Tình hình mắc bệnh sinh sản và phương pháp điều trị cho đàn nái nuôi tại xí nghiệp lợn giống phù đổng thuộc công ty TNHH MTV giống gia súc hà nội - Pdf 33

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-----------  -----------

NGUYỄN DANH PHÚC

Tên đề tài:
“TÌNH HÌNH MẮC BỆNH SINH SẢN VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ
CHO ĐÀN NÁI NUÔI TẠI XÍ NGHIỆP LỢN GIỐNG PHÙ ĐỔNG
THUỘC CÔNG TY TNHH MTV GIỐNG GIA SÚC HÀ NỘI”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy
Chuyên ngành:Chăn nuôi Thú y
Khoa: Chăn nuôi Thú y
Khoá học: 2011 – 2015

Thái Nguyên, năm 2015


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-----------  -----------

NGUYỄN DANH PHÚC

Tên đề tài:
“TÌNH HÌNH MẮC BỆNH SINH SẢN VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ
CHO ĐÀN NÁI NUÔI TẠI XÍ NGHIỆP LỢN GIỐNG PHÙ ĐỔNG
THUỘC CÔNG TY TNHH MTV GIỐNG GIA SÚC HÀ NỘI”

Khoa: Chăn nuôi Thú y
Khoá học:2011 – 2015
Giảng viên hướng dẫn: PGS. TS. Nguyễn Duy Hoan
Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Thái Nguyên, năm 2015


ii

LỜI MỞ ĐẦU
Để trở thành một kĩ sư, bác sỹ giỏi được xã hội công nhận, mỗi sinh
viên khi ra trường cần trang bị cho mình vốn kiến thức khoa học, chuyên môn
vững vàng và hiểu biết xã hội. Do vậy thực tập trước khi ra trường là một việc
hết sức quan trọng đối với sinh viên nhằm giúp sinh viên củng cố lại những
kiến thức đã học và bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học,
vận dụng lý thuyết và thực tiễn sản xuất, tiếp cận và làm quen với công việc.
Qua đây sinh viên nâng cao trình độ áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật
vào sản xuất. Đồng thời tạo cho mình tác phong làm việc khoa học, tính sáng
tạo để ra trường phải là một cán bộ vững vàng về lý thuyết giỏi về tay nghề,
có trình độ chuyên môn cao đáp ứng yêu cầu của sản xuất góp phần vào sự
phát triển của đất nước.
Được sự nhất trí của nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa chăn nuôi thú y,
thầy giáo hướng dẫn cũng như sự tiếp nhận của cơ sở tôi đã tiến hành thực tập
tại xí nghiệp lợn giống Phù Đổng với đề tài: “Tình hình mắc bệnh sinh sản và
phương pháp điều trị cho đàn nái nuôi tại xí nghiệp lợn giống Phù Đổng

thuộc công ty TNHH MTV giống gia súc Hà Nội”.
Sau thời gian thực tập với tinh thần làm việc khẩn trương, nghiêm túc
nên tôi đã hoàn thành khoá luận. Do trình độ, thời gian, kinh phí có hạn, bước

Gr:

Gram

LY:

Lợn lai giữa landrace và Yorkshire

Nxb:

Nhà xuất bản

STT: Số thứ tự
TNHH MTV: Trách nhiệm hữu hạn một thành viên
TT:

Thể trọng

VTM: Vitamin


v

MỤC LỤC
Trang
Phần 1: MỞ ĐẦU ............................................................................................ 1
1.1. Đặt vấn đề................................................................................................... 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu nghiên cứu đề tài........................................................ 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài ........................................................................................ 3
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ................................................................. 4

4.2.4.Tỷ lệ lợn nái mắc một số bệnh sinh sản theo tháng/năm ....................... 54
4.2.5. Kết quả điều trị ...................................................................................... 56
4.2.6. Chi phí sử dụng thuốc trong điều trị ..................................................... 58
4.2.7. Một số chỉ tiêu sinh lý sinh sản của lợn nái sau khi điều trị ................ 59
Phần 5: KẾT QUẢ VÀ ĐỀ NGHỊ ............................................................... 62
5.1. Kết luận .................................................................................................... 62
5.2. Đề nghị ..................................................................................................... 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 64
PHỤ LỤC


i

LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi luôn
nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ tận tình, tạo điều kiện và đóng góp
ý kiến quý báu của thầy giáo PGS.TS. Nguyễn Duy Hoan để xây dựng và
hoàn thiện khoá luận này.
Tôi xin chân thành cảm ơn: Ban giám hiệu nhà trường, toàn thể các thầy
cô giáo khoa chăn nuôi thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, đặc biệt
là thầy giáo PGS.TS. Nguyễn Duy Hoan đã luôn động viên, giúp đỡ và
hướng dẫn chỉ bảo tôi tận tình trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành
khoá luận.
Tôi xin chân thành cảm ơn: Toàn thể công nhân viên Công ty TNHH
nhà nước một thành viên giống gia súc Hà Nội, đặc biệt là các cô chú, anh chị
làm việc tại Xí nghiệp giống lợn Phù Đổng. đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi
trong quá trình thực hiện đề tài.
Để góp phần cho việc hoàn thành khoá luận đạt kết quả tốt, tôi luôn
nhận được sự động viên, giúp đỡ của gia đình và bạn bè. Tôi xin bày tỏ lòng
biết ơn chân thành trước mọi sự giúp đỡ quý báu đó.

Vì vậy nghiên cứu một số bệnh sinh sản ở lợn nái sau đẻ và các biện
pháp phòng bệnh cũng như một số phác đồ điều trị góp phần nâng cao năng
suất sinh sản, hạn chế tối đa thiệt hại kinh tế là một việc làm có ý nghĩa
khoa học và thực tiễn. Xuất phát từ thực tế đó chúng tôi tiến hành thực hiện
đề tài “Tình hình mắc bệnh sinh sản và phương pháp điều trị cho đàn nái
nuôi tại xí nghiệp lợn giống Phù Đổng thuộc công ty TNHH MTV giống
gia súc Hà Nội”.
1.2 Mục tiêu và yêu cầu nghiên cứu đề tài
- Đánh giá tình hình mắc một số bệnh sinh sản thường gặp trên đàn
nái sinh sản nuôi tại xí nghiệp lợn giống Phù Đổng thuộc công ty
TNHH MTV giống gia súc Hà Nội.


3

- Tiến hành thử nghiệm điều trị lợn mắc bệnh sinh sản bằng một số
phác đồ điều trị, từ đó đưa ra phác đồ điều trị hiệu quả nhất.
- Khuyến cáo một số biện pháp phòng bệnh tích cực để phòng bệnh
sinh sản cho lợn nái sau đẻ.
1.3 Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa khoa học
Các kết quả nghiên cứu một số bệnh sinh sản là những tư liệu khoa
học phục vụ cho các nghiên cứu tiếp theo ở Xí nghiệp.
- Ý nghĩa thực tiễn
+ Đánh giá hiệu quả điều trị bệnh của một số phác đồ từ đó đưa ra những
liệu trình điều trị hiệu quả, kinh tế để áp dụng rộng rãi trên thực tiễn chăn nuôi
+ Làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học.
+ Nâng cao kiến thức thực tiễn, tăng khả năng tiếp súc với thực tế chăn
nuôi, điều trị bệnh cho lợn từ đó nâng cao và củng cố kiến thức của bản thân.



- Ống dẫn trứng (Oviductus): Ống dẫn trứng ở lợn dài 15- 20 cm uốn
khúc nằm cạnh dây chằng rộng. Ống dẫn trứng bắt đầu ở bên cạnh buồng
trứng đến đầu tử cung được chia làm 2 phần.
+ Phầm trước tự do có hình phễu loe ra gọi là loa vòi (loa kèn) có tác
dụng hứng tế bao trứng chín rụng, đầu này mởi ra trong xoang phúc mạc.
+ Phần sau thon nhỏ có đường kính dài 0,2 - 0,3 cm nối với sừng tử cung
- Tử cung(dạ con) (uterus)
+ Cấu tạo giải phẫu tử cung
Tử cung nằm trong xoang chậu, dưới trực tràng, trên bóng đái, là nơi
làm tổ, cung cấp chất dinh dưỡng cho sự phát triển của bào thai đồng thời là
cơ quan đẩy bào thai lọt ra ngoài khi sinh đẻ.
Tử cung gồm có hai sừng tử cung, một thân và một cổ tử cung. Ở lợn tử
cung thuộc loại hai sừng, các sừng gấp nếp hoặc quăn lại và có độ dài hơn 1m
trong khi thân tử cung lại ngắn. Độ dài này phù hợp cho việc mang nhiều thai
+ Cổ tử cung
Cổ tử cung tổ chức sợi mô liên kết chiếm ưu thế kết hợp với sự góp mặt
của một ít cơ trơn.
Ở lợn cổ tử cung không có nếp gấp hình hoa nở mà là những cột thịt
xen kẽ cài răng lược với nhau.
+ Thân tử cung ngắn, niêm mạc thân và sừng tử cung là những nếp gấp
nhăn nheo theo chiêu dọc
+ Sừng tử cung dài ngoằn ngoèo như ruột non dài chừng 30 -50 cm
Thai của lợn được làm tổ ở sừng tử cung
- Âm đạo (vagina)
Âm đạo là đoạn nối tiếp sau cổ tử cung, trước âm hộ. Đây là nơi tiếp
nhận dương vật khi giao phối, phía trên là trực tràng, phía dưới là bóng đái,
nó được ngăn cách với âm hộ bởi màng trinh.



7

+ Tiền đình (vestibulum):
Nguyễn Mạnh Hà và cs (2003) [8] cho biết tiền đình là giới hạn giữa âm
môn và âm đạo, nghĩa là qua tiền đình mới vào âm đạo. Trong tiền đình có
dấu vết màng trinh, phía trong màng trinh là âm đạo, phía sau màng trinh có
lỗ niệu đạo. Màng trinh có các sợi cơ đàn hồi giữa và do hai lá niêm mạc gấp
thành một nếp. Tiền đình có một số tuyến, các tuyến này xếp theo hàng chéo,
hướng quay về âm vật, chúng có chức năng tiết dịch nhầy.
- Cấu tạo giải phẫu tuyến vú
Theo Đặng Quang Nam và cs (2002) [18] cho biết: Tuyến vú chỉ có ở
động vật có vú. Tuyến này chỉ phát triển ở con cái khi đến tuổi thành thục về
tính (dậy thì) và nó phát triển to nhất ở thời kỳ chửa, đẻ. Thời kỳ con vật đẻ,
tuyến vú tiết ra sữa cung cấp dinh dưỡng cho con sơ sinh và lúc con còn non.
+ Cấu tạo: Tuyến vú là dạng đặc biệt của tuyến mồ hôi tạo thành, tất cả
động vật có vú không kể đực, cái đều có tuyến vú. Song chỉ ở con cái cùng
với sự sinh trưởng và phát triển của cơ thể, dưới ảnh hưởng điều hoà của các
hoocmone sinh sản mới được phát dục và hoàn thiện trước khi đẻ lần đầu tiên.
Ở lợn có 6 - 10 đôi vú, thường là 6 đôi phân bố thành hai hàng từ vùng ngực
tới vùng bẹn và đối xứng nhau qua đường trắng bụng. Vú gồm có bầu vú và
núm vú.
+ Bầu vú: Là nơi sản sinh và chứa sữa, ngoài cùng là lớp da mỏng mịn
tùy theo vị trí mà lớp da này do da ngực, nách hay da bụng, bẹn kéo đến, tiếp
đến là lớp cơ. Trong cùng có hai phần cơ bản là bao tuyến và ống dẫn, xen kẽ
giữa phần cơ bản ở trong là tổ chức mỡ, tổ chức liên kết, hệ thống mạch quản
thần kinh bao vây và chia vú thành nhiều thuỳ nhỏ, trong đó có nhiều sợi đàn
hồi. Bao tuyến là nơi sản sinh ra sữa, giống như một cái túi, từ túi đó sữa theo
3 loại ống dẫn: nhỏ, trung bình, lớn rồi đổ vào xoang sữa ở đáy tuyến và
thông ra đỉnh ở đầu vú. Để hình thành 1 lít sữa cần 540 lần lít máu đi qua



ii

LỜI MỞ ĐẦU
Để trở thành một kĩ sư, bác sỹ giỏi được xã hội công nhận, mỗi sinh
viên khi ra trường cần trang bị cho mình vốn kiến thức khoa học, chuyên môn
vững vàng và hiểu biết xã hội. Do vậy thực tập trước khi ra trường là một việc
hết sức quan trọng đối với sinh viên nhằm giúp sinh viên củng cố lại những
kiến thức đã học và bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học,
vận dụng lý thuyết và thực tiễn sản xuất, tiếp cận và làm quen với công việc.
Qua đây sinh viên nâng cao trình độ áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật
vào sản xuất. Đồng thời tạo cho mình tác phong làm việc khoa học, tính sáng
tạo để ra trường phải là một cán bộ vững vàng về lý thuyết giỏi về tay nghề,
có trình độ chuyên môn cao đáp ứng yêu cầu của sản xuất góp phần vào sự
phát triển của đất nước.
Được sự nhất trí của nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa chăn nuôi thú y,
thầy giáo hướng dẫn cũng như sự tiếp nhận của cơ sở tôi đã tiến hành thực tập
tại xí nghiệp lợn giống Phù Đổng với đề tài: “Tình hình mắc bệnh sinh sản và
phương pháp điều trị cho đàn nái nuôi tại xí nghiệp lợn giống Phù Đổng

thuộc công ty TNHH MTV giống gia súc Hà Nội”.
Sau thời gian thực tập với tinh thần làm việc khẩn trương, nghiêm túc
nên tôi đã hoàn thành khoá luận. Do trình độ, thời gian, kinh phí có hạn, bước
đầu còn bỡ ngỡ trong công tác nghiên cứu nên khoá luận của tôi không tránh
khỏi những sai sót vá hạn chế, tôi mong nhận được những ý kiến đóng góp
của thầy cô, đồng nghiệp để khoá luận của tôi hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!


10


chậm đều đạt kết quả kém nên cho nhảy kép hoặc thụ tinh nhân tạo kép vào
thời điểm tối ưu.
+ Quá trình mang thai và đẻ : Nguyễn Xuân Tịnh và cs (1996) [36] cho
biết: thụ thai là sự kết hợp giữa tinh trùng và trứng tạo thành hợp tử, hay nói
cụ thể hơn là quá trình đồng hoá giữa trứng và tinh trùng. Đó là kết quả của
sự tái tổ hợp các gen từ hai nguồn gen khác nhau. Thời gian mang thai của lợn
trung bình là 114 ngày (113 - 115 ngày), khi mang thai thì thể vàng tồn tại và
tiết ra kích tố progesterol ức chế sự phát triển của bao noãn. Do đó con vật có
chửa sẽ không động dục và không thải trứng. Nguyễn Văn Trí (2008) [37] cho
rằng: thời gian chửa của lợn nái được chia làm hai thời kỳ:
Chửa kỳ I: là thời gian lợn có chửa từ ngày thứ 1 đến ngày thứ 84.
Chửa kỳ II: là thời gian lợn chửa từ ngày thứ 85 đến khi đẻ.
+ Giai đoạn tiết sữa và nuôi con.
Theo Trương Lăng (2003) [14], khả năng tiết sữa của lợn mẹ phụ thuộc
vào mức độ dinh dưỡng thức ăn, giống lợn và số lượng lợn con. Lượng sữa
mẹ tiết ra nhiều nhất vào tuần thứ 2 - 3. Giống khác nhau thì khả năng tiết sữa
của lợn mẹ khác nhau.
Qua theo dõi, sản lượng và chất lượng sữa ở các vị trí vú khác nhau cũng
không giống nhau.Các vú phía trước ngực sản lượng sữa cao phẩm chất tốt,
các vú phía sau nhìn chung kém hơn. Vì vậy, để đảm bảo tính đồng đều của ổ
lợn ta nên cố định những con nhỏ hơn bú vú trước, cần tách riêng lợn con đẻ
trước chờ đến khi đẻ xong mới cho cả đàn vào bú, nhưng nhất thiết phải cho
lợn con bú sữa đầu, chậm nhất là 2 giờ sau đẻ, để lợn con có đủ kháng thể
trong năm tuần đầu sau khi sinh vì trong sữa đầu của lợn mẹ có chứa γ
globulin giúp cho cơ thể lợn con có sức đề kháng.
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [24] cho biết: quá trình sinh trưởng
của lợn con từ khi mới đẻ đến khi cai sữa gặp phải thời kỳ khủng hoảng lúc 3



13

2.1.2. Một số hiểu biết về bệnh sinh sản
Bệnh sản khoa được thể hiện trên các giống lợn nội, ngoại khác nhau. Khi
con cái sinh sản là lúc lối vào các bộ phận nằm sâu trong đường sinh dục mở,
máu, sản dịch ra nhiều điều đó tạo nhiều khả năng cho vi khuẩn xâm nhập.
Theo Nguyễn Quang Tính (2004) [35] thì sức đề kháng của cơ thể phụ
thuộc trước hết vào chế độ dinh dưỡng. Dinh dưỡng không những về mặt vật
chất mà về cả mặt lượng cũng rất quan trọng, việc sử dụng thức ăn thích hợp
theo nhu cầu của lứa tuổi có ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát
triển bình thường của chúng. Cho ăn thiếu làm giảm sức đề kháng của cơ thể.
* Bệnh viêm tử cung
Bệnh xảy ra trên các giống lợn nội, ngoại khác nhau. Theo Nguyễn
Xuân Bình (1996) [2], bệnh xảy ra ở những thời điểm khác nhau, nhưng hay
xảy ra nhất vào thời gian sau khi đẻ 1 - 10 ngày.
Viêm tử cung thường xuất hiện trên nái sau khi sinh từ 2 - 3 ngày. Trong
quá trình đẻ dịch và các chất trong tử cung chảy ra, cổ tử cung mở, niêm mạc
tử cung bị sây sát, vi khuẩn xâm nhập gây lên viêm tử cung (Đặng Thanh
Tùng, 1999 [39].
- Nguyên nhân
Do dụng cụ thụ tinh nhân tạo cứng gây xây xát và tạo ra các ổ viêm
nhiễm trong âm đạo tử cung. Do tinh dịch bị nhiễm khuẩn và dụng cụ thụ tinh
không được vô trùng đã đưa các vi khuẩn gây viêm nhiễm vào đường sinh
dục của lợn nái. Do lợn đực bị viêm niệu quản và dương vật, khi nhảy trực
tiếp sẽ truyền bệnh sang lợn nái (Phạm Sỹ Lăng và cs, 2003) [12].
Theo Đoàn Thị Kim Dung và cs (2002) [7] cho biết: Nguyên nhân gây
ra bệnh viêm tử cung chủ yếu do vi khuẩn tụ cầu vàng (Staphylococcus
aureus) liên cầu dung huyết (Streptococcus hemolitica) và các loại Proteus




- Triệu chứng :
Theo Nguyễn Văn Thanh (2007) [29], khi lợn nái bị viêm các chỉ tiêu
lâm sàng như thân nhiệt, tần số hô hấp đều tăng so với lợn nái bình thường.
Lợn bị sốt theo quy luật lên xuống. Sáng sốt nhẹ 39 - 39,50C, chiều 40 - 410C.
Con vật ăn kém, sản lượng sữa giảm, có khi con vật cong lưng rặn như rặn
đái, từ cơ quan sinh dục chảy ra niêm dịch lẫn nhiều lợn cợn, mùi hôi tanh, có
màu trắng đục, hồng hay nâu đỏ. Khi nằm lượng niêm dịch chảy ra nhiều hơn.
Trong trường hợp thai chết lưu âm đạo sưng tấy, đỏ, có chứa dịch tiết màu
vàng sẫm, nâu và có mùi hôi thối. Xung quanh âm hộ và mép đuôi dính bết
niêm dịch, có khi niêm dịch khô đóng thành vẩy trắng, lợn nái mệt mỏi đi lại
khó khăn.
Viêm tử cung ở lợn gồm các thể sau:
+ Viêm tử cung thể nhẹ (+) gọi là viêm tử cung nhờn, thể hiện thân nhiệt
bình thường, có khi hơi cao 39 - 39,50C, kém ăn có dịch tiết ra từ âm hộ, 12 –
72 giờ sau đẻ dịch lỏng có màu trắng đục hoặc xanh dạng sợi mùi hôi tanh.
Thể viêm này ít ảnh hưởng đến sản lượng sữa của lợn mẹ.
+ Viêm tử cung thể vừa (++) thuộc dạng viêm tử cung mủ, thân nhiệt
lợn nái cao 39,5 – 40oC, lợn ăn ít hoặc bỏ ăn, hay nằm lỳ. Khi nằm có dịch từ
âm hộ chảy ra màu vàng xanh lẫn mủ trắng đục, hơi sệt, mùi tanh thối.
Khi soi đường sinh dục, vùng âm đạo có dính váng mủ, niêm mạc có
vùng nhạt đỏ không đều, niêm dịch chảy từ cổ tử cung ra có mùi thối.
+ Viêm tử cung thể nặng (+++) thuộc dạng viêm tử cung mủ, thân nhiệt
tăng cao 39,5 – 40oC, lợn nái ủ rũ, hay nằm, bỏ ăn, dịch tiết từ âm hộ ra dạng
mủ xanh vàng sệt, có khi lẫn máu, mùi tanh thối.
Niêm mạc âm đạo nhợt nhạt, nhiều mủ đặc dính lại, cổ tử cung hơi mở,
có mủ trắng đục chảy ra, mùi thối khắm. Trạng thái này xuất hiện chậm 7- 8
ngày sau khi lợn đẻ. Bệnh ảnh hưởng đến sản lượng sữa.



Penicillin 2 - 3 triệu UI, Tetramycine hay Sulfanilamid 2 - 5g vào tử cung để
chống viêm.
Nên tiêm một mũi Oxytocin liều 3ml/ con sau khi đẻ xong để kích thích
tử cung co bóp đẩy hết nhau thai và sản dịch ra ngoài tử cung, âm đạo. Đồng
thời tiêm cho lợn nái một liều kháng sinh loại không ảnh hưởng đến sữa như:
Tetramycin. Trong thời gian dùng kháng sinh nên tiêm kèm theo thuốc bổ trợ
như: VTM B1, Bcomplex, VTM B12, Gluconatcanxi để trợ sức, kích thích
lợn nái ăn khoẻ để có sữa cho con bú.
Dụng cụ thụ tinh nhân tạo phải đúng quy định, được tiệt trùng trước và
sau khi sử dụng. Không sử dụng lợn đực bị bệnh ở đường sinh dục để thụ tinh
trực tiếp hoặc khai thác tinh nhân tạo.
- Điều trị
Để điều trị bệnh viêm tử cung có hiệu quả cần phải theo dõi sát đàn lợn
để chẩn đoán và có biện pháp điều trị sớm sẽ rút ngắn được thời gian điều trị,
lợn nhanh hồi phục, ít tốn kém kinh phí.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status