1
DANH SÁCH CÁN BỘ THỰC HIỆN CHÍNH
TT
Họ và tên, học hàm
học vị
Tổ chức
công tác
Nội dung công việc tham gia
1 TS Nguyễn Văn Thiệp
Viện KHKTNLN
MN phía Bắc
Nghiên cứu chính về cơ sở khoa
học xây dựng khu NN CNC.
2 TS. Lê Quốc Doanh
Viện KHKTNLN
MN phía Bắc
Nghiên cứu chính về cơ sở khoa
học xây dựng khu NN CNC.
3
KS. Trịnh Thị Kim Mỹ
Viện KHKTNLN
MN phía Bắc
Điều tra điều kiện tự nhiên-
KTXH, phân tích số liệu thu
thập.
8
KS. Trần Thị Thu Thuỷ
Sở NN&PTNT
Phú Thọ
Tham gia đánh giá điều kiện tự
nhiên, KTXH ở Phú Thọ,
Khả năng về chăn nuôi, thuỷ
sản. 2
MỤC LỤC
1. MỞ ĐẦU 5
1.1. Sự hình thành đề tài 5
1.2. Mục tiêu, đối tượng, tính cấp thiết của nhiệm vụ 5
1.2.1. Mục tiêu của nhiệm vụ 5
1.2.2. Tính cấp thiết của nhiệm vụ 5
1.4. Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu 9
1.4.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
1.4.2. Nội dung nghiên cứu 10
1.4.3. Phương pháp tiến hành 10
3
2.4.1. Quan điểm 79
2.4.2. Mục tiêu: 80
2.4.3. Đề xuất loại hình khu NN ứng dụng CNC ở Phú Thọ 81
2.4.4. Tổ chức quản lý 84
2.4.5. Lộ trình thực hiện 87
2.4.6. Giải pháp thực hiện 88
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 91
3.1. Kết luận 91
3.2. Kiến nghị 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
PHỤ LỤC 99
TW Trung ương
UBND Uỷ ban nhân dân 5
BÁO CÁO TỔNG HỢP
KẾT QUẢ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ ĐỀ TÀI
(Theo thông tư số 12/2009/TT-BKHCN ngày 8 tháng 5 năm 2009 Của Bộ trưởng
Bộ Khoa học và Công nghệ)
1. MỞ ĐẦU
1.1. Sự hình thành đề tài
Phú Thọ là tỉnh có tỷ trọng nông nghiệp khá lớn, 84% dân số nông thôn,
sản xuất nông nghiệp có nhiều tiến bộ, sản phẩm nông nghiệp tăng theo chiều
hướng tích cực. Tuy vậy, sản xuất còn nhỏ lẻ, trình độ sản xuất và năng lực
cạnh tranh thấp. Nhằm đưa nhanh việc ứng dụng các thành tựu khoa học, đẩy
mạ
nh sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tạo ra
sản hàng hoá còn thấp, khi bán ra nước ngoài chủ
yếu ở dạng sản phẩm thô và
giá bán còn rất thấp. Các nước có nền nông nghiệp phát triển, áp dụng kỹ
thuật tiên tiến, đổi mới công nghệ trong quá trình trồng trọt và chế biến đã tạo
ra những sản phẩm có chất lượng và giá trị hàng hoá cao. Để có thể hoà nhập,
làm chủ thị trường trong nước, chiếm lĩnh thị trường nước ngoài phải ứng
dụng công nghệ tiên tiến vào sả
n xuất nông nghiệp để tạo ra sản phẩm chất
lượng cao và an toàn vệ sinh thực phẩm. Do vậy, ứng dụng công nghệ cao
trong sản xuất nông nghiệp là lựa chọn tất yếu đối các quốc gia nói chung và
nước ta nói riêng.
Sự xuất hiện các khu nông nghiệp công nghệ cao là xu thế tất yếu, đặc
biệt là từ hai thập niên cuối thế kỷ 20, khi công nghệ điện tử - tin học, công
nghệ sinh học, công ngh
ệ vật liệu mới ngày càng lớn mạnh thì sức sáng tạo
khoa học – công nghệ càng nhiều và phát triển nhanh, sản sinh nhiều tri thức
mới, Tri thức từng bước trở thành nhân tố then chốt trong sản xuất nông
nghiệp. Tri thức và công nghệ cao trở thành nguồn gốc cạnh tranh của các
doanh nghiệp trong xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế.
Ở Trung Quốc, những mô hình ứng dụng công nghệ cao được gọi là
Công viên khoa học kỹ thuật nông nghi
ệp (CVKHKTNN). Phương thức công
xưởng hoá là nơi cung cấp môi trường cho động thực vật phát triển và cho
hiệu quả cao. CVKHKTNN làm cho nông nghiệp thoát khỏi sự ràng buộc với
tự nhiên, có thể mở rộng ra trong các điều kiện tương tự, từ đó kéo theo sự
phát triển toàn diện tổng thể.
Sự xuất hiện của khu NNCNC sẽ tạo ra môi trường thích hợp cho
những sáng tạo khoa học và công nghệ (KH&CN), đào tạ
o nhân lực cho
ngành sản xuất NNCNC mới, thuận tiện cho sự chuyển hóa tri thức thành sức
vào và sản phẩm tạo ra được kiểm tra, tiêu chuẩn hoá, đầu ra được chứng
nhận của Khu NN ứ
ng dụng CNC. Nhờ vậy sản phẩm của nông nghiệp ứng
dụng công nghệ cao được đảm bảo về chất lượng và an toàn, từ đó góp phần
giảm các bệnh tật có nguồn gốc trực tiếp hoặc gián tiếp từ thực phẩm, tiết
kiệm ngân sách cho xã hội. Mặt khác ngay ở những nơi có trình độ phát triển
sản xuất nông nghiệp khá cao như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Lâm
Đồng , s
ản phẩm nông nghiệp không đáp ứng được nhu cầu, buộc thành phố
phải tính tới yếu tố sản xuất mới có tính đột phá, và những khu NN CNC đầu
tiên ở nước ta ra đời như là sản phẩm tất yếu của sự phát triển sản xuất. Chính
vì vậy, để tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, tạo ra sự đột phá trong sản
xuất, nâng cao sức cạnh tranh trên thị
trường ở nước ta nói chung và ở Phú
Thọ nói riêng, biện pháp tối ưu là áp dụng công nghệ cao trong nông nghiệp.
Nghĩa là hình thành những khu NN ứng dụng CNC, từ đó lan toả, lôi kéo sản
xuất nông nghiệp cả nước phát triển.
Phát triển nền sản xuất nông nghiệp công nghệ cao là một xu hướng tất
yếu và là nội dung quan trọng của quá trình CNH – HĐH nền nông nghiệp, 8
trong đó việc xây dựng các khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao làm hạt
nhân, tạo bước đột phá nâng cao sức cạnh tranh của nông sản hàng hoá trong
quá trình hội nhập là bước quan trọng của nước ta và các quốc gia trên thế
giới.
Phú Thọ nằm ở trung tâm vùng trung du miền núi phía Bắc, trên trục
đường kinh tế quốc tế Côn Minh - Hải Phòng có nhiều điều kiện thuận lợi cho
phát triển kinh tế. Tốc độ đô thị hoá, sự hình thành các khu công nghiệp đang
diễn ra mạnh mẽ ở Phú Thọ, đòi hỏi tiêu dùng nông sản ngày càng tăng trong
9
Nghiên cứu xây dựng khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao ở Việt
Nam còn khá mới mẻ và nhiều khó khăn, chưa có nhiều kinh nghiệm trong
lĩnh vực này. Nhiều địa phương có kế hoạch xây dựng khu NNUDCNC
nhưng chưa dám quyết tâm huy động nguồn lực cho dự án vì kinh phí đầu tư
thường khá lớn.
Nông nghiệp công nghệ cao ở Phú Thọ chưa có mô hình, đây là một
hướng mới và các điều kiệ
n cần thiết để xây dựng khu nông nghiệp công nghệ
cao như cơ sở vật chất, nguồn nhân lực trình độ cao sẽ có những khó khăn. Để
có đầy đủ cơ sở khoa học xây dựng khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao
tại tỉnh Phú Thọ có tính khả thi cao, rất cần thiết phải thực hiên đề tài:
“Nghiên cứu cơ sở khoa học và điều kiện thực tiễn để xây d
ựng khu nông
nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại tỉnh Phú Thọ”. Xây dựng khu NNUDCNC
sẽ thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ mới, tạo công ăn việc làm, tăng thu
nhập nhờ sản phẩm công nghệ cao. Mặt khác sự thành công ở Phú Thọ sẽ là
cơ sở áp dụng cho các tỉnh vùng trung du miền núi có điều kiện tương tự như
Phú Thọ.
1.3. Cách tiếp cận
Nhiệm vụ xuất phát từ m
ục tiêu phát triển kinh tế xã hội nhằm xây
dựng Phú Thọ thành Trung tâm kinh tế vùng, là một trong những trung tâm
khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo, văn hoá, du lịch của vùng trung du và
miền núi Bắc Bộ;
Nhiệm vụ xuất phát từ nhu cầu bức thiết áp dụng khoa học kỹ thuật tiên
tiến để tăng nhanh năng suất, chất lượng nông sản phẩm, nâng cao đời sống
người dân, đẩy mạnh hiện đạ
- Thu thập và xử lý tài liệu thứ cấp: Dựa trên những kết quả đã công bố,
những tài liệu thống kê, hệ thống các nguồn thông tin, nhận xét về hiện trạng,
rút ra bài học kinh nghiệm áp dụng cho Phú Thọ.
- Khảo sát học tập kinh nghiệm ở các mô hình NNCNC, mô hình
NNKTC trong nước. Kinh nghiệm xây dựng và phát triển ở các mô hình sẽ
được nghiên cứu, phân tích để l
ựa chọn những đặc điểm áp dụng cho Phú Thọ.
- Điều tra nhu cầu thị trường rau hoa quả tại thành phố Việt Trì, thị xã
Phú Thọ và một số địa phương trên địa bàn.
- Điều tra nhanh: phỏng vấn lãnh đạo huyện, xã về quan điểm xây dựng
khu NNUDCNC tại địa phương; vị trí dự kiến để khảo sát (yêu cầu là những
địa điểm đó trong vùng phát triể
n nông nghiệp của địa phương và không trùng
với các dự án khác đã quy hoạch trước đó, trừ quy hoạch cho phát triển nông
nghiệp vì có thể kết hợp với nhau); loại cây, con lợi thế ở khu vực đó.
- Khảo sát thực địa: khảo sát các điều kiện như đất, nước, khí hậu thời
tiết, giao thông, thuỷ lợi,… ở những địa điểm đã được xác định cùng lãnh đạo
địa phương. Về điều kiện đất đai, xác định quy mô diện tích, phân tích một số
chỉ tiêu dinh dưỡng và kim loại nặng chủ yếu như: N, P, K, Hg, Pb và As;
nước cho tưới tiêu, phân tích một số kim loại nặng như Hg, Pb và As. 11
- Hội thảo: lấy ý kiến về lựa chọn vùng dự kiến khảo sát, đối tượng,
công nghệ sẽ áp dụng trong khu NNUDCNC. Lấy ý kiến đóng góp cho các
chuyên đề, cho báo cáo tổng hợp.
- Phương pháp chuyên gia: lấy ý kiến các chuyên gia thuộc các Sở tỉnh
Phú Thọ (Sở KHĐT, Sở KH&CN, Sở TNMT, Sở NN&PTNT), các chuyên
gia ở Viện nghiên cứu.
- Phân tích, tổng hợp các tài liệu viết chuyên đề và báo cáo khoa học.
12
a) Chọn tạo, nhân giống cây trồng, giống vật nuôi cho năng suất, chất
lượng cao.
b) Phòng, trừ dịch bệnh.
c) Trồng trọt, chăn nuôi đạt hiệu quả cao.
d) Tạo ra các loại vật tư, máy móc, thiết bị sử dụng trong nông nghiệp.
đ) Bảo quản, chế biến sản phẩm nông nghiệp.
e) Phát triển doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.
g) Phát triển dịch vụ công nghệ
cao phục vụ nông nghiệp.
- Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao là khu công nghệ cao tập
trung thực hiện hoạt động ứng dụng thành tựu nghiên cứu và phát triển công
nghệ cao vào lĩnh vực nông nghiệp để thực hiện các nhiệm vụ quy định tại
khoản 1 Điều 16 của Luật này (Điều 32 luật công nghệ cao).
- Nhiệm vụ của khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao:
a) Thực hiện các hoạt động nghiên cứu ứng dụng, thử nghiệm, trình
diễn mô hình sản xuất sản phẩm nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.
b) Liên kết các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng công nghệ cao, sản
xuất sản phẩm ứng dụng công nghệ cao trong lĩnh vực nông nghiệp.
c) Đào tạo nhân lực công nghệ cao trong lĩnh vực nông nghiệp.
d) Tổ chức hội chợ, triển lãm, trình di
ễn sản phẩm nông nghiệp ứng
dụng công nghệ cao.
đ) Thu hút nguồn đầu tư, nhân lực công nghệ cao trong nước và ngoài
nước thực hiện hoạt động ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp.
- Điều kiện thành lập khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao:
a) Phù hợp với chiến lược, kế hoạch phát triển nông nghiệp và nhiệm
vụ của khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.
quá trình hoạt động, đó là những cơ sở quan trọng áp dụng cho điều kiện Phú
Thọ.
2.1.1. Nghiên cứu, phát triển NNCNC trên thế giới
Bên cạnh các nước tiên tiến như Mỹ, Anh, Phần Lan…, nhiều nước ở
châu Á cũng đ
ã chuyển nền nông nghiệp số lượng là chủ yếu sang nền nông
nghiệp chất lượng, ứng dụng công nghệ sinh học, công nghệ tự động hoá, cơ
giới hoá, tin học hoá… để tạo ra sản phẩm có chất lượng cao, an toàn, hiệu
quả. Những mô hình nông nghiệp công nghệ cao (NNCNC) đã được triển
khai thành công tại các nước như Nhật, Anh, Pháp, Mỹ, Trung Quốc, Đài
Loan Đối với mô hình sản xuất nông nghiệp ứ
ng dụng công nghệ cao, các
công nghệ thường được ứng dụng là nhân giống bằng công nghệ nuôi cấy mô
(hoa, cây ăn quả), lai tạo giống cây năng suất cao, chất lượng tốt, sạch bệnh,
phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng; phương pháp canh tác hữu cơ bảo đảm
sạch bệnh và an toàn vệ sinh thực phẩm; kỹ thuật trồng cây trong nhà kính từ
hiện đại đến đơn giản (có hệ thố
ng điều khiển tự động, hoặc bán tự động đối
với các yếu tố: Nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng, phân bón, nước tưới) nhằm giảm
bớt sự lệ thuộc vào điều kiện tự nhiên; sử dụng vật liệu mới như nilon che phủ
để chống cỏ dại, giữ ẩm đất, có thể tự phân huỷ khi cây lớn, sử dụng các phế 14
liệu nông nghiệp như trấu, mùn cưa… làm giá thể trồng cây, đảm bảo vô
trùng, thoáng khí, giữ ẩm tốt; tự động hoá, cơ giới hoá trong các quá trình sản
xuất, vận chuyển sản phẩm, chăm sóc, thu hoạch, bảo quản, chế biến nông
sản.
2.1.1.1. Nhật Bản
Các khu nông nghiệp công nghệ cao hình thành cùng với hệ thống cơ
kỷ lục: nông dân trồng rau, hoa trong nhà màng đạt 500 000 USD trong nhà
lưới 0,5ha. 15
Các trung tâm xuất sắc là nơi kết hợp các nhà khoa học để nghiên cứu
công nghệ cao là mô hình mà Việt nam có thể tham khảo.
2.1.1.3. Israen
Israen có điều kiện tự nhiên rất khắc nghiệt cho sản xuất nông nghiệp,
sản xuất nông nghiệp công nghệ cao được đặc biệt chú ý. Khu vực sản xuất
rau quả, điển hình là cà chua công nghệ cao của nông dân trong nhà kính đạt
năng suất 300 đến 400 tấn /ha-năm, bưởi đạ
t 100-150 tấn /ha, hoa cắt đạt 1,5-
2 triệu cành /ha với chất lượng cao, sạch, an toàn, phục vụ suất khẩu và tiêu
dùng nội địa với giá trị cao, đạt 120-150 000USD/ha/năm. Công nghệ nhà
kính đóng vai trò quan trọng. Trồng cây trong nhà kính đã chứng minh đó là
phương pháp tốt nhất phát huy tiềm năng vốn có của cây trồng. Kiểm soát
tưới nước, phân bón và tiểu khí hậu trong nhà kính là thực hành sản xuất quan
trọng nhất. Israen là nước đi đầu trong việc nghiên c
ứu ứng dụng công nghệ
tiên tiến vào sản xuất nông nghiệp. Hệ thống nhà lưới, nhà kính có hệ thống
điều chỉnh nhiệt độ, ánh sáng và hệ thống tưới ẩm tự động, hạn chế tối đa sự
xâm nhiễm của sâu bệnh đã tạo ra những sản phẩm nông nghiệp chất lượng
cao và giá trị cho Israen. Trồng cây không đất giúp tối ưu hoá việc cung cấp
dinh dưỡng và khắ
c phục khó khăn của việc quản lý dinh dưỡng đất. Hai công
nghệ đó đã làm lên cách mạng sản xuất hoa như hoa hồng và hoa đồng tiền.
Trong nông nghiệp công nghệ cao, nước được xem như tài sản quốc gia, giữ
gìn và sử dụng có hiệu quả nguồn nước đã được thực hiện ở Israen bằng công
nghệ tưới tiết kiệm nước.
ật tư, chuyển giao công nghệ, giải quyết vướng mắc của nông dân, thu mua
sản phẩm. Ở loại hình này, mục tiêu hiệu quả kinh tế và an toàn thực phẩm
đặt lên hàng đầu.
2.1.1.5. Trung Quốc
Đã và đang đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng và phát triển công nghệ
cao, đã đạt được nhiều thành tựu góp phần quan trọng vào thu nhập quốc dân
và nâng cao đời sống nhân dân. Giai đoạn từ 1986-2000 triển khai ch
ương
trình nghiên cứu và phát triển công nghệ cao quốc gia gọi là “chương trình
863” vì 863 chương trình đã được thực hiện. Đó là các chương trình thuộc 6
lĩnh vực như công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, công nghệ tự động,
công nghệ năng lượng, vật liệu tiên tiến và công nghệ hàng hải. Chương trình
863 đã đóng góp quan trọng cho phát triển công nghệ cao và xây dựng kinh tế
của Trung Quốc. Hai lĩnh vực được đầu tư nhiề
u nhất là công nghệ thông tin
(27%) và công nghệ sinh học (25%). Công nghệ sinh học nông nghiệp với
thành tựu nổi bật là lúa lai hai dòng, Trung Quốc đi đầu trong sản xuất lúa lai,
hiện có những giống lúa siêu năng suất, và bông chuyển gen kháng sâu đã
trồng 170 000 ha năm 2000. Các công nghệ trồng cây hàng hoá đã được áp
dụng trong nhà kính. Nhờ đó, sự gia tăng giá trị sản xuất nông nghiệp đạt
42%, giá trị sản lượng đạt 40-50000 USD/ha/năm, gấp 40-50 lần sản xu
ất
bình thường. 17
Đến cuối năm 2006, Trung Quốc đã có 6000 khu KHCN nông nghiệp
được xây dựng tại các vùng sinh thái khác nhau. Những khu này đóng vai trò
quan trọng trong việc phát triển nền nông nghiệp hiện đại của Trung Quốc:
Tăng nhanh năng suất cây trồng, vật nuôi; tạo giống lúa cao sản (lúa
tranh và hợp tác để phát triển.
- Điều kiện về cơ sở hạ tầng tốt: điện nước, giao thông, thông tin liên
lạc.
- Môi trường sinh hoạt tốt. Khi quy hoạch phải kết hợp sản nghiệp, tự
nhiên, nghệ thuật và xã hội thành bố cục chỉnh thể. Thoả mãn điều kiện này sẽ 18
kết hợp được giáo dục công nghệ với giáo dục nhân văn, tạo môi trường làm
việc tốt, ươm mầm sáng tạo.
- Lấy con người làm gốc: có người tài và quan tâm tới người tài sẽ có
ưu thế về chuyên môn và công nghệ.
- Có sự quan tâm về môi trường và chính sách của chính phủ.
- Có sự tham gia của giới doanh nghiệp.
Trong các điều kiện trên, quan trọng nhất là KHCN và có sự tham gia
của giới doanh nghiệp. Khu KHCN phải là khu tậ
p trung sức mạnh tri thức,
có sáng tạo KHCN, hoạt động KHCN trong môi trường truyền bá. Giới doanh
nghiệp sẽ làm cho thành quả KHCN chuyển hoá thành tài sản xã hội.
Qua nghiên cứu về tình hình phát triển CNC trong nông nghiệp trên thế
giới, đặc biệt là của Trung Quốc, nước có nhiều điều kiện tương tự như của
Việt Nam, có thể rút ra một số vấn đề chung như sau:
* Xu thế phát triển:
- Phát triển nhanh chóng NNCNC là xu thế tấ
t yếu của sự phát triển
KHKT nói chung và phát triển nông nghiệp nói riêng, là xu thế tất yếu của hội
nhập kinh tế quốc tế, nhất là khi nhân loại bước vào thời đại kinh tế tri thức, tri
thức trở thành nhân tố then chốt trong sản xuất. Có thể nói các khu khoa học
công nghệ nói chung, khu NNCNC là một loại hình tổ chức xã hội mới được
hình thành theo nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và khoa học công nghệ hiện
lần so với thị trường lúa gạo.
* Công nghệ ứng dụng trong khu NNCNC:
Công nghệ cao là yếu tố quan trọng áp dụng trong khu NNCNC. Các
công nghệ được áp dụng như công nghệ sinh học chọn giống và nhân giống cây
trồng, vật nuôi, công nghệ sinh học tạo ra chế ph
ẩm vi sinh chăm sóc và bảo vệ
cây trồng, vật nuôi; công nghệ dinh dưỡng cây trồng; công nghệ tưới nước;
công nghệ vật liệu tạo ra giá thể trồng cây, nhà lưới, nhà kính điều hoà khí hậu,
chống côn trùng gây hại; công nghệ thông tin điều khiển tự động quá trình sản
xuất.
* Hình thức đầu tư:
- Theo chủ đầu tư các khu NNCNC phân ra:
(1) Khu do Nhà nước đầu tư - do Chính phủ TW hoặc địa phương là
chủ đầ
u tư, mục tiêu chủ yếu là nhằm phát triển nông nghiệp và kinh tế nông
thôn của khu vực, thông qua xây dựng các khu này để tạo sự lan tỏa và mở
rộng áp dụng các công nghệ mới trong nông nghiệp, thúc đẩy sự phát triển
kinh tế của khu vực; lấy mục tiêu hàng đầu là gia tăng thu nhập cho người
nông dân, coi trọng tính công ích xã hội và chức năng phục vụ kinh tế khu
vực, không theo đuổi yêu cầu lợi nhuận tối đ
a.
(2) Khu do DN đầu tư: Thường là do các xí nghiệp quốc doanh đầu tư,
xuất phát từ nhu cầu của thị trường, lấy KH&CN là chỗ dựa chủ yếu, nhằm
đem lại hiệu quả kinh tế là chính. Địa điểm, sản phẩm chủ yếu, định hướng thị
trường và cơ chế quản lý đều xoay quanh hiệu quả kinh tế, nhấn mạnh nguyên
tắc kinh doanh hiện đại và ưu tiên hi
ệu quả kinh tế. 20
- Thực hiện tốt việc trình diễn và lan toả các công nghệ cao về nông
nghiệp. Việc xây dựng các khu NNCNC đã thu hút được hàng loạt các công
nghệ cao và mới của thế giới và trong nước tham gia sản xuất sản phẩm.
- Tìm được hướng đi có hiệu quả để mở rộng áp dụng k
ết quả nghiên
cứu khoa học vào sản xuất.
- Đã hình thành hàng loạt các cơ sở sản xuất nông sản phẩm mũi nhọn. 21
- Hình thành một loạt các ngành nghề hàng đầu có sức lôi cuốn cao
kinh tế địa phương.
- Là những cơ sở tốt để thăm quan giải trí và tìm hiểu tri thức khoa học
công nghệ nông nghiệp.
* Những khó khăn, hạn chế cần quan tâm khi xây dựng khu NNUDCNC ở
Việt Nam (qua kinh nghiệm của Trung Quốc):
+ Về hiệu quả kinh tế xã hội: Nhìn từ góc độ tổng thể, trong thực tế hiệu
quả
kinh tế của không ít khu NNCNC chưa cao, thậm chí còn thua lỗ, do các
nguyên nhân:
(1) Dự án đầu tư lựa chọn không phù hợp, xác định vị trí, chức năng
chưa chuẩn xác, các sản phẩm của khu đi trước khá xa so với trình độ tiêu dùng
của thị trường và người tiêu dùng;
(2) Giá cả của sản phẩm và đẳng cấp của thiết bị công nghệ quá cao do
nhập các vật tư, thiết bị đồng bộ, công nghệ và hệ th
ống quản lý đắt tiền từ
nước ngoài, mà không tính đến tính thích hợp của công nghệ, kỹ thuật với điều
kiện sinh thái tại địa phương;
(3) Một số khu còn mang dấu ấn của kinh tế bao cấp, ỷ lại quá nhiều vào
nhà nước, khó thích ứng với cơ chế cạnh tranh trong thị trường hiện nay;
hướng hiện nay là, các công ty này thường là các công ty cổ phần, trong đó có
sự tham gia góp vốn của một bên hoạt động trong lĩnh vực đầu tư - kinh
doanh các dự án bất động sản quy mô lớn và các bên còn lại là đại diện của
Nhà nước (chính quyền địa phương) và/hoặc tổ chức hoạt động trong lĩnh vực
cung cấp các dịch v
ụ KH&CN. Bài học thành công ở nhiều nước cho thấy,
Nhà nước (chính quyền địa phương) thường chủ động xây dựng các định
hướng, cơ chế chính sách đầu tư xây dựng, quy chế hoạt động của các khu
CNC, còn hoạt động quản lý xây dựng và phát triển khu CNC thường do các
công ty có kinh nghiệm trong lĩnh vực xây dựng và cung cấp dịch vụ CNC
đảm nhận.
Từ những thực tế và lý luận hoạt động nông nghiệp công nghệ cao ở các
nước, có thể áp dụng những kinh nghiệm xây dựng mô hình khu công viên khoa
học kỹ thuật của Trung Quốc để xây dựng khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ
cao phù hợp với điều kiện Việt Nam ở Phú Thọ. Đó là xây dựng khu NNCNC có
các chức năng sản xuất ra sản phẩm, trình diễn, ươm tạo và chuyển giao công
ngh
ệ, phục vụ tham quan du kịch, tạo đà cho phát triển nông nghiệp hiện đại ở
Phú Thọ và cho vùng miền núi phía Bắc. Có thể ứng dụng những công nghệ hiện
đại của Nhật Bản, Israen, Đài Loan đã được làm phù hợp với điều kiện Việt
Nam trong khu NNUD CNC. Công nghệ nhà kính, nhà lưới được áp dụng phổ
biến và thích hợp với điều kiện các địa phương. Nhưng không thể áp dụ
ng công
nghệ nhà kính nguyên bản nhập từ nước ngoài vì không phù hợp với điều kiện
Việt Nam do giá thiết bị cao, giống cây trồng và các công nghệ kèm theo khá đắt
sẽ làm giá thành sản phẩm tăng cao, không phù hợp với thị trường nước ta.
2.1.2. Nghiên cứu, phát triển NN CNC trong nước
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cũng đã chỉ đạo xây dựng các
mô hình ứng dụng công nghệ cao ở 21 tỉnh, thành và 9 doanh nghiệp. Hiện
- Khu học tập và chuyển giao công nghệ.
- Khu bảo quản và chế biến.
- Khu lâm sinh và cảnh quan.
- Khu sản xuất kêu gọi đầu tư.
Về cơ cấu tổ chức: có Ban quản lý khu NN CNC trực thuộc UBND TP. 24
Bên dưới gồm các phòng, ban: Phòng TCHC, Phòng Tài chính - kế
toán, Phòng Kế hoạch và đào tạo, ban quản lý dự án, Trung tâm NC, PT NN
CNC.
Đã ban hành tiêu chí công nghệ cao ứng dụng trong nông nghiệp.
Khu NN CNC TP. HCM vừa tiến hành xây dựng cơ sở hạ tầng vừa
triển khai các hoạt động nghiên cứu và kêu gọi đầu tư. Tuy đang xây dựng
nhưng đã có 16 nhà đầu tư đăng ký thuê mặt bằng để sản xuất. Các công ty
đầu tư sản xuất giố
ng rau, rau an toàn, hoa cung cấp cho thị trường thành phố.
Ngoài ra các công ty còn ứng dụng và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật công nghệ
cao trong nông nghiệp. Tổng vốn của các nhà đầu tư vào Khu NNCNC đến
nay là trên 365 tỷ đồng.
Để đáp ứng nhu cầu của nhà đầu tư, lãnh đạo thành phố đã chỉ đạo
huyện Củ Chi và Tổng Công ty Nông nghiệp Sài Gòn (SAGRI) cần sớm hình
thành thêm 2-3 khu NNCNC mới.
Đây là mô hình khu NN CNC đa chức năng đầu tiên được xây dựng
nên
đã có nhiều vướng mắc về thủ tục và cơ chế hành chính.
Kinh nghiệm của Ban quản lý khu NN CNC là phải kiên trì tiến hành
từng bước một cách vững chắc. Yếu tố quyết định thành công là nhận thức
được vai trò khu NN CNC của lãnh đạo Thành phố, có sự đồng thuận của các
sở, ban, ngành liên quan.
ng nội dung "công nghệ cao"
cho các sản phẩm của mình. Các sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao cần
phải được chọn lựa kỹ trên cơ sở lợi thế so sánh, mang tính cạnh tranh cao,
với chất lượng tốt, số lượng lớn đem lại hiệu quả kinh tế thiết thực trên từng
đơn vị diện tích; tạo ra một vùng sản xuất lớn, bền vững, có thị trường tiêu
thụ
ổn định tương đối.
Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong nông nghiệp khá
lớn, trong đó cây chè chất lượng cao thu hút FDI nhiều nhất với 21 doanh
nghiệp (DN), rau 7 DN, hoa 12 DN, cà phê 2 DN, cá nước lạnh 1 DN.
Lâm Đồng cũng phát triển chè theo hướng công nghệ cao có hiệu quả.
Tại thành phố Đà Lạt có một số công ty 100% vốn nước ngoài (từ Đài loan)
sản xuất chè Olong. Các công ty này trồng các giống chè Olong, Kim tuyên,
Thuý ngọc, sản xuất theo công nghệ của
Đài Loan từ chăm sóc, thu hoạch đến
chế biến. Sản phẩm chủ yếu tiêu thụ ở Đài Loan. Công ty Hayiji sản xuất chè
Olong, có nhiều cơ chế hỗ trợ và quan hệ tốt với nông dân, năng suất chè khá
cao, từ 8-10 tấn/ha. Giá chè búp tươi từ 18000 đ- 36000đ tuỳ theo giống, chè
thành phẩm có từ 4-6 loại, có giá bán từ 400 000 đ đến 1200 000đ/kg.
Qua 5 năm triển khai chương trình, nông dân Lâm Đồng đã mạnh dạn
đầu tư, áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất; nâng cao năng suất, chất
lượng và hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp. Đến nay 3.300 ha đất
nông nghiệp ở Lâm Đồng đã được canh tác bằng công nghệ mới, trong đó có
gần 2.000 ha ứng dụng công nghệ tưới phun tự động, trên 1.200 ha sản xuất
trong nhà lưới, nhà kính. Các mô hình NN ứng dụng CNC ở Lâm Đồng hình
thành và phát triển trên cơ sở l
ợi thế về điều kiện tự nhiên đã đem lại hiệu quả