chung, tài nguyên du lịch nói riêng.

Đứng từ góc độ du lịch, do phần lớn các dạng tài nguyên du lịch hiện đang
được khai thác sử dụng cũng như được quy hoạch để đưa vào sử dụng để phát triển các
loại hình du lịch đều được điều chỉnh bởi các luật chuyên ngành khác, vì vậy ngành du
lịch không thể chủ động để quản lý, hạn chế sự ảnh hưởng của nhóm yếu tố này đế
n sự
phát triển du lịch nói chung, phát triển các loại hình du lịch nói riêng. Đây là vấn đề
cần được đặt ra giải quyết trong Luật Du lịch sẽ được ban hành trong thời gian tới đây.

- Sự biến đổi về chất lượng môi trường du lịch
: Môi trường luôn song hành
cùng sự phát triển du lịch và tất nhiên ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của các
Các hoạt động phát triển KT-XH chính Phát triển
CSHT và
ĐT
Phát triển
công
nghiệp

Khai thác
tài nguyên
khoáng sản

dạng SH

Ô nhiễm
MT không
khí
Ô nhiễm
MT nước
Ô nhiễm
và suy
thoái MT
đất
Suy thoái
MT sinh
Thay
đổi
cảnh
quan
Gia tăng
sự cố MT
Ô nhiễm và suy thoái MT du lịch TN

Thiếu các giải pháp/biện pháp quản lý môi trường

BÁO CÁO TỔNG HỢP

CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỂ PHÁT TRIỂN CÁC SẢN PHẨM DU LỊCH THỂ THAO – MẠO HIỂM VÙNG NÚI PHÍA BẮC
13

du lịch nói riêng. Ví dụ, du lịch sinh thái hiện là loại hình du lịch được ưu tiên trong
Chiến lược phát triển du lịch ở Việt Nam bởi du lịch sinh thái không chỉ được xem là
một loại hình du lịch hấp dẫn phù hợp với nhu cầu của các thị trường mà du lịch sinh
thái còn được xem như một công cụ bảo vệ môi trường, đa dạng sinh họ
c. Tuy nhiên
thực tế hiện nay cho thấy các nhà đầu tư vẫn còn chưa sẵn sàng để đầu tư phát triển
loại hình du lịch này. Các lý do của tình trạng trên bao gồm :

- Theo nguyên tắc của loại hình du lịch sinh thái, một phần lợi ích kinh tế thu
được trong hoạt động kinh doanh phải được “quay lại” để hỗ trợ cho hoạt động bảo
tồn. Điều này sẽ ảnh hưởng đến lợi ích của các nhà đầ
u tư.
- Việc đào tạo đội ngũ hướng dẫn viên du lịch đòi hỏi có đầu tư lớn hơn và vì
vậy cũng sẽ ảnh hưởng đến lợi ích của các nhà đầu tư.
- Trong quá trình hoạt động, việc điều hành phải tuân thủ nguyên tắc “sức
chứa”, tức lượng khách du lịch phải được quản lý sao cho không vượt quá khả năng
chịu tải của hệ
sinh thái ở những địa điểm diễn ra hoạt động du lịch. Điều này trái với
mong muốn thông thường của nhà đầu tư trong hoạt động kinh doanh.
- Trong hoạt động kinh doanh, nhà đầu tư phải chăm lo đến lợi ích của cộng
đồng bản địa, dành một phần vị trí trong dây truyền kinh doanh của mình tạo cơ hội

BÁO CÁO TỔNG HỢP

CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỂ PHÁT TRIỂN CÁC SẢN PHẨM DU LỊCH THỂ THAO – MẠO HIỂM VÙNG NÚI PHÍA BẮC
14
tham gia tích cực cho cộng đồng vào hoạt động du lịch. Điều này cũng sẽ có những
ảnh hưởng nhất định đến lợi ích của nhà đầu tư trong giai đoạn đầu.

Tóm lại nếu không có một chính sách phù hợp điều chỉnh và tạo môi trường

nhằm tạo những điều kiện thuận lợi để phát triển các lo
ại hình du lịch nói chung, các
loại hình du lịch đặc thù, trong đó có du lịch TTMH nói riêng.

Sản phẩm du lịch Khái niệm về sản phẩm du lịch đã được đưa ra trong Luật Du lịch (2005), theo
đó “Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách
du lịch”

Một số tài liệu khác cho rằng “Sản phẩm du lịch là một loại sản phẩm đặc biệt
có tính dịch vụ cao và được tạo thành bởi nhiều yếu tố nh
ằm đáp ứng nhu cầu của du
khách” và như vậy sản phẩm du lịch chỉ bao gồm dịch vụ tổng thể của nhà cung cấp
dựa vào các yếu tố thu hút du lịch khác như kết cấu hạ tầng du lịch, tài nguyên du lịch,
cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, lao động (con người) và các yếu tố “tiền” du lịch như

BÁO CÁO TỔNG HỢP

CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỂ PHÁT TRIỂN CÁC SẢN PHẨM DU LỊCH THỂ THAO – MẠO HIỂM VÙNG NÚI PHÍA BẮC
15
nghiên cứu thị trường du lịch, chiến lược kinh doanh du lịch, chiến lược marketing du
lịch, xây dựng sản phẩm và cung cấp (bán) sản phẩm cho du khách để thỏa mãn nhu
cầu của du khách

Theo Tổ chức Du lịch Thế giới WTO, “Sản phẩm du lịch là sự tổng hợp của 3
yếu tố cấu thành : (i) kết cấu hạ tầng du lịch; (ii) tài nguyên du lịch; và (iii) cơ sở vật
chất kỹ thuật, d
ịch vụ, lao động và quản lý du lịch”. Thực tế cho thấy khái niệm này

của khách đối với một tour du lịch;

(j) : phần dịch vụ “trang sức” (jewelry) hay dịch vụ bổ trợ là cơ sở vật chất du
lịch bao gồm hệ
thống vui chơi giải trí, kiến trúc cảnh quan, quầy hàng bán hàng lưu
niệm, v.v.

Giá trị
sản phẩm
du l
ịch
Thời gian
du lịch
Nhu cầu về thời gian
“i” core
I :
Lõi
J: DV bổ trợ
K:
DV gia tăng
H: hour

BÁO CÁO TỔNG HỢP

CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỂ PHÁT TRIỂN CÁC SẢN PHẨM DU LỊCH THỂ THAO – MẠO HIỂM VÙNG NÚI PHÍA BẮC
16
(k) : phần dịch vụ có tính “sáng tạo” (know-how) có tính khác biệt, hấp dẫn
làm tăng giá trị (feature value) của sản phẩm du lịch. Đây sẽ là yếu tố quan trọng để du
khách, đặc biệt là khách du lịch “khó tính”, lựa chọn. Trước hết đó là tài nguyên du
lịch, dịch vụ quảng cáo, quan hệ công chung PR, uy tín, thương hiệu, sự sang trọng,

hình thành lên “sản phẩ
m”, cần thiết phải lưu ý đến những đặc điểm cơ bản của sản
phẩm du lịch

Giống như mọi “sản phẩm”, sản phẩm du lịch cũng có “vòng đời” của mình, bắt
đầu từ việc tư duy nghiên cứu, đến xây dựng và phát triển và rồi sẽ suy thoái nếu thiếu
sự đầu tư nâng cấp, tạo ra những hấp dẫn mới. Tính ch
ất này của sản phẩm du lịch
được thể hiện trên Sơ đồ 4 BÁO CÁO TỔNG HỢP

CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỂ PHÁT TRIỂN CÁC SẢN PHẨM DU LỊCH THỂ THAO – MẠO HIỂM VÙNG NÚI PHÍA BẮC
17
Giai đoạn phát triển ban đầu (xây dựng)
Giai đoạn phát triển hưng thịnh
Giai đoạn phát triển
bão hòa
Giai đoạn phát triển đình trệ
Đầu tư làm “trẻ hóa” sản
phẩm
Thời gian
Giai đoạn phát triển tăng trưởng

Sơ đồ 4 : Vòng đời sản phẩm du lịch

Khái niệm về du lịch thể thao đã được đưa ra dưới nhiều góc độ, tuy nhiên đa
số các nhà nghiên cứu đều cho rằng du lịch thể thao là loại hình du lịch mà trong đó du
khách sẽ được tham gia trực tiếp vào một số hình thức thể thao nhằm tăng cường sức
khỏe kết hợp với thăm quan khu vực nơi diễn ra hoạt động du lịch thể thao. Các hình
thức thể thao truyền th
ống gắn với loại hình du lịch này thường bao gồm: leo núi;
thuyền (thuyền chèo, thuyền buồm); lướt ván; xe đạp, mô tô, ô tô; tàu lượn, v.v.

Tính phổ biến về sự hấp dẫn của sản phẩm du lịch
(các giai đoạn phát triển)
Dấu hiệu suy giảm

BÁO CÁO TỔNG HỢP

CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỂ PHÁT TRIỂN CÁC SẢN PHẨM DU LỊCH THỂ THAO – MẠO HIỂM VÙNG NÚI PHÍA BẮC
18
Sự khác nhau giữa thể thao thuần túy và du lịch thể thao thể hiện ở “tính
chuyên nghiệp” của các cuộc đua trong thể thao. Trong du lịch thể thao, tính “tranh
đua” không được đề ra như một mục tiêu của những người tham dự. Du khách tham
dự loại hình du lịch này thường là những người yêu thích thể thao và mong muốn được
phục hồi sức khỏe sau các chuyến du lịch đặc biệt này.

Theo Tổ chức “Quỹ Hoang dã” (Mỹ) du lị
ch mạo hiểm là hình thức du lịch bao
gồm các hoạt động khám phá hoặc tới những vùng xa xôi hoang dã, nơi khách du lịch
có thể được thỏa mãn bởi những điều không ngờ.

Theo Hiệp hội Thương mại Du lịch Mạo hiểm Toàn cầu (Mỹ) “du lịch mạo

i hoang sơ, nhằm
thỏa mãn nhu cầu tăng cường sức khỏe và và khám phá những điều không ngờ tới với
những cảm giác mạo hiểm”.

Du lịch TTMH có thể bao gồm :

 Du lịch leo núi

BÁO CÁO TỔNG HỢP

CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỂ PHÁT TRIỂN CÁC SẢN PHẨM DU LỊCH THỂ THAO – MẠO HIỂM VÙNG NÚI PHÍA BẮC
19
 Du lịch khám phá các vùng hoang sơ (đi bộ hoặc kết hợp nhiều phương tiện như
xe đạp, mô tô, ô tô)
 Du lịch thám hiểm hang động
 Du lịch vượt thác ghềnh
 Du lịch thả bè/mảng trôi sông
 Du lịch lặn biển
 Du lịch đua thuyền
 Du lịch lướt ván
 Du lịch tàu lượn
 v.v.
ương trình) du lịch
cụ thể. Ví dụ, có thể kết hợp du lịch leo núi, du lịch đi bộ (trekking), du lịch vượt thác

BÁO CÁO TỔNG HỢP

CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỂ PHÁT TRIỂN CÁC SẢN PHẨM DU LỊCH THỂ THAO – MẠO HIỂM VÙNG NÚI PHÍA BẮC
20
ghềnh/thả bè, du lịch khám phá bằng xe đạp, v.v trong một tour du lịch tổng hợp để
khám phá các giá trị tự nhiên, văn hóa bản địa một vùng đất hoang sơ nào đó.

Các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến phát triển sản phẩm du lịch TTMHKhác với các sản phẩm du lịch tham quan, nghỉ dưỡng, v.v. nơi hạ tầng cơ sở,
đặc biệt là hệ thống giao thông và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch đóng vai trò quan
trọng, trong cấu thành sản phẩm du lịchTTMH, những yếu tố trên ít có ảnh hưởng.
Trong nhiều trường hợp, sự khó khăn về hạ tầng (giao thông, điện, nước) và yếu kém
về cơ sở
vật chất kỹ thuật (khách sạn, nhà hàng) lại là những yếu tố góp phần làm gia
tăng tính “mạo hiểm” của sản phẩm du lịch TTMH mà du khách sẽ được trải nghiệm.

Như vậy, đứng từ góc độ khái niệm về sản phẩm du lịch, có thể thấy các yếu tố
chủ yếu sẽ có ảnh hưởng nhiều đến sự phát triển các sản phẩm TTMH bao gồm :


Tài nguyên du lịch : được xem là yếu tố nền tảng tạo nên sản phẩm du lịch. Đối
với các sản phẩm du lịch TTMH, tài nguyên du lịch tự nhiên, đặc biệt là địa
hình (độ dốc, hệ thống hang động, v.v.); hệ thống sông, hồ; cảnh quan, các giá
trị sinh thái, khí hậu và các điều kiện tự nhiên như thời tiết, tốc độ dòng chảy
trên sông, v.v.có vai trò đặc biệt quan trọng. Các giá trị về văn hóa bả


CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỂ PHÁT TRIỂN CÁC SẢN PHẨM DU LỊCH THỂ THAO – MẠO HIỂM VÙNG NÚI PHÍA BẮC
21
cao hơn so với những loại hình du lịch khác có ảnh hưởng đến tính mạng và sức
khỏe của khách du lịch.

 Hoạt động quản lí liên quan đến việc tổ chức và thực hiện chương trình du lịch
TTMH có ảnh hưởng quan trọng đến chất lượng sản phẩm cũng như sự đảm
bảo an toàn cho du khách khi tham gia loại hình du lịch này. Điều này đòi hỏi
một quy trình quản lí thích hợ
p với những nhà quản lí có nguyên tắc.

Các nguyên tắc cơ bản phát triển sản phẩm du lịch TTMHDo tính đặc thù của du lịch TTMH có liên quan đến tính “mạo hiểm”, hay nói
một cách khác là mức độ rủi ro ảnh hưởng đến tính mạng và sức khỏe của khách du
lịch cao hơn so với các sản phẩm du lịch khác, ngoài những nguyên tắc cơ bản chung
khi phát triển các sản phẩm du lịch như nguyên tắc cung – cầu; nguyên tắc hiệu quả;
v.v., một số nguyên tắc có tính riêng biệt (đặc thù) cần được lưu í khi phát triể
n sản
phẩm du lịch TTMH bao gồm :

 Tăng cường các dịch vụ đảm bảo an toàn cho khách, theo đó ngoài các dịch vụ
như “huấn luyện”, “hướng dẫn”, v.v., các dịch vụ hỗ trợ an toàn trong trường
hợp khẩn cấp (như cấp cứu bằng đường hàng không, theo dõi định vị toàn cầu,
v.v.) phải được đưa vào trong “gói” dịch vụ chung của sản phẩm du lịch
TTMH.

 Ngoài các giá tr

 Đối với các tour du lịch TTMH tổng hợp (kết hợp một số hình thức du lịch
TTMH trong một chương trình trọn gói), bên cạnh các điều kiện cơ bản để hình
thành sản phẩm, các khu vực (không gian) hoặc “lát cắt” (tuyến) được lựa
ch
ọn cần chứa được nhiều nhất các giá trị tự nhiên (cảnh quan, sinh thái) và
văn hóa bản địa. Đây là nguyên tắc quan trọng trong phát triển sản phẩm du
lịch TTMH nhằm tạo được các sản phẩm hấp dẫn và có tính cạnh tranh cao, đáp
ứng tốt nhất kỳ vọng của du khách.

Trên đây là một số nguyên tắc cơ bản có tính đặc thù cần phải tuân thủ trong quá
trình xây dựng phát triển các sản phẩ
m du lịch TTMH.

Phát triển các sản phẩm du lịch TTMH vùng núi phía Bắc không nằm ngoài những
nguyên tắc trên.

1.2. Đặc điểm tài nguyên du lịch được sử dụng để phát triển các sản phẩm du
lịch thể thao - mạo hiểm

Du lịch là một ngành có định hướng tài nguyên một cách rõ rệt hay nói một
cách khác du lịch không thể phát triển nếu thiếu tài nguyên du lịch.

Tài nguyên hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tất cả các nguồn nguyên liệu, năng
lượng và thông tin có trên trái đất và trong không gian vũ trụ liên quan mà con người
có thể sử dụng phục vụ
cho cuộc sống và sự phát triển của mình.

Tài nguyên được phân loại theo tài nguyên thiên nhiên gắn liền với các nhân tố
tự nhiên, và tài nguyên nhân văn gắn liền với các nhân tố về con người và xã hội.


Cũng từ thời
điểm này khi tính đa dạng sinh học của vườn quốc gia được khai thác
phục vụ mục đích du lịch, khu rừng nguyên sinh này trở thành một điểm tài nguyên du
lịch đặc sắc, một điểm du lịch có sức hấp dẫn cao đối với khách du lịch trong nước và
quốc tế. Tương tự như vậy, cũng chỉ mới cách đây hơn 5 năm, năm 1993, động Thiên
Cung, một độ
ng đá vôi nguyên sơ, kỳ ảo ở vịnh Hạ Long được phát hiện, khai thá sử
dụng để trở thành một điểm du lịch mới hấp dẫn đã làm phong phú và tăng thêm giá trị
của tài nguyên du lịch của khu du lịch nổi tiếng này.

Tài nguyên du lịch gồm tài nguyên du lịch đang khai thác, tài nguyên du lịch
chưa khai thác.

Mức độ khai thác tiềm năng tài nguyên du lịch phụ thuộc vào:

 Khả năng nghiên cứu phát hiệ
n và đánh giá các tiềm năng tài nguyên vốn còn
tiềm ẩn;
 Yêu cầu phát triển các sản phẩm du lịch nhằm thoả mãn nhu cầu của khách du
lịch. Các nhu cầu này ngày một lớn và đa dạng phụ thuộc vào mức sống và
trình độ dân trí. Ví dụ, vào những năm 60, du lịch biển ở Việt Nam chủ yếu là
tắm và nghỉ dưỡng biển thì ngày nay các sản phẩm du lịch biển đã đa dạng hơ
n
bao gồm cả lặn biển, lướt ván, tham quan nghiên cứu các hệ sinh thái biển v.v...
 Trình độ phát triển khoa học công nghệ nhằm tạo ra các phương tiện để khai
thác các tiềm năng tài nguyên. Ví dụ nếu như trước đây du lịch thám hiểm đáy
biển chỉ là ước mơ thì ngày nay với các tàu ngầm chuyên dụng khách du lịch có
thể thăm quan khám phá những điều kỳ diệu của đại dương một cách dễ
dàng.
Trong tương lai, với sự phát triển nhanh chóng về khoa học và công nghệ, du

Để có thể khai thác và sử dụng tốt nhất các tài nguyên du lịch việc tìm hiểu và
nghiên cứu các đặc điểm tài nguyên du lịch là hết sức quan trọng. Tài nguyên du lịch
có các đặc điểm chính sau đây:

- Tài nguyên du lịch phong phú, đa dạng, trong đó có nhiều tài nguyên đặc sắc

độc đáo có sức hấp dẫn rất lớn đối với khách du lịch.

Khác với nhiều loại tài nguyên khác, tài nguyên du lịch rất phong phú và đa
dạng. Đặc điểm này của tài nguyên du lịch là cơ sở để tạo nên sự phong phú của các
sản phẩm du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu đa dạng của khách du lịch.

Ví dụ, đối với loại hình tham quan, nghiên cứu phục vụ cho mục đích nâng cao
nhậ
n thức của khách du lịch thì tài nguyên du lịch có thể là các lễ hội, những giá trị
của sinh hoạt truyền thống của một vùng quê, các di tích lịch sử - văn hoá, các bản
làng dân tộc ít người ở miền núi, các viện bảo tàng, các thành phố, các thác nước, hang
động hay các cánh rừng nguyên sinh có tính đa dạng sinh học cao... Đối với loại hình
du lịch nghỉ mát, chữa bệnh nhằm mục đích phục hồi sức khoẻ thì tài nguyên du lịch
cần khai thác l
ại là các bãi biển, các vùng núi cao khí hậu trong lành, có phong cảnh
đẹp, các suối khoáng... Đặc biệt, nhiều tài nguyên du lịch đặc sắc và độc đáo có sức
hấp dẫn rất lớn đối với khách du lịch. Ví dụ Kim tự tháp ở Ai Cập, Vạn lý Trường
thành ở Trung Quốc, Thủ đô Pari của Pháp, vùng núi Anpơ ở Châu Âu, các vườn quốc
gia ở Châu Phi, vùng biển Caribê ở Trung Mỹ... là những địa danh du lịch lý tưởng
hàng năm thu hút hàng chục triệu khách du l
ịch. Ở Việt Nam, vịnh Hạ Long, các di
tích cố đô Huế, vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ bàng, v.v. là những tài nguyên du lịch
đặc sắc song càng trở nên hấp dẫn hơn đối với khách du lịch khi được UNESCO công
nhận là di sản thiên nhiên và di sản văn hoá thế giới. Chắc chắn đây sẽ là những địa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status