GIÁO DỤC HỌC ĐẠI CƯƠNG TẬP 2 - Pdf 33

GS. TSKH. NGUYỄN VĂN HỘ
PGS.TS. HÀ THỊ ĐỨC

GIÁO DỤC HỌC ĐẠI CƯƠNG

TẬP HAI

NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC - 2002
1


PHẦN THỨ BA
LÍ LUẬN GIÁO DỤC

Lí luận giáo dục là một chuyên ngành của Giáo dục học. Đó
là một hệ thống lí luận về tổ chức quá trình giáo dục (theo nghĩa
hẹp) nhằm góp phần quan trọng vào việc hình thành, phát triển
nhân cách toàn diện cho thế hệ trẻ. Hệ thống lí luận này bao
gồm những vấn đề cơ bản về bản chất, quy luật, các đặc điểm
của quá trình giáo dục; về những nguyên tắc và phương pháp
giáo dục; về nội dung và các hình thức tổ chức các loại hình
hoạt động phong phú, đa dạng nhằm đạt hiệu quả giáo dục tối
ưu. Sau đây, chúng ta sẽ lần lượt nghiên cứu những vấn đề đó.

CHƯƠNG XIV
QUÁ TRÌNH GIÁO DỤC (Theo nghĩa hẹp)
I - Khái niệm và cấu trúc của quá trình giáo dục
1. Khái niệm quá trình giáo dục
Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt; Một quá trình,
trong đó: Dưới tác động có mục đích, có kế hoạch, có phương
pháp của người giáo viên, với tư cách là nhà giáo dục, nhà sư

và hoạt động tự giáo dục.
2. Cấu trúc của quá trình giáo dục
Theo cách tiếp cận hệ thống - cấu trúc, quá trình giáo dục tồn
3


tại như là một hệ thống toàn vẹn bao gồm các nhân tố cơ bản
sau:
a) Mục đích và nhiệm vụ giáo dục
Mục đích và nhiệm vụ giáo dục phản ánh yêu cầu của sự tiến
bộ xã hội và sự phát triển của khoa học, kinh tế, chính trị… Nó
đòi hỏi sự nghiệp giáo dục phải đào tạo những người công dân
tương lai có phẩm chất nhân cách, có hành vi thói quen đáp ứng
yêu cầu, chuẩn mực về đạo đức, lao động, thể chất và thẩm mĩ
do xã hội quy định, giúp họ có khả năng hòa nhập và thích ứng
một cách năng động, sáng tạo với cuộc sống đang đổi mới toàn
diện và sâu sắc trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước. Vì thế, mục đích và nhiệm vụ giáo dục có vai trò định
hướng cho tất cả các nhân tố khác của quá trình giáo dục.
Để thực hiện tốt mục đích giáo dục, quá trình giáo dục phải
hoàn thành các nhiệm vụ cơ bản như:
- Tổ chức hình thành và phát triển ý thức cá nhân về các
chuẩn mực xã hội nói chung các chuẩn mực đạo đức pháp luật
nói riêng đã được quy định. Ý thức cá nhân là một thể thống
nhất giữa sự hiểu biết của cá nhân về các chuẩn mực xã hội và
niềm tin đối với những chuẩn mực đó:
- Tổ chức hình thành và phát triển ở học sinh những xúa cảm,
tình cảm tích cực có tác dụng như là một "chất men" đặc biệt
thúc đẩy cá nhân chuyển hóa ý thức về các chuẩn mực xã hội
thành hành vi và thói quen tương ứng;

dục. Mặt khác, phương pháp, phương tiện lại là "hình thức về
cách thức vận động bên trong của nội dung", nó giúp cho nội
dung giáo dục được chuyển hóa thành vốn kinh nghiệm riêng
của người được giáo dục sao cho phù hợp với mục đích và các
nhiệm vụ giáo dục.
5


Như vậy, giữa mục đích, nhiệm vụ, nội dung và phương
pháp, phương tiện giáo dục có mối quan hệ thống nhất biện
chứng với nhau, nó chi phối, ảnh hưởng, hỗ trợ và phụ thuộc lẫn
nhau thông qua các hoạt động giáo dục.
d) Nhà giáo dục
Trong quá trình giáo dục người giáo viên và tập thể giáo
viên, với tư cách là các nhà giáo dục, các nhà sự phạm, những
người được chuẩn bị về chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm, có
phương pháp và nghệ thuật giáo dục, luôn phát huy vai trò chủ
đạo, tổ chức, điều khiển quá trình hình thành, phát triển nhân
cách của học sinh một cách có mục đích có kế hoạch, có phương
pháp, có tổ chức khoa học, hợp lí. Qua đó động viên, khuyến
khích, làm phát triển ở học sinh tính tự giác, tính tích cực tự giáo
dục, tự hoàn thiện mình.
e) Người học sinh trong quá trình giáo dục
Trong quá trình giáo dục, người học sinh (và tập thể học
sinh) vừa là đối tượng, là khách thể tiếp nhận sự tác động có
định hướng của nhà giáo dục. Nhưng người học sinh trong quá
trình giáo dục không phải là một thực thể thụ động, trái lại họ đã
tiếp thu những tác động từ các lực lượng giáo dục khác nhau
một cách chủ động tùy theo mục đích tu dưỡng rèn luyện, tự
giáo dục của bản thân họ. Điều đó cũng có nghĩa là, dưới tác

phát triển và hoàn thiện.
Kết quả quá trình giáo dục được thể hiện đậm nét ở sự biến
đổi về chất trong nhân cách của người được giáo dục, đặc biệt là
ý thức về các chuẩn mực xã hội đã được quy định; về sự phát
triển của tình cảm, hành vi, thói quen đạo đức, thẩm mĩ, ...
Những nhân tố trên đây: mục đích, nhiệm vụ giáo dục, nội
dung, phương pháp, phương tiện giáo dục, chủ thể, đối tượng và
7


kết quả giáo dục luôn tồn tại và phát triển trong mối quan hệ
tương tác, biện chứng với nhau. Các nhân tố đó còn có mối quan
hệ mật thiết với môi trường kinh tế - xã hội. môi trường chính trị
văn hóa,... với cơ chế thị trường. Sự phát triển không ngừng về
mọi lĩnh vực đời sống xã hội, những đòi hỏi ngày càng cao của
nền kinh tế tri thức trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước luôn đặt ra những yêu cầu cao và tạo điều kiện thuận
lợi cho các nhân tố vận động phát triển và ngược lại, các nhân tố
của quá trình giáo dục lại ảnh hưởng, chi phối, tác động tích cực
trở lại môi trường kinh tế, văn hóa, xã hội ...
Từ sự phân tích trên đây, theo quan điểm tiếp cận hệ thống cấu trúc thì quá trình giáo dục theo nghĩa hẹp nói riêng, quá
trình giáo dục - đào tạo nói chung tồn tại như là một hệ thống
bao gồm các nhân tố cấu trúc có quan hệ mật thiết với nhau và
có quan hệ tương tác với môi trường. Sự vận động và phát triển
của các nhân tố được phản ánh trong kết quả của quá trình giáo
dục.
Như vậy. quá trình giáo dục là hoạt động giáo dục và tự giáo
dục một cách có kế hoạch, có nội dung, phương pháp, phương
tiện của giáo viên và học sinh nhằm thực hiện tốt mục đích,
nhiệm vụ giáo dục. Đó là hoạt động phối hợp, thống nhất của

phải được thể hiện thông qua hành động thực tiễn. Bởi lẽ, trong
cuộc sống, nhiều khi người ta nói rất giỏi về các chuẩn mực đạo
đức, về lối sống văn hóa, thẩm mĩ... nhưng trong thực tiễn, chính
những người nói giỏi đó lại không thể hiện được những hành vi
tương ứng, thậm chí còn có những việc làm, những hành động
trái ngược ...
Mặt khác, trong quá trình giáo dục luôn diễn ra sự tác động
qua lại tích cực giữa người được giáo dục và nhà giáo dục nhằm
giúp cho đối tượng giáo dục là người học sinh thường xuyên cố
9


gắng tu dưỡng, rèn luyện, tự giáo dục nhằm chuyển hóa được
những yêu cầu những chuẩn mực xã hội đã được quy định thành
hệ thống hành vi và thói quen tương ứng. Quá trình đó được
diễn ra có tổ chức, có kế hoạch, có phương pháp thông qua các
loại hình hoạt động phong phú và đa dạng do giáo Viên tổ chức,
điều khiển còn học sinh tham gia một cách tích cực, chủ động,
sáng tạo.
Như vậy, quá trình giáo dục về bản chất là quá trình tổ chức,
điều khiển và tự tổ chức, tự điều khiển các loại hình hoạt động
phong phú và đa dạng trong cuộc sông nhằm chuyển hóa một
cách tự giác, tích cực các yêu cầu và những chuẩn mực do xã
hội quy định thành hành vi và thói quen tương ứng của học sinh.
dưới vai trò chủ đạo của nhà giáo dục.
2. Những đặc điểm cơ bản của quá trình giáo dục
Quá trình giáo dục có một số đặc điểm cơ bản sau:
a) Giáo dục là một quá trình hoạt động có mục đích, có kế
hoạch, có nội dung, có phương pháp được diễn ra trong một
thời gian dài

thường xuyên có những tác động của những tổ chức xã hội,
những ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp của các phương tiện
thông tin, phim ảnh, sách báo …
Những ảnh hưởng, tác động từ nhiều phía đã đan kết, xen kẽ,
bổ sung, hỗ trợ cho nhau thành một thể thống nhất hướng tới
việc phát triển và hoàn thiện nhân cách. Trong những tác động
phức hợp đó, hoạt động giáo dục của nhà trường nói chung, hoạt
tổ chức các loại hình hoạt động giáo dục tập thể của giáo viên
chủ nhiệm lớp nói riêng giữ vai trò chủ đạo. Tuy nhiên, trong
thực tiễn giáo dục, cũng có những nơi, những lúc, trong các tình
huống cụ thể, thường xảy ra những tác động ngược chiều tạo ra
những phản ứng nhiễu gây khó khăn cho quá trình giáo dục. Với
11


những tình huống như vậy, đòi hỏi người giáo viên với tư cách
là nhà giáo dục cần khéo léo vận dụng các phương pháp giáo
dục để hạn chế tới mức tối thiểu những tác động tiêu cực, tự
phát và phát huy cao độ những tác động tích cực đối với quá
trình giáo dục và tự giáo dục, tự rèn luyện của học sinh.
c) Quá trình giáo dục là quá trình phát triển biện chứng
Giáo dục là một hiện tượng xã hội và cũng là một quá trình
nên nó không ngừng vận động, phát triển theo quy luật phổ biến
của các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan. Thực chất
của hoạt động giáo dục là quá trình liên tục phát hiện và giải
quyết những tình huống sư phạm nảy sinh trong các lĩnh vực
giáo dục đạo đức, giáo dục lối sống văn hóa, thẩm mĩ của học
sình trong môi trường sư phạm của nhà trường, trong gia đình và
xã hội. Việc phát hiện kịp thời các tình huống và có các giải
pháp giải quyết hợp lí phù hợp với đặc điểm tâm - sinh lí của

trong sáng và sự bao dung ...
e) Quá trình giáo dục gắn liền và thông nhất với quá trình
dạy học
Trong các loại hình trường, hoạt động giáo dục (theo nghĩa
hẹp) và hoạt động dạy học là hai dạng hoạt động được tiến hành
song song với các chức năng trội đặc trưng riêng của mình. Hoạt
động dạy học nhằm tổ chức, điều khiển để người học chiếm lĩnh
có chất lượng, hiệu quả nội dung học vấn; hoạt động giáo dục
nhằm hình thành những phẩm chất đạo đức, hành vi, thói quen,
lối sống, hành vi văn minh,… Hai hoạt động đó không tách biệt
mà thống nhất, bổ sung, hỗ trợ cho nhau góp phần hình thành,
phát triển và hoàn thiện nhân cách cho thế hệ trẻ. Cụ thể là: Trên
cơ sở thực hiện các nhiệm vụ dạy học thì thế giới quan và các
phẩm chất nhân cách của học sinh được hình thành, phát triển và
ngược lại kết quả giáo dục tốt các phẩm chất hành vi đạo đức,
13


lối sống có văn hóa lại là điều kiện, là tiền đề, là động lực thúc
đẩy hoạt động dạy học đạt kết quả cao hơn. Như vậy, mối quan
hệ tương tác giữa quá trình giáo dục và quá trình dạy học là mối
quan hệ thống nhất biện chứng, nó phản ánh tính quy luật đặc
trưng của quá trình sư phạm: hoạt động dạy học và hoạt động
giáo dục thống nhất biện chứng với nhau
III - Động lực và lôgíc của quá trình giào dục
1. Động lực của quá trình giáo dục
Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt; Một quá trình
luôn luôn vận động và phát triển không ngừng, trong đó nhân
cách của người học sinh ngày càng được phát triển và không
ngừng hoàn thiện.

sinh chính trong quá trình giáo dục, tự giáo dục, tự rèn luyện của
bản thân nhà giáo dục hay người được giáo dục như mâu thuẫn
giữa lời nói với việc làm giữa tình cảm với lí trí của học sinh;
giữa năng lực chuyên môn với phương pháp, nghệ thuật sư
phạm của giáo viên, v.v ... Việc phát hiện kịp thời và giải quyết
có hiệu quả các mâu thuẫn bên trong này sẽ tạo nên hệ thống
động lực thúc đẩy quá trình giáo dục không ngừng vận động
phát triển.
c) Mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn giữa những yêu cầu cao
của mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục về đạo đức, hành vi, lối sống
có văn hóa… đối với học sinh với thực trạng suy giảm về đạo
đức, về lối sống… hiện nay của các em trong các loại hình
trường. Đó chính là mâu thuẫn giữa yêu cầu cao của những
chuẩn mực xã hội về giáo dục đạo đức, lao động, thể chất, thẩm
mĩ với trình độ được giáo dục nói riêng, trình độ phát triển các
phẩm chất nhân cách nói chung ở học sinh. Mâu thuẫn cơ bản
này tồn tại trong suốt cả quá trình giáo dục. Nếu được phát hiện
kịp thời và có các giải pháp giải quyết hợp lí, có hiệu quả thì sẽ
15


tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết hàng loạt các mâu
thuẫn khác. Nghĩa là, khi mâu thuẫn nảy sinh, dưới vai trò chủ
đạo của nhà giáo dục, với các hình thức tổ chức các loại hình
hoạt động phong phú đa dạng hấp dẫn, phù hợp có tác dụng thu
hút, lôi cuốn học sinh tích cực tham gia… Thông qua hoạt động,
học sinh không ngừng phấn đấu, rèn luyện và tự hoàn thiện
mình đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của những chuẩn
mực xã hội. Như vậy, cùng với mâu thuẫn cơ bản, hàng loạt các
mâu thuẫn khác cũng được giải quyết tạo ra động lực thúc đẩy

dục đó diễn ra theo các giai đoạn, các bước hay các khâu mà
mỗi khâu nhằm giải quyết tương đối trọn vẹn một nhiệm vụ cụ
thể từ nhận thức đến thái độ, động cơ, tình cảm, niềm tin và
hành vi, thói quen, nếp sống có văn hóa của bản thân người học.
Với cách hiểu như vậy, quá trình giáo dục có thể diễn ra theo ba
khâu cơ bản sau:
a) Khâu thứ nhất: Nâng cao nhận thức về các yêu cầu, chuẩn
mực đạo đức, các giá trị văn hóa, thẩm mĩ … do xã hội quy
định. Với vai trò chủ đạo của nhà giáo dục, trước hết phải làm
cho học sinh nhận thức đầy đủ, sâu sắc được những chuẩn mực
về đạo đức, những giá trị văn hóa, thẩm mĩ, những lối sống, nếp
sống văn minh, … Các chuẩn mực do xã hội quy định nói chung
vừa có tính chất pháp chế, bắt buộc, vừa mang tính truyền thống
được lựa chọn đưa vào nội dung giáo dục như hệ thống các
chuẩn mực về pháp luật, về phong tục tập quán, về văn hóa,
thẩm mĩ,… Trong quá trình giáo dục, giáo viên cần làm cho học
sinh hiểu sâu sắc về các chuẩn mực, giúp họ có tri thức cơ bản
về các chuẩn mực xã hội như: ý nghĩa xã hội và ý nghĩa cá nhân
của các chuẩn mực; nội dung của chuẩn thực bao gồm cả những
khái niệm tương ứng; cách thức thực hiện các chuẩn mực, v.v...
17


Đó là những phương tiện có giá trị định hướng cho thái độ,
tình cảm và niềm tin; có chức năng điều chỉnh hành vi thói quen
của cá nhân hay của nhóm xã hội trong những hoàn cảnh và điều
kiện nhất định. Mặt khác, nhận thức về các chuẩn mực do xã hội
quy định còn là phương tiện để xã hội đánh giá hành vi của cá
nhân và mỗi cá nhân tự kiểm tra, tự đánh giá hành vi, thói quen
của chính mình.

dưỡng, rèn luyện và tự hoàn thiện mình, tránh xa mọi ảnh hưởng
xấu trong cuộc sống đầy biến động và phức tạp hiện nay. Trên
cơ sở nhận thức đúng đắn về những chuẩn mực đạo đức về lối
sống văn hóa thẩm mĩ, ở mỗi cá nhân hình thành được những
thái độ, niềm tin và tình cảm đạo đức, xúc cảm thẩm mĩ... từ đó
họ có động cơ tu dưỡng, rèn luyện hành vi, thói quen tương ứng.
c) Khâu thứ ba: Tổ chức, điều khiển học sinh rèn luyện hành
vi và thói quen phù hợp với những chuẩn mực xã hội đã quy
định. Mục đích cuối cùng của quá trình giáo dục là hình thành
và phát triển những phẩm chất đạo đức, những nét tính cách,
những hành vi và thói quen, những lối sống có văn hóa ở người
được giáo dục. Những biểu hiện trong lối sống, hành vi văn
minh chính là bộ mặt đạo đức, thẩm mĩ ... của mỗi con người
trong cộng đồng. Vì vậy, vấn đề quan trọng đặc biệt trong quá
trình giáo dục là phải tổ chức các loại hình hoạt động phong phú
và đa dạng, tạo môi trường thuận lợi để học sinh tự giáo dục, tự
tu dưỡng và rèn luyện những nét tính cách, những hành vi và
thói quen những nếp sống có văn hóa, những giá trị truyền thống
đã được xã hội thừa nhận. Những hành vi, những nếp sống văn
minh và sự ứng xử có văn hóa, ... cần được thường xuyên luyện
tập, rèn luyện, củng cố trở thành kĩ xảo, thành động hình, thành
thói quen bền vững. Đó là nhu cầu không thể thiếu được trong
cuộc sống của mỗi con người. Các khâu của quá trình giáo dục
19


không tách biệt mà có mối quan hệ mật thiết với nhau, bởi lẽ
giáo dục là một quá trình toàn vẹn việc thực hiện các nhiệm vụ
giáo dục đòi hỏi phải tiến hành đồng bộ cả ba khâu trong mối
quan hệ tương tác, bổ sung, hỗ trợ cho nhau, thậm chí thâm nhập

CHƯƠNG XV
QUY LUẬT VÀ NGUYÊN TẮC GIÁO DỤC
I. Những quy luật của quá trình giáo dục
Quá trình giáo dục luôn vận động và phát triển không ngừng
theo những quy luật phổ biến và đặc thù vốn có của nó. Quy luật
giáo dục phản ánh các mối quan hệ, liên hệ tương tác và bền
vững giữa các nhân tố các yếu tố trong quá trình giáo dục với
nhau hoặc mối quan hệ chi phối của môi trường tới từng nhân tố
của quá trình giáo dục. Cho đến nay các nhà giáo dục học vẫn
còn có nhiều ý kiến chưa hoàn toàn nhất trí về các quy luật và
tính quy luật trong quá trình giáo dục.
Chúng ta có thể kể tới một số quy luật đặc trưng, điển hình
sau đây của quá trình giáo dục:
1. Quá trình giáo dục thống nhất biện chứng với môi
trường kinh tế- xã hội
Đây là quy luật phổ biến phản ánh mối quan hệ chi phối,
quan hệ thường xuyên, trực tiếp hoặc gián tiếp của môi trường
xã hội tới từng nhân tố của quá trình giáo dục. Các nhân tố của
quá trình giáo dục chịu ảnh hưởng tác động từ nhiều phía của
điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội ... nhưng hoàn toàn không thụ
động mà ngược lại, các nhân tố của quá trình giáo dục không
ngừng phát huy tác dụng tích cực trở lại môi trường, góp phần
cải tạo môi trường. Ví dụ: Điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội, cơ
chế thi trường thường xuyên ảnh hưởng tới quá trình tổ chức
điều khiển, tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động giáo dục, tự giáo
dục của giáo viên và học sinh. Song chính trong quá trình đó,
22


giáo viên và học sinh lại tham gia nhiều hoạt động góp phần cải

của mỗi cá nhân, phụ thuộc vào cách thức tổ chức các hình thức
hoạt động và giao lưu. Việc tổ chức các hình thức hoạt động,
giao lưu càng khoa học, hợp lí, càng phong phú, hấp dẫn, bổ ích,
có tính giáo dục sâu sắc thì càng mang lại hiệu quả giáo dục tối
ưu.
4. Tác động sư phạm của nhà giáo dục và hoạt động tự
giáo dục của học sinh thống nhất biện chứng với nhau
Sự thống nhất biện chứng giữa hoạt động giáo dục của người
giáo viên và hoạt động tự giáo dục, tự tu dưỡng và rèn luyện của
học sinh trong quá trình giáo dục có mối quan hệ tương tác với
nhau, nó phản ánh mối quan hệ biện chứng giữa chủ thể và đối
tượng, giữa hai nhân tố đặc trưng của quá trình giáo dục. Quá
trình giáo dục mà thiếu vắng một trong hai nhân tố đó thì quá
trình đó không tồn tại. Vì vậy, mối quan hệ thống nhất biện
chứng giữa tác động sư phạm của nhà giáo dục và hoạt động tự
giác, tích cực tự giáo dục, tự tu dưỡng, rèn luyện các hành vi,
thói quen phù hợp vôi các chuẩn mực xã hội của người được
giáo dục là quy luật cơ bản của quá trình giáo dục.
5. Quá trình giáo dục và quá trình dạy học thống nhất biện
chứng với nhau
Giáo dục (theo nghĩa hẹp) và dạy học là hai hoạt động cơ bản
đặc trưng nhất của quá trình sư phạm nhằm thực hiện mục đích
giáo dục toàn diện. Hai hoạt động đó thống nhất, bổ sung, hỗ trợ
cho nhau: dạy học là con đường, là phương tiện thực hiện nhiệm
vụ giáo dục và ngược lại nếu học sinh được giáo dục tốt thì tất
yếu sẽ học tập tự giác, tích cực có hiệu quả cao hơn. Vì lẽ đó
chúng ta có thể nói: mối quan hệ giữa dạy học và giáo dục là
mối quan hệ giữa phương tiện và mục đích, đó là một quy luật
24





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status