BÀI TẬP NHÓM THÁNG 1 MÔN LUẬT HÌNH SỰ MODULE 2
MỞ BÀI
Bộ luật hình sự là một trong những công cụ hiệu quả nhất giúp Nhà
nước quản lý xã hội và thiết lập trật tự xã hội. Với nhiệm vụ đó, chúng ta se
tìm hiểu một khía cạnh của BLHS Việt Nam, đó là vấn đề về các tội xâm
phạm danh dự và nhân phẩm của con người thông qua một tình huống cụ thể
sau đây. Đồng thời thông qua đó chúng ta có được nhận thức một cách đúng
nhất các quy định của pháp luật hình sự điều chỉnh vấn đề này, cũng như các
cách giải quyết của pháp luật hình sự trong từng trường hợp phạm tội cụ thể.
TÌNH HUỐNG
Nguyễn Thị V cùng một số người bạn là A, B và C (đều là nam giới)
tập trung ăn nhậu tại một lán nhỏ dựng bên bờ ao. Sau vài giờ trò chuyện và 4
người uống hết 3 lít rượu thì V đã choáng váng say, buồn nôn nên loạng
choạng đi ra ngoài. Thấy V bước liêu xiêu, A cũng loạng choạng đi theo dìu
V cho khỏi ngã. Hai người lại dìu nhau đến một cái lán khác cách đó vài chục
mét để V nằm nghỉ. Tại đây, V say rượu không biết gì nữa, còn A cũng trong
tình trạng chếnh choáng nên nổi dục vọng và giao cấu với V. Sau đó A nằm
ngủ cạnh V. Khi B và C lảo đảo đi ngang qua thấy V không mảnh vải trên
người nên đã thay nhau giao cấu với V . Vụ án sau đó được phát hiện.
HỎI:
1. Hãy xác định tội danh cho hành vi của A, B và C? Nêu căn cứ pháp lý ?
2. Trường hợp cố ý phạm tội của A, B và C có là đồng phạm không? Tại sao?
3. Việc phạm tội trong tình trạng say do dùng rượu của A, B, C có được coi là
tình tiết tăng nặng hay giảm nhẹ TNHS không?
4. Giả thiết rằng V đang có thai ở tháng thứ 2 thì A, B và C có phải chịu
TNHS về tình tiết tăng nặng “phạm tội đối với phụ nữ có thai” qui định tại
điểm h khoản 1 Điều 48 BLHS không? Tại sao?
THỰC HIỆN: NHÓM 2 – TL4 – LỚP N01 – KHÓA 35
có khả năng biểu lộ ý chí: nạn nhân bị tâm thần, bị say rượu, hoặc có thể tình
trạng trên do người phạm tội tự mình tạo ra: cho nạn nhân uống rượu…)
Trong tình huống trên A, B, C đã lợi dụng tình trạng không thể tự vệ
THỰC HIỆN: NHÓM 2 – TL4 – LỚP N01 – KHÓA 35
2
BÀI TẬP NHÓM THÁNG 1 MÔN LUẬT HÌNH SỰ MODULE 2
được (say rượu) của V đã thực hiện hành vi giao cấu với V. Hành vi này hoàn
toàn trái với ý muốn của V.
Cấu thành tội hiếp dâm đòi hỏi người phạm tội phải có hành vi giao cấu
với nạn nhân. Nếu người phạm tội dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực … để
giao cấu nhưng chưa giao cấu được với nạn nhân vì lý do khách quan thì
người này vẫn phạm tội hiếp dâm nhưng ở giai đoạn phạm tội chưa đạt. Hành
vi giao cấu của người phạm tội phải trái ý muốn của nạn nhân, nghĩa là nạn
nhân không chấp nhận sự giao cấu. Trường hợp hành vi giao cấu xảy ra
không có ý muốn của nạn nhân vì họ đang trong tình trạng không biểu lộ ý
chí được coi cũng là “hành vi giao cấu trái ý muốn”
+ Tội hiếp dâm có cấu thành hình thức. Do vậy hậu quả cũng như mối quan
hệ nhân quả không phải là yếu tố bắt buộc trong cấu thành này. Nó chỉ có ý
nghĩa trong việc đánh giá mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội
và từ đó có ý nghĩa trong việc quyết định hình phạt. Công cụ, phương tiện, địa
điểm…phạm tội giúp việc quyết định hình phạt được chính xác hơn.
Chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội phạm này là chủ thể đặc biệt.
Người thực hiện tôi phạm này chỉ có thể là nam giới. Trong tình huống trên
cả A, B, C đều là nam giới, có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi
theo luật định (căn cứ vào điều 12 và điều 13 BLHS).
Mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý.
Về mặt khách quan:
+ Có từ hai người trở lên và những người này phải có đủ các điều kiện của tội
phạm: năng lực TNHS và tuổi chịu TNHS. Riêng dấu hiệu chủ thể đặc biệt
chỉ đòi hỏi ở người thực hành.
+ Những người này phải cùng thực hiện tội phạm với lỗi cố ý. Nghĩa là họ
phải tham gia vào tội phạm với một trong bốn hành vi sau:
- Hành vi tổ chức thực hiện tội phạm: tổ chức thực hiện hành vi được
mô tả trong CTTP.
- Hành vi xúi giục người khác thực hiện tội phạm: xúi giục người khác
thực hiện hành vi mô tả trong CTTP.
- Hành vi giúp sức: giúp người khác thực hiện hành vi được mô tả
trong CTTP.
- Hành vi thực hiện tội phạm: Là thực hiện hành vi được mô tả trong
CTTP.
Nếu không có một trong những hành vi nêu trên thì không thể coi là cùng
THỰC HIỆN: NHÓM 2 – TL4 – LỚP N01 – KHÓA 35
4
BÀI TẬP NHÓM THÁNG 1 MÔN LUẬT HÌNH SỰ MODULE 2
thực hiện tội phạm và như vậy cũng không có đồng phạm. Thực tế cho thấy,
người đồng phạm có thể tham gia với một loại hành vi nhưng cũng có thể
tham gia với nhiều loại hành vi khác nhau. Họ có thể tham gia từ đầu nhưng
cũng có thể tham gia khi tội phạm đã xảy ra nhưng chưa kết thúc. Và tổng
hợp những hành vi của họ thỏa mãn một CTTP nhất định.
Về mặt chủ quan: Đồng phạm đòi hỏi những người thực hiện tội phạm
đều với lỗi cố ý. Ngoài ra đối với những tội mục đích phạm tội là dấu hiệu bắt
buộc (chương XI) thì đồng phạm cũng đòi hỏi những người phạm tội này phải
dàn xếp gì. Như vậy về mặt chủ quan thì không có sự thống nhất về ý chí
cũng như lý trí của A, B, C. A không hề biết B, C có hành vi giao cấu với V
(vì cả V và A đều quá say nên không biết việc làm của B, C).
Như vậy A, B, C không thể là đồng phạm trong vụ án hiếp dâm này.
Nhưng riêng trường hợp phạm tội của B và C thì đây được coi là đồng phạm
vì về khách quan: cả B và C đều thực hiện hành vi giao cấu với V, đều đóng
vai trò là người thực hành trong vụ đồng phạm. Về mặt chủ quan: cả B và C
đều biết hành vi của mình là nguy hiểm nhưng vẫn mong muốn thực hiện
hành vi phạm tội thể hiện ở việc “thấy V trong tư thế không mảnh vải trên
người” nên B và C “đã thay nhau giao cấu với V”. Như vậy B và C là đồng
phạm trong vụ hiếp dâm và là đồng phạm không có thông mưu trước.
3. Việc phạm tội trong tình trạng say do dùng rượu của A, B, C có được
coi là tình tiết tăng nặng hay giảm nhẹ TNHS không?
Theo quy định tại Điều 14 BLHS 1999 sửa đổi, bổ sung 2009 “Người
phạm tội trong tình trạng say do dùng rượu hoặc chất kích thích mạnh khác
thì vẫn phải chịu TNHS”. A, B, C đã thực hiện hành vi giao cấu với chị V
trong khi say( khi năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của họ bị hạn
chế) nhưng họ vẫn phải chịu TNHS về tội hiếp dâm vì chính A, B, C là người
có lỗi với tình trạng say của mình. Chính họ đã tự tước bỏ năng lực nhận thức
và năng lực điều khiển hành vi của mình, tự đặt mình vào tình trạng năng lực
TNHS bị hạn chế. Bởi vậy A, B, C phải chịu TNHS là đúng. Vấn đề là tình
tiết phạm tội trong tình trạng say có được coi là tình tiết tăng nặng hoặc giảm
nhẹ không?
Trường hợp phạm tôi trong tình trạng say do dùng rượu của A, B, C không
được coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự vì không thuộc các Điểm
từ Điểm a) đến Điểm o) Khoản 1 Điều 48 BLHS. Tình tăng nặng trách nhiệm
THỰC HIỆN: NHÓM 2 – TL4 – LỚP N01 – KHÓA 35
6
Do vậy tình tiết say rượu của A, B, C không được coi là tình tiết tăng nặng
hay giảm nhẹ TNHS. Việc tăng nặng hay giảm nhẹ TNHS cũng phải tuân theo
THỰC HIỆN: NHÓM 2 – TL4 – LỚP N01 – KHÓA 35
7
BÀI TẬP NHÓM THÁNG 1 MÔN LUẬT HÌNH SỰ MODULE 2
thể nguyên tắc pháp chế XHCN của pháp luật Việt Nam.
4. Giả thiết rằng V đang có thai ở tháng thứ hai thì A, B, C có phải chịu
TNHS về tình tiết tăng nặng “phạm tội đối với phụ nữ có thai” qui định
tại điểm h khoản 1 điều 48 BLHS không? Tại sao?
Để giải quyết vấn đề này trước tiên ta phải hiểu rõ quy định của BLHS
ở điểm h khoản 1 điều 48. “Phạm tội đối với phụ nữ có thai là trường hợp
người phạm tội xâm phạm trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm,
danh dự, và các quyền khác của người phụ nữ đang có thai”. Theo chính sách
hình sự hiện nay, phụ nữ có thai là đối tượng được ưu tiên đặc biệt khi họ là
nạn nhân vì khả năng tự vệ của họ rất hạn chế cần được sự bảo vệ khi bị xâm
hại. Phạm tội đối với người phụ nữ có thai không phải là tình tiết thuộc ý chí
chủ quan của người phạm tội nên không yêu cầu người phạm tội phải biết
người mà mình xâm hại đang có thai.
Qua đây ta cũng phân biệt được hai trường hợp phạm tội đối với phụ
nữ “mà biết là có thai” với trường hợp “phạm tội với phụ nữ có thai”.
“Phạm tội với phụ nữ mà biết là có thai” (Ví dụ: điểm b khoản 1 Điều 93) là
trường hợp nạn nhân là người đang mang thai và bản thân người phạm tội
cũng biết điều đó. Còn “phạm tội đối với phụ nữ có thai” chỉ cần xác định
người phụ nữ bị xâm hại đang có thai thì người có hành vi xâm hại phải chịu
TNHS về tình tiết tăng nặng này dù họ có biết hay không. Như vậy khi áp
dụng tình tiết “phạm tội đối với phụ nữ có thai” cần chú ý: Người phụ nữ
Như vậy thông qua tình huống đưa ra và cách giải quyết cụ thể ở phần
trên chúng ta có thể rút ra những kết luận sau:
1. Hành vi của A, B và C phạm vào tội hiếp dâm (Điều 111 – BLHS).
2. A, B, C không thể là đồng phạm trong vụ án hiếp dâm nêu trên, nhưng
trường hợp của B và C được coi là đồng phạm không có thông mưu
trước.
3. Việc phạm tội trong tình trạng say do dùng rượu của A, B, C không
được coi là tình tiết tăng nặng hay giảm nhẹ TNHS
4. A, B, C có thể phải chịu TNHS về tình tiết tăng nặng “phạm tội đối với
phụ nữ có thai” được quy định tại điểm h khoản 1 điều 48 BLHS.
THỰC HIỆN: NHÓM 2 – TL4 – LỚP N01 – KHÓA 35
9
BÀI TẬP NHÓM THÁNG 1 MÔN LUẬT HÌNH SỰ MODULE 2
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Luật hình sự Việt Nam tập 1, Trường Đại học Luật Hà Nội,
Nxb CAND, Hà Nội, 2009.
2. Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi và bổ sung năm 2009.
3. Phạm tội đối với phụ nữ có thai trong luật hình sự Việt Nam, Phạm
Văn Báu, Tạp chí luật học số 12/2006.
4. Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi và bổ sung năm 2009.
5. “Về các tội phạm tình dục trong luật hình sự Việt Nam” - Dương Tuyết
Miên, Tạp chí luật học số 6 /1998.
6. “Một số điểm mới trong chương các tội xâm phạm tính mạng, sức
khỏe,nhân phẩm, danh dự của con người trong BLHS năm 1999” - Lê
Đăng Doanh, Tạp chí luật học, số 4/2000.