Giao thức Internet - Pdf 33

TổNG QUAN Về Đề TàI
Cùng với lịch sử phát triển của con người không thể không kể đến lịch sử
phát triển của mạng Internet. Khi các nghành khoa học tự nhiên cũng như xã
hội phát triển với tốc độ rất cao thì yêu cầu thông tin không còn đơn thuần
chỉ là "click and see"(kích và đọc), hay dạo chơi thông thường trên Web
Browser nữa mà phải đáp ứng những nhu cầu cao hơn: chất lượng dịch vụ
cao hơn và có tính kinh tế hơn. Khả năng triển khai các ứng dụng viễn thông
và công nghệ thông tin trên môi trường IP là xu hướng tất yếu thì sự nhìn
nhận để chúng ta cần phải rất rõ ràng theo một định hướng đúng đắn để có
thể nhanh chóng bắt nhịp với sự phát triển của thế giới.Theo dự đoán thì đến
năm 2004, hơn 95% lưu lượng truyền trên các mạng công cộng trên thế giới
sẽ được tạo ra từ các ứng dụng chạy trên IP.
Ngày nay với việc bùng nổ các dịch vụ giá trị gia tăng hứa hẹn một tương
lai phát triển mạnh mẽ cho hệ thống mạng với các dịch vụ thời gian thực,
băng thông rộng như VoIP, MPEG, Video Conferencing hay các dịch vụ
liên quan đến tính kinh tế, bảo mật, chất lượng dịch vụ cao như mạng riêng
ảo(VPN- Virtual Private Network). Nhìn lại hệ thống mạng Internet hoàn
toàn là mạng công cộng, độ an toàn và mức đáp ứng dịch vụ chưa cao.
Nhiều giải pháp nhằm giải quyết các vấn đề trong mạng Internet như
IntServ, DiffServ nhưng chưa giải quyết hoàn chỉnh về khả năng mở rộng,
chất lượng dịch vụ đầu cuối đến đầu cuối, băng thông thấp...
Sự ra đời mạng backbone với Frame Relay, ATM đã nâng cao tốc độ
mạng WAN, giải quyết phần nào về băng thông, chất lượng dịch vụ. Mô
hình mạng backbone phát triển lúc này là "IP over ATM ", tức là sự kết hợp
giữa khả năng định tuyến linh hoạt của IP với sự đảm bảo về tốc độ và chất
lượng dịch vụ của ATM. Nhưng khi một loạt các dịch vụ mới ra đời đòi hỏi
sự linh hoạt, khả năng mở rộng cao, dễ dàng đem lại lợi nhuận đã khiến cho
mô hình đó không còn thoả mãn nữa. Mặc dù ATM Forum đã phát triển mô
hình đa giao thức trên nền ATM ( MPOA- MultiProtocol Over ATM ) đáp
ứng đa dịch vụ nhưng về bản chất vẫn chưa giải quyết triệt để các vấn đề tồn
tại với hệ thống mạng mặt khác còn mang tính độc quyền. Đa giao thức

IS và giao thức định tuyến giữa các AS :BGP. So sánh ưu nhược điểm của
giao thức định tuyến theo vec tơ khoảng cách ( distance vector) và trạng thái
liên kết ( link-state), sự kết hợp hai kiểu giao thức này để tạo ra giao thức
định tuyến kiểu "path vector"-BGP. Phần tiếp theo đề cập tới mảng quan
trọng và cũng là vấn đề được quan tâm nhiều hiện nay là chất lượng dịch vụ
( QoS). Chất lượng dịch vụ kiểu "best-effort" ngày nay không đáp ứng được
các dịch vụ giá trị gia tăng và các ứng dụng dịch vụ thời gian thực đang phát
triển mạnh mẽ. Sự ra đời của các mô hình để đảm bảo cho vấn đề QoS như:
mô hình IntServ ( dựa trên RSVP), DiffServ ( cung cấp các lớp dịch vụ
thông qua việc sử dụng các bits ToS trong phần tiêu đề IP v4) và MPLS
2
( một kỹ thuật mới với nhiều đặc tính nổi bật đảm bảo cho vấn đề QoS và
giải quyết các vấn đề yêu cầu mạng đang trở nên cấp thiết). Các mô hình này
đặc trưng cho sự quản lí gói dữ liệu trên từng hop ( cách đối xử QoS trên
từng router hoặc chuyển mạch ). Nêu ra mô hình kết hợp thiết kế cả IntServ
và DiffServ vào trong mạng như thế nào.
Chương 2: Mạng Internet ngày nay.
Chương này sẽ trình bày một cách chung nhất về các vấn đề trong mạng
IP hiện đại như vấn đề về topology,về giao thức định tuyến, quản lý lưu
lượng và điều khiển luồng.Những vấn đề này trong mạng IP đang phải đối
mặt với không ít vấn đề bất cập như vấn đề tối ưu hoá cấu hình mạng, tăng
tốc độ chuyển mạch, đơn giản hoá việc định tuyến… và đặc biệt là việc giải
quyết mâu thuẫn về hiệu quả kinh tế giữa việc áp dụng công nghệ mới và sự
thừa kế cơ sở hạ tầng sẵn có.Chương này cũng sẽ giới thiệu các giải pháp và
xu hướng mạng trong tương lai theo nhận định của các công ty viễn thông
hàng đầu trên thế giới, qua đó, đưa ra các ứng dụng thế hệ tiếp theo như vấn
đề triển khai các dịch vụ băng rộng, vấn đề tích hợp Voice và Video, mạng
riêng ảo- một giải pháp nâng cao tính bảo mật và tiết kiệm chi phí cho các
mạng doanh nghiệp.
Chương 3: Cơ bản về ATM

NHRP trao đổi với nhau để tìm ra lối ra gần với nơi nhận nhất.
Kiến trúc LANE ( LAN Emulation ) được ATM Forum khuyến nghị và là
một trong những nỗ lực đầu tiên để có thể chạy IP trên ATM .Giải pháp này
nhằm tạo ra các ATM LAN trông giống như một tập các mạng LAN dùng
chung môi trường logic được kết nối với nhau qua các bộ định tuyến . một
mạng LAN dùng chung được giả lập bằng cách thiết lập một nhóm đa truyền
thông ATM ( ATM multicast ) giữa tất cả các node thuộc cùng một mạng
LAN logic. Để dữ liệu được truyền giữa các node, một máy chủ phân giải
địa chỉ được sử dụng để dịch địa chỉ MAC thành địa chỉ ATM và sau đó ,
một kênh ảo điểm nối điểm được thiết lập giữa các node này. Các bất lợi
chính của giải pháp này chính là việc sử dụng các bộ định tuyến để truyền
dữ liệu bên trong cùng một mạng ATM LAN vật lý và các máy chủ chính là
điểm gây sự cố.
Kiến trúc MPOA ( MultiProtocol Over ATM ) là sự mở rộng của LANE.
LANE dùng NHRP để phân giải địa chỉ ATM của lối ra gần với nơi nhận
4
nhất và cung cấp kết nối lớp 3 trực tiếp thông qua một phần tử chuyển mạch
ATM . MPOA hoạt động vừa ở lớp 2,vừa ở lớp 3. Nó cũng bao gồm các
giao thức để tái tạo lại các máy chủ và phân bố cơ sở dữ liệu cho các lý do
dung lượng và tính sẵn có.
Ngoài ra, chương này còn giới thiệu sơ lược về các giải pháp IFMP và
GSMP của hãng Ipsilon. Các công nghệ này nhằm mục đích làm cho IP
nhanh hơn và hỗ trợ chất lượng dịch vụ nhờ việc loại bỏ phần mềm của
ATM có tính kết nối (connection-oriented ) một cách trực tiếp trên đỉnh của
phần cứng ATM . Giải pháp này nhằm tận dụng tính đột biến và khả năng
mở rộng phạm vi của các bộ chuyển mạch ATM . Chuyển mạch IP của
Ipsilon là ứng dụng chuyển mạch IP được điều khiển bằng luồng.
Các giải pháp IP trên ATM nêu trên đều có nhược điểm là khả năng mở
rộng (scalability), khả năng quản lí kém, không tận dụng được sự linh hoạt
của IP và đặc tính QoS của ATM. Nhu cầu xây dựng mạng IP trên ATM như

6
=64 khả năng lớp dịch vụ ). MPLS và
DiffServ đều cùng cách để đạt được tính mở rộng mạng đó là tập hợp lưu
lượng từ ngoài biên ( edge ) và xử lí trong lõi mạng ( core ) làm giảm cơ chế
báo hiệu phức tạp và lưu lượng báo hiệu trong mạng.
Phần tiếp theo đề cập tới kỹ thuật lưu lượng. Traffic engineering trở
thành một công cụ cực kì quan trọng cho các ISP khi họ phải đối mặt với tốc
độ tăng rất nhanh của lưu lượng Internet. Để có thể hiểu traffic engineering
và vai trò của nó trong việc hỗ trợ cho sự phát triển tương lai của Internet,
phần này đây mô tả traffic engineering truyền thống được thực hiện trong
vùng core mà dựa trên cơ sở các router. Sau đó đi sâu hơn vào các kỹ thuật
, lợi ích, và các hạn chế của traffic engineering khi nó thực hiện trong các
mạng overlay là ATM và FR. Và sau khi đã giới thiệu các giải pháp đã triển
khai phổ biến ngaỳ nay, phần này sẽ giới thiệu kết quả mới mà đặc biệt thiết
kế trên môi trường mạng quang vùng core như các giao tiếp DWDM, OC-
48 và OC-192, IP trên SONET, IP over glass, và các router vùng backbone
Internet tạo nên cơ sở hạ tầng của vùng core. Phần cuối cùng mô tả các kỹ
thuật điển hình MPLS và RSVP.
Yêu cầu chủ yếu đối với các ISP là đảm bảo cho khách hàng sự thoải mái
và duy trì sự tăng trưởng của tốc độ cao. Điều này yêu cầu một ISP cung
cấp một số các mạch với các băng thông khác nhau trên một vùng địa lí. Nói
cách khác, ISP phải triển khai một topo vật lí mà đạt được sự cần thiết của
các khách hàng kết nối tới mạng của nó. Sau khi mạng được triển khai, ISP
6
phải ánh xạ các luồng lưu lượng khách hàng lên topo vật lí. Trong đầu
những năm 90, việc ánh xạ các luồng lên topo vật lí không tiến đến con
đường có tính khoa học riêng biệt. Thay vì đó, việc ánh xạ xảy ra như một
sản phẩm của cấu hình định tuyến: các luồng lưu lượng đơn giản theo tính
toán đường ngắn nhất bởi IGP của ISP. Ngày nay, khi các mạng ISP lớn
hơn, các mạch hỗ trợ IP tăng nhanh hơn, và các yêu cầu của các khách hàng

Kiến trúc không gian nhãn VC trong MPLS.
Phát triển mạng.
Ngoài ra các bước thiết kế khác yêu cầu như CoS, MPLS VPNs, kỹ
thuật lưu lượng, và các dịch vụ khác của IP.
Và cuối cùng là mô hình mạng tổng thể.
Công nghệ MPLS là một công nghệ mới, một số khía cạnh còn chưa được
định nghĩa một cách thống nhất và hoàn chỉnh .Trong đồ án này, em cố gắng
đưa ra những thông tin mới nhất và đầy đủ nhất theo tài liệu của các nhà
cung cấp nhưng do giới hạn về mặt thời gian và kiến thức nên phần đồ án
của em mới chỉ dừng lại ở mức độ nhất định, việc trình bày không khỏi còn
mắc phải những thiếu sót, rất mong sự góp ý của các thầy cô giáo và các
bạn.
Hướng phát triển là tiếp tục nghiên cứu tích hợp mạng riêng ảo VPN, xây
dựng đa dịch vụ trên backbone MPLS và phát triển một dạng đa giao thức
chuyển mạch nhãn khác là Multi Protocol Lamda Switching.
8
CHƯƠNG 1. TổNG QUAN Về GIAO THứC INTERNET.
1.1. Mô hình OSI .
Mô hình tham chiếu hệ thống mở OSI (Open System Interconnection
Reference Modul ) là mô hình kiến trúc mạng được phát triển bởi ISO và
ITU-T. Mô hình này bao gồm 7 tầng, mỗi tầng có một chức năng mạng xác
định chẳng hạn đề địa chỉ ( addressing ), điều khiển luồng, điều khiển lỗi,
bọc gói ( encasulation ), và truyền băng thông một cách tin cậy.
Mô hình OSI cung cấp một số chức năng:
 Cung cấp một cách để hiểu các hoạt động internetwork.
 Đáp ứng như một đường lối chỉ đạo hay một framework cho việc thiết kế
và thực hiện các tiêu chuẩn, thiết bị, và các lược đồ internetworking.
Một số thuận lợi của việc sử dụng môt mô hình phân tầng: Cho phép chia
ra các khía cạnh liên quan của hoạt động mạng vào trong các yếu tố
(element) ít phức tạp hơn.

V.28,V.35,V.36…, tương ứng là các chuẩn RS của EIA như RS –232 C,
RS – 422 A, RS – 423 A, RS – 449…
1.1.2. Tầng liên kết dữ liệu ( Data Link Layer ):
Tầng liên kết dữ liệu cung cấp các phương tiện để truyền thông tin qua
lớp liên kết vật lý đảm bảo độ tin cậy thông qua các cơ chế đồng bộ, kiểm
soát lỗi và kiểm soát luồng dữ liệu.
Cũng giống như tầng vật lý, có rất nhiều giao thức được xây dựng cho
tầng liên kết dữ liệu . Các giao thức này lại được chia thành 2 loại: “dị bộ”
( asynchronous ) và “đồng bộ” ( synchronous ), trong đó, loại đồng bộ lại
chia thành 2 nhóm là “hướng ký tự” ( character- oriented ) và hướng bit
( bit-oriented ).
Các giao thức hướng ký tự được dùng cho các ứng dụng “điểm- điểm”
( point to point ) lẫn “điểm- đa điểm”( point to multipoint ). Giaothức loại
này có thể đáp ứng cho các phương thức khai thác đường truyền khác nhau:
10
đơn công ( simplex ), bán song công ( half- duplex ) hay song công ( full-
duplex ).
Đối với phương thức đơn công, giao thức hướng ký tự được dùng rộng rãi
nhất là giao thức truyền tệp Kermit do trường đại học Columbia đề xuất.
Kermit có nhiều phiên bản ho phép truyền tệp giữa hai PC hoặc giữa một PC
và một máy chủ ( file server ) hoặc một máy trạm ( mainframe ).
Đối với phương thức bán song công, giao thức hướng ký tự nổi tiếng nhất
chính là BSC ( Binary Synchronous Control ) của IBM. Giao thức này đã
được ISO lấy làm cơ sở để xây dựng giao thức hướng ký tự chuẩn quốc tế
với tên gọi Basic Mode.
Có rất ít giao thức hướng ký tự được phát triển cho phương thức song
công.Ví dụ điển hình trong số này là giao thức giữa các nút chuyển mạch
trong mạng arpanet nổi tiếng của bộ quốc phòng Mỹ.
Giao thức quan trọng nhất của tầng liên kết dữ liệu là giao thức hướng bit
HDLC ( High- level Data Link Control ) quy định bởi các chuẩn ISO 3309

IP cũng như của MPLS .
Ngoài 2 chức năng quan trọng và đặc trưng nói trên, tầng mạng còn thực
hiện một số chức năng khác mà chúng ta cũng thấy có ở nhiều tầng như thiết
lập, duy trì và giải phóng các liên kết logic ( cho tầng mạng ), kiểm soát lỗi,
kiểm soát luồng dữ liệu, dồn/phân kênh, cắt/hợp dữ liệu …
Công nghệ IP là một công nghệ tiêu biểu và ưu việt nhất của tầng mạng,
cho nên, hiện tại và trong tương lai, các công nghệ ở các lớp khác đều phải
tiến tới cải tiến tới để tối ưu trong sự liên tác với IP và MPLS cũng không
nằm ngoài xu hướng chung đó.
1.1.4. Tầng giao vận ( Transport Layer ):
Trong mô hình OSI, 4 tầng thấp quan tâm đến việc truyền dữ liệu qua các
hệ thống đầu cuối ( end systems ) qua các phương tiện truyền thông còn 3
tầng cao tập trung đáp ứng các yêu cầu và các ứng dụng của người sử dụng.
Tầng giao vận là tầng cao nhất của 4 tầng thấp, nhiệm vụ của nó là cung cấp
dịch vụ truyền dữ liệu sao cho các chi tiết cụ thể của các phương tiện truyền
thông được sử dụng ở bên dưới trở nên “trong suốt” đối với các tầng cao.
Nói cách khác, có thể hình dung tầng giao vận như một “bức màn” che phủ
toàn bộ các hoạt động của các tầng thấp bên dưới nó. Dođó, nhiệm vụ của
tầng giao vận là rất phức tạp. Nó phải được tính đến khả năng thích ứng với
một phạm vi rất rộng các đặc trưng của mạng. Chẳng hạn, một mạng có thể
là “connection-oriented” hay “connectionless”, có thể là đáng tin cậy
( reliable)
hay không đáng tin cậy ( unreliable )…Nó phải biết được yêu cầu về chất
lượng dịch vụ của người sử dụng, đồng thời, cũng phải biết được khả năng
cung cấp dịch vụ của mạng bên dưới. Chất lượng của các loại dịch vụ mạng
tuỳ thuộc vào loại mạng khả dụng cho tầng giao vận và cho người sử dụng.
Các giao thức phổ biến của tầng giao vận là TCP, UDP, SPX…
1.1.5. Tầng phiên ( Session Layer ):
Nhiệm vụ của tầng phiên là cung cấp cho người sử dụng các chức năng
cần thiết để quản trị các “phiên” ứng dụng của họ, cụ thể như sau :

1.1.6. Tầng trình diễn ( Presentation Layer ):
Mục đích của tầng trình diễn làđảm bảo cho các hệ thống đầu cuối có thể
truyền thông có kết quả ngay cả khi chúng sử dụng các cách biểu diễn dữ
liệu khác nhau. Để đạt được điều đó, nó cung cấp một cách biểu diễn chung
để dùng cho truyền thông và cho phép chuyển đổi từ biểu diễn cục bộ sang
biểu diễn chung đó.
Có 3 dạng cú pháp thông tin được trao đổi giữa các thực thể ứng dụng, đó
là: cú pháp dùng bởi thực thể ứng dụng nguồn, cú pháp dùng bởi thực thể
ứng dụng đích, cú pháp được dùng giữa các thực thể tầng trình diễn. Loại cú
pháp sau cùng được gọi là cú pháp truyền ( transfer syntax ). Có thể cả 3
hoặc một cặp nào đó trong các cú pơháp nói trên là giống nhau. Tầng trình
13
diễn đảm nhiệm việc chuyển đổi biểu diễn của thông tin giữa cú pháp truyền
và mỗi một cú pháp kia khi có yêu cầu, tức là mỗi thực thể tầng trình diễn
phải chịu trách nhiệm chuyển đổi giữa cú pháp của người sử dụng và cú
pháp truyền .
Trước khi đi qua ranh giới giữa hai tầng trình diễn và phiên có một sự
thay đổi quan trọng trong cách nhìn dữ liệu. Đối với tầng phiên trở xuống,
tham số User Data trong các Service Primitives được đặc tả dưới dạng giá trị
nhị phân ( chuỗi các bít ). Giá trị này có thể được đưa vào trực tiếp trong các
SDU ( Service Data Unit ) để chuyển giữa các tầng ( trong một hệ thống ) và
trong các PDU ( Protocol Data Unit ) để chuyển giữa các tầng đồng mức
giữa hai hệ thống kết nối với nhau. Tuy nhiên, tầng ứng dụng (Presentation
Layer) lại liên quan chặt chẽ với cách nhìn dữ liệu của người sử dụng. Nói
chung, cách nhìn đó là một tập thông tin có cấu trúc nào đó, như là văn bản (
text ) trong một tài liệu, một tệp về nhân sự,một cơ sử dữ liệu tích hợp hoặc
một hiển thị của thông tin ( videotext ).Người sử dụng chỉ quan tâm đến ngữ
nghĩa ( semantic ) của dữ liệu. Do đó, tầng trình diễn ở giữa có nhiệm vụ
phải cung cấp phương thức biểu diễn dữ liệu và chuyển đổi thành cacs giá trị
nhị phân dùng cho các tầng dưới, nghĩa là tất cả những gì liên quan đến cú

dụng chỉ chủ yếu giải quyết các vấn đề ngữ nghĩa chứ không giải quyết các
vấn đề cú pháp như tầng trình diễn .
Đã có nhiều công trình xoay quanh việc chuẩn hoá tầng ứng dụng. Người
ta chia nó thành các tầng con ( Sublayer ) và việc truyền thông phải đi qua
tất cả các tầng con đó. Cụ thể, đó là các phần tử dịch vụ ứng dụng chung
CASE ( Common Application Service Element ) chứa các dịch vụ truyền
thông cần thiết khác nhau cho các ứng dụng phổ biến nhất. Nhưng thực tế có
những ứng dụng không cần đến các chức năng của CASE. Mặt khác, các
ứng dụng được chuẩn hoá đồng thời và thường các kết quả được phát triển
đó là không hoàn toàn tương thích với nhau.
Năm 1987, một hướng phát triển mới được đưa vào nhằm chuẩn hoá cấu
trúc tầng ứng dụng, kếtquả là các chuẩn ISO 9545, và tương ứng- CCITT
X.207 được ra đời. Cấu trúc chuẩn này xác định các ứng dụng có thể cùng
tồn tại và sử dụng dịch vụ chung như thế nào.
1.2. Bộ giao thức TCP/IP :
Bộ giao thức TCP/IP là họ giao thức quan trọng nhất trong kỹ thuật
mạng máy tính, vì vậy, trước khi đi sâu vào nghiên cứu bất cứ một lĩnh vực
nào của công nghệ mạng, phải có một kiến thức cơ bản về TCP/IP.
Kiến trúc TCP/IP thường được coi là kiến trúc Internet bởi vì TCP/IP và
Internet có mối quan hệ mật thiết với nhau, lịch sử hình thành và phát triển
của TCP/IP gắn liền với sự hình thành và phát triển của Internet. TCP/IP
được hình thành cùng với sự hình thành mạng ARPANET của bộ quốc
phòng Mỹ- đây chính là tiền thân của mạng Internet ngày nay.TCP/IP là một
họ giao thức cùng làm việc với nhau để cung cấp phương tiện truyền thông
qua mạng và liên mạng.
Khái niệm giao thức (Protocol) là một khái niệm cơ bản của mạng
truyền thông. Có thể hiểu một cách khái quát đó là tập hợp tất cả các quy tắc
cần thiết (các thủ tục, các khuôn dạng dữ liệu, các cơ chế phụ trợ....) cho
15
phép các giao thức trao đổi thông tin trên mạng được thực hiện một cách

Transport
Network
Data link
Physical
Telnet
FTP
SMTP
DNS
SNMP
Transmision Control
Protocol (TCP)
UserDatagram
Protocol (UDP)
RIP
ICMP
Internet Protocol (IP)
ARP
Ethernet
Tokenbus
Token Ring FDDI
IEEE802.3 IEEE802.4 EEE802.5 ANSI X3 T95
Trong đó :
TCP: (Transmistion Control Protocol) Thủ tục liên lạc ở tầng giao vận
của TCP/IP. TCP có nhiệm vụ đảm bảo liên lạc thông suốt và tính đúng đắn
của dữ liệu giữa 2 đầu của kết nối, dựa trên các gói tin IP.
UDP: (User Datagram Protocol) Thủ tục liên kết ở tầng giao vận của
TCP/IP. Khác với TCP, UDP không đảm bảo khả năng thông suốt của dữ
liệu, cũng không có chế độ sửa lỗi. Bù lại, UDP cho tốc độ truyền dữ liệu
cao hơn TCP.
IP: (Internet Protocol) Là giao thức ở tầng thứ 3 của TCP/IP, nó có

RPI - - Routing Information Protocol
SMTP: (Simple Mail Transfer Protocol) Giao thức truyền thư đơn
giản: là một giao thức trực tiếp bảo đảm truyền thư điện tử giữa các máy tính
trên mạng Internet.
SNMP: (Simple Network Management Protocol) Giao thức quản trị
mạng đơn giản: là dịch vụ quản trị mạng để gửi các thông báo trạng thái về
mạng và các thiết bị kết nối mạng.
1.3. Địa chỉ IP :
Mục đích chính của IP là cung cấp khả năng kết nối các mạng con thành
liên mạng để truyền dữ liệu. Vai trò của IP tương tự vai trò của giao thức
tầng mạng trong mô hình OSI. Mặc dù từ Internet xuất hiện trong IP nhưng
giao thức này không nhất thiết phải sử dụng trên Internet. Tất cả các máy
trạm trên Internet đều hiểu IP, nhưng IP có thể sử dụng trong các mạng mà
không có sự liện hệ với Internet.
IP là giao thức kiểu không kết nối (Connectionless) tức là không cần có
giai đoạn thiết lập liên kết trước khi truyền dữ liệu. Đơn vị dữ liệu dùng
trong giao thức IP là IP Datagram hay gọi tắt là Datagram.
Một Datagram được chia làm hai phần : Phần tiêu đề (Header) và phần
chứa dữ liệu cần truyền (Data). Trong đó phần Header gồm một số trường
chứa các thông tin điều khiển Datagram.
1.3.1.Cấu trúc của IP Datagram :
Cấu trúc tổng quát của một IP Datagram như sau:
DATAGAM HEADER DATAGRAM DATA AREA
Cấu trúc chi tiết của một IP Datagram Header được mô tả như hình sau:
Version IHL Type of
service
Total length
Identification Flags Fragment
offset
Time to live Protocol Header checksum


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status