NGHIÊN cứu PHÁT TRIỂN các GIỐNG lợn bản địa CHO hệ THỐNG CHĂN NUÔI TRONG các TRANG TRẠI kết hợp ở VÙNG TRUNG DU và đồi núi NHẰM sản XUẤT THỊT lợn CHẤT LƯỢNG CAO và AN TOÀN PHỤC vụ THỊ TRƯỜNG TIÊU DÙNG TRÊN địa bàn TỈNH QUẢNG NG - Pdf 33

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI

ĐẠI HỌC HUẾ

SỞ KHOA HỌC – CÔNG NGHỆ TRƯỜNG

ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ

Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN CÁC GIỐNG LỢN BẢN ĐỊA CHO HỆ
THỐNG CHĂN NUÔI TRONG CÁC TRANG TRẠI KẾT HỢP Ở VÙNG
TRUNG DU VÀ ĐỒI NÚI NHẰM SẢN XUẤT THỊT LỢN CHẤT LƯỢNG
CAO VÀ AN TOÀN PHỤC VỤ THỊ TRƯỜNG TIÊU DÙNG TRÊN ĐỊA
BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI

Chủ nhiệm đề tài: TS. Hồ Trung Thông

Huế, 2010


Lời cảm ơn
Để đề tài nghiên cứu này được thực hiện, chúng tôi đã nhận được sự hỗ trợ tài chính
và tạo điều kiện của Trung tâm khuyến nông tỉnh, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn, Sở Khoa học – Công nghệ và Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi. Chúng tôi xin
được bày tỏ sâu sắc lòng biết ơn chân thành. Đồng thời, lời cảm ơn chân thành được
gửi đến cán bộ chuyên môn, cán bộ lãnh đạo và người dân địa phương ở các vùng
khác nhau trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi – những người đã nhiệt tình hợp tác, giúp đỡ
và đặc biệt đã cung cấp những thông tin quý giá phục vụ cho đề tài.

các kỹ thuật sinh học phân tử hiện đại để nghiên cứu, đánh giá chất lượng thịt và đa
hình gen của lợn bản địa được nuôi trong điều kiện trang trại kết hợp ở vùng đồi núi
tỉnh Quảng Ngãi.
3. Kết quả chính đạt được:
- Kết quả điều tra cho thấy ưu điểm của lợn bản địa là khả năng thích nghi cao với
môi trường, tính chống chịu bệnh tốt, chất lượng thịt thơm ngon, gắn liền với nghi lễ
và tập quán văn hóa của người dân, ... Tuy nhiên, số lượng lợn Kiềng Sắt hiện còn rất
ít và phân bố rải rác ở những vùng xa xôi, hẻo lánh, tập trung chủ yếu ở một số xã
thuộc 2 huyện Ba Tơ và Sơn Tây.
- Kết quả nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh sản cho thấy lợn nái Kiềng Sắt động dục
lần đầu ở giai đoạn 5 tháng tuổi. Khi động dục, lợn nái thường biểu hiện không rõ ràng
và yên tĩnh hơn so với một số giống lợn khác. Mỗi năm lợn nái Kiềng Sắt đẻ 1,96 lứa.
Số con sơ sinh trên lứa tăng dần từ lứa 1 dến lứa 3. Tỉ lệ số con cai sữa dao động từ
95,63 – 95,86% so với số con sơ sinh.
- Ở giai đoạn 11 tháng tuổi, lợn Kiềng Sắt có trọng lượng trung bình 29,42 kg. Tốc
độ tăng trọng trung bình là 105,26 g/con/ngày. Tiêu tốn thức ăn tinh trung bình ở giai
đoạn thí nghiệm là 3,81 kg TĂT/1 kg TT. Đối với con lai giữa lợn nái Kiềng Sắt với
lợn đực rừng, các giá trị này cho kết quả thấp hơn, lần lượt là 25,30 kg/con, 89,32
g/con/ngày và 3,57 kg TĂT/1 kg TT.
- Đối với lợn Kiềng Sắt, tỉ lệ thịt móc hàm và tỉ lệ thịt xẻ lần lượt là 74,16% và
60,28%. Tỉ lệ nạc/thịt xẻ đạt 43,41%. Trên đối tượng lợn lai, tỉ lệ nạc cho kết quả cao
hơn (55,18%). Tuy nhiên, tỉ lệ thịt móc hàm và tỉ lệ thịt xẻ có giá trị thấp hơn, tương
ứng là 66,23% và 52,64%. Khả năng giữ nước của thịt lợn lai sau 24 giờ tương đương
với khả năng giữ nước của thịt lợn Kiềng Sắt (96,11% so với 96,51%). Kết quả nghiên
cứu chất lượng thịt cho thấy phương thức nuôi áp dụng trên lợn Kiềng Sắt và lợn lai
giữa lợn nái Kiềng Sắt với lợn đực rừng cho sản phẩm sạch, an toàn và đáp ứng được
yêu cầu của thị trường. Không có dấu vết của hiện tượng tồn dư tetracylin, furazolidon


và clenbuterol trong các mẫu thịt lợn nghiên cứu. Thịt có mùi thơm, dai, vị rất ngọt và

Có bằng chứng cho thấy hiện nay lợn bản địa vẫn còn được nuôi ở một số xã thuộc
vùng núi trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi (Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi, 2008).
Theo tiếng của người Hre, lợn bản địa có tên gọi là lợn Kiềng Sắt. Lợn Kiềng Sắt có
đặc điểm ngoại hình cơ bản là lông đen tuyền toàn thân, da đen, mặt thẳng, mõm khá
dài, chân thẳng, thân ngắn và thon, tai nhỏ vừa và thẳng vểnh lên trên. Lợn Kiềng Sắt
có khả năng thích nghi cao với điều kiện khí hậu miền núi và tập quán chăn nuôi của
người dân địa phương, có khả năng sử dụng tốt các loại thức ăn thô nghèo dinh dưỡng,
tính chống chịu bệnh tật tốt, … Lợn Kiềng Sắt hiện đang có tầm quan trọng trong cơ
cấu đàn của địa phương, không chỉ có vai trò quan trọng trong kinh tế gia đình mà còn
là vật cúng tế linh thiêng trong những ngày lễ hội của buôn làng.
Tuy vậy, cho đến nay vẫn chưa có các nghiên cứu nhằm đánh giá một cách cơ bản
và toàn diện về lợn Kiềng Sắt. Các nghiên cứu nhằm quản lý và khai thác tiềm năng
của lợn Kiềng Sắt vào việc phát triển đa dạng hệ thống canh tác, phù hợp với sinh thái
và trình độ sản xuất của từng vùng cũng chưa được thực hiện. Từ những lý do nêu
trên, đề tài “Nghiên cứu phát triển các giống lợn bản địa cho hệ thống chăn nuôi
trong các trang trại kết hợp ở vùng trung du và đồi núi nhằm sản xuất thịt lợn chất
lượng cao và an toàn phục vụ thị trường tiêu dùng trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi’’
đã được thực hiện.
1.2. Mục tiêu đề tài
1.2.1. Mục tiêu chung
Nghiên cứu, bảo tồn và nhân rộng giống lợn Kiềng Sắt trên địa bàn tỉnh Quảng
Ngãi nhằm duy trì sự đa dạng sinh học vật nuôi, đồng thời tăng cường sử dụng tiềm
năng của địa phương để phát triển các hệ thống chăn nuôi lợn phù hợp với các điều
kiện tự nhiên, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng khác nhau, góp phần tạo sinh kế bền
vững cho người dân vùng đồi núi, tạo sản phẩm sạch, an toàn, có chất lượng cao phù
hợp với nhu cầu tiêu dùng ngày càng gia tăng của xã hội.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Nắm được thực trạng (đặc điểm ngoại hình, năng suất và chất lượng thịt) của lợn
bản địa (lợn Kiềng Sắt) hiện đang còn được sử dụng trong chăn nuôi trên địa bàn tỉnh


duy trì sự phồn thịnh của sự sống trên trái đất. Theo Mackenzie và cs (2003), đa dạng
sinh học là tính đa dạng giữa các sinh vật sống từ mọi nguồn, trong đó bao gồm các hệ
sinh thái trên cạn, biển và các hệ sinh thái dưới nước khác cùng với các phức hệ sinh
thái khác trong đó các sinh vật sống chỉ là một thành phần.
Theo Richard (1999) đa dạng sinh học là sự phồn thịnh của sự sống, bao gồm toàn
bộ sinh vật sống trên trái đất, có thể nhìn nhận đa dạng sinh học ở ba cấp độ khác
nhau, bao gồm: đa dạng loài, đa dạng gen và đa dạng hệ sinh thái. Đa dạng loài là đa
dạng ở mức độ loài, là sự phong phú của các loài. Ở cấp độ này, đa dạng sinh học bao
gồm toàn bộ các sinh vật sống trên trái đất từ vi khuẩn, nấm đến các loài động, thực
vật sống trong một vùng nhất định. Đa dạng di truyền hay đa dạng gen là đa dạng ở
mức độ trong loài, bao gồm sự đa dạng phong phú của các gen trong quần thể. Đa
dạng gen thể hiện sự phong phú ở mức độ gen, là tập hợp những biến đổi của các gen
và các kiểu genotype trong nội bộ của một loài, giữa các loài, cũng như sự khác biệt
giữa cá thể cùng chung sống trong một quần thể. Đây là sự đa dạng quan trọng nhất,
nó là chìa khóa của một loài có thể tồn tại lâu dài trong tự nhiên, vì nó có khả năng
thích nghi với những thay đổi bất lợi của thời tiết, khí hậu, môi trường (Lê Trọng Cúc,
2002). Ngoài ra, đa dạng sinh học còn bao gồm sự phong phú về các hệ sinh thái gọi là
đa dạng hệ sinh thái. Đa dạng về hệ sinh thái là một cộng đồng gồm các loài sinh vật
sống trong cùng một điều kiện nhất định, nó thể hiện ở sự khác nhau giữa các kiểu
quần xã sinh vật tạo nên do các cơ thể sống và mối quan hệ giữa chúng với nhau và
với các điều kiện sống (đất, nước, khí hậu, địa hình) (Nguyễn Nghĩa Thìn, 2005). Ba
cấp độ này có mối quan hệ tương hỗ, nhưng mỗi cấp độ đều đủ độc lập để nghiên cứu
như ba phần riêng biệt. Ngoài mối quan hệ tương hỗ giữa ba cấp độ đó, trong đa dạng
sinh học còn có tác động tương hỗ giữa các sinh vật với các nhân tố môi trường. Các
nhân tố trong đa dạng sinh học liên kết với nhau để tồn tại, tạo ra một thế cân bằng
nhất định.
2.1.2. Giá trị của đa dạng sinh học
Vai trò của đa dạng sinh học đối với con người chúng ta khó có thể đánh giá hết
được, bởi vì con người đang sống trong một môi trường luôn có sự biến động. Ngoài
những giá trị có thể nhìn thấy của đa dạng sinh học, còn có những giá trị vô cùng to

côn trùng truyền phấn, trong đó có 15% là ong nhà, còn lại là côn trùng hoang dại.
Ong, bướm, chim, dơi, các loài động vật có vú và các côn trùng khác đã thụ phấn cho
hơn 70% cây trồng trên thế giới và 90% thực vật có hoa. Hiện nay trong công tác bảo
vệ thực vật, nhiều quy trình đã được các nhà khoa học khuyến khích áp dụng như quy
trình quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), là một hệ thống quản lý dịch hại mà trong
khung cảnh cụ thể của môi trường và những biến động quần thể của các loài gây hại,
sử dụng tất cả các kỹ thuật và biện pháp thích hợp có thể được, nhằm duy trì mật độ
của các loài gây hại ở dưới mức gây ra những thiệt hại kinh tế. Việc sử dụng các sinh
vật ký sinh và thiên địch trong các hệ sinh thái trên thế giới đã làm giảm khoảng 5 – 10
lần lượng thuốc bảo vệ thực vật sử dụng, nếu không có các loài này mà chỉ sử dụng
thuốc bảo vệ thực vật để bảo vệ mùa màng sẽ là thảm họa đối với môi trường. Trong
nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản đang còn phụ thuộc rất nhiều đến các loài hoang
dã, họ hằng của các loài đã thuần hoá. Chúng cung cấp các nguyên liệu di truyền có
khả năng kháng bệnh, nâng cao năng suất, cải thiện sự thích nghi đến các điều kiện
môi trường, ...
2.1.3. Đa dạng động vật ở Việt Nam
Ở những vùng nhiệt đới nói chung và Việt Nam nói riêng, với khí hậu nóng ẩm,
mưa nhiều và rất đa dạng về sinh thái, địa hình. Hệ thống động thực vật học ở đây
cũng vô cùng phong phú và thường có chuỗi thức ăn phức tạp. Theo Nguyễn Thị Ngọc
Ẩn (2004), ở Việt Nam đã phát hiện được 15.575 loài động vật, trong đó có 1.009 loài
chim, 265 loài thú, 349 loài bò sát lưỡng cư, 2.000 loài cá biển, hơn 500 loài cá nước
ngọt và hằng ngàn loài nhuyễn thể, thuỷ sinh vật khác. Trong các loài động vật đã phát
hiện có tới 172 loài đặc hữu với 14 loài thú. Giới động vật Việt Nam có nhiều loài đặc
hữu bao gồm hơn 100 loài và phân loài chim, khoảng 80 loài và phân loài thú; trong
đó có rất nhiều loài đặc trưng nhiệt đới có giá trị bảo tồn như: Cheo (Tragulus), Chồn
bay (Cynocephalus), Cầy mực (Arctictis), Culi (Nycticebus), Heo vòi (Tapirus), Bò
xám (Pseudibis davisoni), Ngan cánh trắng (Cairina scululata), ... Kết quả nghiên cứu
của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới cho thấy Việt Nam là một nước giàu về



TT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11

Giống
Lợn


Trâu
Cừu
Thỏ
Ngựa

Vịt
Ngan
Ngỗng
Tổng

Trong đó

Tổng số

1
1
2
1
11
5
4
3
53

(Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2005; tdt Nguyễn Huy Dũng và Vũ Văn
Dũng, 2007)


Qua bảng 1 ta thấy ở Việt Nam, số lượng các giống vật nuôi bản địa và nhập ngoại
là tương đương nhau, chứng tỏ việc nhập ngoại các giống vật nuôi đã làm thay đổi cấu
trúc của tập đoàn giống. Việc nhập ngoại các giống vật nuôi đã nâng cao năng suất vật
nuôi, nhưng nó cũng làm nghèo đi sự đa dạng của các giống vật nuôi bản địa, do quá
trình loại thải những động vật nuôi năng suất thấp. Về thuỷ sản, các loài cá nuôi có
nguồn gốc từ nước ngoài được nhập và thuần dưỡng ở Việt Nam khoảng 50 loài.
Trong đó có 35 loài cá cảnh còn lại là các loài cá nuôi lấy thịt.
2.2. Giống bản địa
2.2.1. Khái niệm
Trải qua hằng nghìn năm, dưới sự tác động của chọn lọc tự nhiên và chọn lọc nhân
tạo đã hình thành nên những giống vật nuôi mang bản sắc riêng của từng quốc gia, của
từng vùng, từng miền. Chúng có những đặc điểm quý, đó là khả năng sử dụng tốt các
loại thức ăn thô, khả năng thích nghi cao, khả năng chống chịu bệnh tốt, thịt thơm
ngon, ... Tuy nhiên có những giống có năng suất rất cao nhưng khi gặp điều kiện khí
hậu, dinh dưỡng khác với nơi nó được sinh ra lại tỏ ra kém thích nghi, năng suất thấp
hơn mức trung bình của giống và dễ bị nhiễm bệnh. Chính điều này đã giải thích quá

lợn Móng Cái, lợn Thuộc Nhiêu, lợn Hung (Hà Giang), lợn Vân Pa (Quảng Trị), lợn
Mường Khương (Lào Cai), lợn Táp Ná (Cao Bằng), lợn Lửng Phú Thọ, lợn đen


Mường Lay (Điện Biên), … Các giống lợn bản địa chủ yếu được bà con các dân tộc
miền núi khắp các vùng từ Móng Cái (Quảng Ninh) qua dãy Trường Sơn đến Bình
Phước lưu giữ và chăn nuôi ở quy mô nhỏ với phương thức thả rông. Các giống lợn
bản địa ở nước ta có sự phân bố đa dạng và những đặc điểm ngoại hình rất riêng, đặc
trưng cho từng giống và từng vùng khác nhau.
Lợn Lửng: Là giống lợn của một số thôn bản của các xã vùng sâu, vùng xa như
Xuân Sơn, Vĩnh Tiền, Yên Sơn, Đông Cửu (Phú Thọ). Chúng có một số đặc điểm như
tầm vóc nhỏ, toàn thân đen tuyền, trán nhô, mặt phẳng, mõm dài, tai chuột, chân nhỏ.
Thịt lợn Lửng thơm và ngon như thịt lợn rừng.
Lợn đen Mường Lay (Điện Biên): Đây là giống lợn đen phàm ăn, phát triển mạnh,
thích nghi tốt với điều kiện khắc nghiệt, khả năng chống chịu bệnh cao. Lợn đen
Mường Lay có khả năng sinh sản tốt, mỗi lứa đẻ trung bình 12-15 con, thậm chí tới 20
con/lứa. Nuôi lợn đen Mường Lay ít tốn thức ăn nhưng chúng vẫn lớn đều, thịt săn
chắc, thơm và ngọt. Do đó thịt của chúng được coi là thực phẩm sạch và được nhiều
người ưa chuộng (Trịnh Phú Ngọc, 2009).
Lợn Mường Khương: Là giống lợn địa phương có từ lâu đời, gắn liền với đời sống
người H’Mông và được nuôi nhiều nhất ở huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai. Lợn
có màu lông đen tuyền hoặc đen có đốm trắng ở đầu đuôi và ở chân, lông thưa và
mềm. Đa số lợn có tầm vóc to cao, bốn chân khỏe, lưng ít võng, mõm thẳng và dài. Ở
các lứa tuổi khác nhau, tỉ lệ thịt và mỡ của lợn cũng khác nhau. Đặc điểm nổi bật của
giống lợn này là có khả năng chống chịu tốt với các điều kiện chăn thả ở các vùng núi
cao. Có thể sử dụng các ưu điểm này để lai tạo nhằm nâng cao tầm vóc của lợn địa
phương có trọng lượng nhỏ.
Lợn Ỉ: Có nguồn gốc ở miền Bắc Nam Định, hiện giống lợn này đang ở trong tình
trạng nguy kịch và chỉ còn sót lại ở một số xã của tỉnh Thanh Hoá. Qua một thời gian
dài, giống lợn Ỉ mỡ đã tạp giao với các nhóm giống lợn khác và trở thành giống lợn Ỉ

nhanh nhẹn. Ưu điểm của lợn Sóc là có khả năng tự kiếm thức ăn trên các loại địa hình
khác nhau, khả năng làm tổ, đẻ con và nuôi con nơi hoang dã không cần sự can thiệp
của con người. Thích nghi tốt với điều kiện tự nhiên ở Cao Nguyên với độ cao > 500m
so với mặt biển, khả năng chống chịu bệnh tật cao, nhanh nhẹn, sống thả, ít phụ thuộc
vào sự cung cấp của con người.
Lợn Mẹo (Lợn Mèo Nghệ An): Lợn Mẹo được nuôi trong điều kiện thả rông quanh
năm, ít được sự chăm sóc của con người, chủ yếu ở vùng núi tỉnh Nghệ An, tập trung
nhiều ở hai huyện Kỳ Sơn và Tương Dương. Sau các cuộc điều tra giống những năm
60 lợn Mẹo được phổ biến dần xuống các huyện đồng bằng Nghệ An (Anh Sơn, Đô
Lương, Nam Đàn) và con đực được lai với các giống địa phương để nuôi kinh tế. Tầm
vóc to, thể hình cứng cáp, bốn chân đứng thẳng, khả năng chống chịu bệnh tốt – đó là
những đặc điểm nổi bật của giống lợn này. Đây là những đặc điểm rất hiếm thấy ở các
giống lợn bản địa ở nước ta.
Lợn Lang Hồng: Được nuôi nhiều ở vùng đồng bằng và thung lũng hạ lưu sông
Cầu, sông Thương và sông Lục Nam. Lợn Lang Hồng có ngoại hình tương đối giống
lợn Móng Cái. Giống lợn này vốn là loại lợn hướng mỡ nên càng béo càng di chuyển
khó khăn, chân đi cả bàn, vú quét đất. Đây là giống lợn thành thục về tính sớm, chịu
đựng kham khổ và có khả năng sinh sản tốt.
Lợn Thuộc Nhiêu: Lợn Thuộc Nhiêu một thời là giống lợn nổi tiếng ở vùng Tiền
Giang, Long An và vùng phụ cận thành phố Hồ Chí Minh. Lợn Thuộc Nhiêu là giống
lợn lai giữa lợn ngoại với lợn nội được hình thành từ hằng trăm năm trước đây và được
phát triển trong sản xuất ở nhiều vùng. Hiện giống lợn này được phát triển rộng rãi các
tỉnh Tiền Giang, Vĩnh Long, Long An, Đồng Nai, Bình Thuận, Cần Thơ, Sóc Trăng, ...
Đa số lợn có tầm vóc khá, có thể chất thanh sổi, thân hình vuông, thấp, lưng hơi oằn,
mông vai nở, chân thấp, yếu, đi ngón, móng xoè, đuôi ngắn. Với việc gia tăng máu
ngoại thông qua lai với lợn Yorkshire đực, lợn Thuộc Nhiêu ngày càng có ngoại hình
và đặc điểm của lợn Yorkshire. Tuy nhiên do tính chất của giống lai và phương thức
nuôi nên lợn Thuộc Nhiêu có nhiều mỡ hơn.
Lợn Ba Xuyên: Lợn Ba Xuyên tập trung nhiều ở tỉnh Sóc Trăng. Hiện nay, giống
lợn này phân bố rải rác ở các tỉnh Vĩnh Long, Cần Thơ, Tiền Giang, Kiên Giang, An

Sự suy giảm các giống vật nuôi bản địa nói chung và các giống lợn nói riêng có thể
do các nguyên nhân sau:
- Việc du nhập nguyên liệu di truyền mới
Phân tích sự biến động của cơ cấu giống vật nuôi trong những năm gần đây cho
thấy việc du nhập các giống ngoại có năng suất cao và giống lai tạo vẫn là nguyên
nhân lớn nhất gây nên sự suy giảm nguồn gen các giống bản địa. Trong vòng 10 năm
qua, nhiều giống lợn ngoại đã được nhập vào nước ta như lợn Landrace, lợn
Yorkshire, lợn Duroc, lợn Hampshire, ... Các giống này được sử dụng cho mục đích
chủ yếu là lai tạo với lợn Móng Cái của địa phương để tạo con lai F1 sản xuất thịt. Các
giống nhập nội và giống lai tạo với đặc tính ưu việt là năng suất cao, thời gian nuôi
ngắn đã hấp dẫn người chăn nuôi. Điều này dẫn đến các giống bản địa với năng suất
thấp bị đào thải dần trong sản xuất. Ngoài ra, việc nhập nội các giống vật nuôi đã làm
cho nhiều quần thể giống bản địa khó tìm thấy ở dạng thuần chủng do việc “tự lai tạo”
tràn lan ở các vùng nông thôn đã không được kiểm soát (Lê Viết Ly và cs, 2003).
- Mặt trái của các chính sách nông nghiệp, nhu cầu thị trường thay đổi và sự suy
giảm hệ thống kinh tế
Đây là tập hợp các nguyên nhân đan xen vào nhau tạo nên tiền đề cho việc du nhập
các giống mới và lai tạo. Ở Việt Nam, những chính sách không hợp lý đã gây nên sự
lao đao cho nhiều giống địa phương. Lợn Móng Cái đã từng là “nạn nhân điển hình”
của các loại chính sách đó. Vào năm 1995, số lượng lợn Móng Cái giảm nghiêm trọng:
Nông trường Thành Tô (Hải Phòng) – nơi nuôi lợn Móng Cái nổi tiếng một thời đã
phải giảm số lượng đàn xuống mức tối thiểu, còn khoảng 100 con. Nông dân đổ xô
nuôi lợn ngoại có tỉ lệ nạc cao nhằm xuất khẩu với sự trợ giá của Nhà nước. Điều này
khiến cho những giống bản địa với năng suất thấp bị lãng quên trong sản xuất, quỹ gen
động vật nuôi của địa phương ngày một nghèo đi. Nhu cầu thị trường ngày một thay
đổi cũng là nguyên nhân làm cho các giống bản địa ít được quan tâm và đầu tư chăn
nuôi. Ngoài ra, sự mở rộng đất canh tác và đất thổ cư cũng đã thu hẹp phạm vi sinh
sống của động vật nói chung và giống bản địa nói riêng (Lê Viết Ly và cs, 1999).
- Sự khắc nghiệt của tự nhiên và vấn đề ô nhiễm môi trường
Trong những thập kỷ gần đây, đặc biệt những năm cuối thế kỷ 20, con người luôn

càng được nâng cao dẫn đến nhu cầu tiêu dùng của các loại thực phẩm có chất lượng
cao ngày càng được gia tăng, đặc biệt là các loại thực phẩm được chế biến từ các
giống lợn bản địa. Ưu điểm của các giống lợn này là thịt thơm ngon, có hương vị đặc
trưng và khả năng chống chịu bệnh tật tốt. Hiện nay ngành chăn nuôi lợn đã nhập
nhiều giống mới như lợn Landrace, lợn Yorkshire, lợn Duroc, … và đã đáp ứng phần
lớn nhu cầu cho con người. Những giống lợn nhập cho năng suất cao và thời gian nuôi
ngắn nhưng chất lượng lại kém hơn so với giống lợn bản địa. Mặt khác, từ tháng
8/2008 đến nay, dịch bệnh thường xuyên xảy ra dẫn đến số lượng đàn giống nhập nội
giảm mạnh, nhiều hộ chăn nuôi bị thua lỗ, hiệu quả sản xuất thấp (Nguyễn Anh Tuấn,
2008). Với những nguyên nhân đó các giống lợn bản địa đang được đầu tư phát triển
do chúng có thể đáp ứng được các yêu cầu khắt khe của người tiêu dùng và người chăn
nuôi.
- Đóng góp vào quỹ gen động vật Việt Nam
Các giống lợn bản địa thường có tầm vóc nhỏ nhưng mang những đặc điểm di
truyền quý giá. Đó là khả năng sử dụng các loại thức ăn thô nghèo dinh dưỡng, khả
năng chống chịu các bệnh nhiệt đới nhất là bệnh ký sinh trùng. Một số giống có khả
năng đẻ nhiều con, phẩm chất thịt tốt, thơm, ngon phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng
(Trần Thanh Vân và Đinh Thu Hà, 2005). Một số khác thích nghi với các vùng núi cao
và nhiệt độ tương đối thấp như lợn Mường Khương và một số quen chịu với môi
trường ẩm ướt như lợn Ỉ, … Đó là các tính trạng có ý nghĩa quan trọng trong khoa học
chăn nuôi lợn ở Việt Nam. Nếu không có các biện pháp bảo tồn các vốn gen quý đó,
một lúc nào đó các giống lợn bản địa sẽ bị mai một dần hoặc mất đi. Chính vì vậy,


nghiên cứu về các giống lợn bản địa sẽ góp phần bảo tồn nguồn gen, tăng cường tính
đa dạng sinh học vật nuôi không chỉ riêng Việt Nam mà của cả Thế giới.
- Dùng làm nái nền trong các công thức lai
Một số giống lợn bản địa ở nước ta vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phục vụ đời
sống, công nghiệp chế biến, xuất khẩu cũng như yêu cầu công nghiệp hoá của ngành
chăn nuôi. Trong những năm qua, chúng ta đã nhập nội một số giống lợn ngoại nhằm

(Nguyễn Văn Thiện, 2007).
2.2.5.1. Các giải pháp chung
- Phải đảm bảo sự tồn tại về giống, đặc biệt là các giống bản địa (số lượng, cơ cấu
đực cái, hệ thống giao phối). Các giống bản địa có những tính trạng đặc trưng, đặc
hữu, là nguồn gen quý cho quỹ gen vật nuôi. Bằng phương pháp bảo tồn nguyên vị
(in-situ) chúng ta có thể giữ được bản chất tốt vốn có của các giống bản địa.
- Có chính sách hỗ trợ các giống đang dùng trong sản xuất có nguy cơ giảm nhanh
số lượng. Các giống này thường bị cạnh tranh bởi các giống ngoại hoặc giống lai có
năng suất cao dẫn đến mất dần “địa vị” trong sản xuất như lợn Cỏ, lợn Ỉ. Chúng ta cần
phải vận động những gia đình có khả năng nuôi và có chính sách hỗ trợ thích đáng.


- Xây dựng hệ thống bảo tồn nguyên liệu di truyền như tinh, phôi, DNA, nhiễm sắc
thể hoặc lưu giữ cơ thể sống bằng phương pháp bảo tồn ngoại vi (ex-situ).
- Đưa nội dung bảo tồn vốn gen vật nuôi vào công tác khuyến nông. Xây dựng các
chính sách nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc bảo tồn nguồn gen kết hợp nông
nghiệp theo định hướng sản xuất hằng hoá.
- Nâng cao trình độ dân trí và mối quan tâm của cộng đồng về bảo tồn nguồn gen.
Vấn đề này có thể đưa vào nội dung giảng dạy ở các bậc trung học, đại học; tăng
cường thông tin tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng.
- Tiến hành công tác đào tạo cho cán bộ nghiên cứu, cán bộ làm công tác giống.
Mục đích của đào tạo là nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ nhằm phục vụ cho
việc bảo tồn nguồn giống vật nuôi.
- Mở rộng quan hệ hợp tác trong nước và quốc tế nhằm học tập kinh nghiệm và
phối hợp giúp đỡ trong việc bảo tồn các giống quý hiếm trong khu vực.
- Nhà nước cần tăng cường đầu tư kinh phí, trang thiết bị phục vụ cho công tác bảo
tồn nguồn gen và giống như hệ thống chuồng trại, thiết bị sản xuất tinh, … (Kết quả
nghiên cứu bảo tồn nguồn gen vật nuôi ở Việt Nam, Bộ Khoa học Công nghệ và môi
trường, 1994).
2.2.5.2. Các giải pháp cụ thể bảo tồn các giống lợn bản địa


thành một nghề truyền thống của nhiều quốc gia. Nhiều nước có ngành chăn nuôi lợn
với công nghệ cao và tổng đàn lợn lớn như: Nga, Anh, Pháp, Mỹ, Nhật, Canada,
Singapore, Đài Loan, ... Nhìn chung các nước tiên tiến có ngành chăn nuôi lợn theo
hình thức công nghiệp và đạt trình độ chuyên môn hóa cao. Tuy vậy, đàn lợn trên thế
giới có sự phân bố không đồng đều ở các châu lục. Trong đó, chăn nuôi lợn ở các nước
châu Âu chiếm khoảng 52%, châu Á là 30,4%, châu Úc là 5,8%, châu Phi 3,2% và
8,6% ở châu Mỹ. Giá trị dinh dưỡng cao của thịt lợn là nguồn thực phẩm tốt cho con
người. Ngoài ra, ngành chăn nuôi lợn đã đem lại nhiều lợi nhuận không nhỏ cho nền
kinh tế của các nước này (Nguyễn Quang Linh và cs, 2006).
2.3.2. Tình hình chăn nuôi lợn ở Việt Nam
Ở nước ta, ngành chăn nuôi tương đối phát triển, đặc biệt là chăn nuôi lợn. Số
lượng đàn lợn liên tục tăng qua các năm, từ 21,8 triệu con năm 2001 lên 26,9 triệu con
năm 2006, tăng trưởng bình quân 4,29%/năm. Năm 2006, đồng bằng Sông Hồng có
7,2 triệu con tăng trưởng bình quân 3,9%/năm, tương ứng các vùng: đồng bằng Sông
Cửu Long 4,00 triệu con, tăng 6,21%/năm, Tây Nguyên 1,4 triệu con, tăng
4,25%/năm, Đông Nam Bộ 2,8 triệu con, tăng 8,79%/năm, Đông Bắc 4,5 triệu con,
tăng 3,06%/năm, Bắc Trung Bộ 3,8 triệu con, tăng 2,57%/năm, Nam Trung Bộ 2,05
triệu con, tăng 1,32%/năm. Riêng vùng Tây Bắc có số lượng 1,1 triệu con, tăng 2,19
%/năm. Mười tỉnh có tổng đàn lợn lớn là Thanh Hoá 1,34 triệu con, Hà Tây 1,13 triệu,
Nghệ An 1,18 triệu, Thái Bình 1,05 triệu, Đồng Nai 1,24 triệu, Bắc Giang 1,03 triệu,
Hải Dương 0,87 triệu, Nam Định 0,83 triệu, Bình Định 0,63 triệu, Hải Phòng 0,61
triệu. Những năm qua đàn lợn nái có tốc độ tăng trưởng cao từ 2,95 triệu con năm
2001 lên 4,33 triệu con năm 2006. Đàn lợn nái năm 2006 chiếm trên 16% tổng đàn,
trong đó nái ngoại là 442 ngàn con chiếm 10,2% đàn nái. Các tỉnh có tỉ lệ lợn ngoại
cao là thành phố Hồ Chí Minh (100% nái ngoại), Đồng Nai, Bình Dương, ...
Những năm gần đây, bên cạnh phương thức chăn nuôi lợn truyền thống, đặc trưng
là chăn nuôi hộ gia đình với quy mô nhỏ, năng suất thấp, chăn nuôi lợn theo phương
thức tập trung công nghiệp đang có xu hướng ngày càng phát triển. Các tỉnh có trang
trại chăn nuôi lợn nhiều như Đồng Nai, Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh, Lâm

hình thành như thụ tinh nhân tạo, thú y, sản xuất lợn giống, … tạo thành một hệ thống
hỗ trợ phát triển khá đồng bộ (NXB thống kê Quảng Ngãi, 2007).
Các giống lợn được nuôi chủ yếu là giống hướng nạc Yorkshire và Landrace nhưng
phần lớn là con lai F2, F3 (tỉ lệ máu ngoại khoảng 75%). Các giống kiêm dụng chủ
yếu là Móng Cái. Lợn Móng Cái hầu hết được dùng làm cái nền cho phối tinh với các
giống hướng nạc để tạo con lai F1 nuôi thịt. Một số hộ nuôi Móng Cái thuần – đây là
nguồn giống rất quan trọng để chọn lọc nhân giống cung cấp cho các hộ nuôi lợn
Móng Cái. Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh còn có lợn Kiềng Sắt thường được nuôi ở đồng
bào dân tộc thiểu số. Hiện nay lợn Kiềng Sắt vẫn còn được nuôi phổ biến ở miền núi
do dễ nuôi, thịt ngon nên dù năng suất thấp nhưng vẫn được ưa chuông (Ủy ban nhân
dân tỉnh Quảng Ngãi, 2008). Tuy vậy, cho đến nay vẫn chưa có các nghiên cứu cơ bản
cũng như các nghiên cứu đồng bộ nhằm quản lý và khai thác tiềm năng của lợn Kiềng
Sắt vào việc phát triển đa dạng các hệ thống canh tác, phù hợp với điều kiện từng vùng
sinh thái và trình độ sản xuất của từng vùng.
2.4. Đặc điểm sinh trưởng của lợn và một số yếu tố ảnh hưởng
2.4.1. Đặc điểm sinh trưởng của lợn
Sự sinh trưởng của lợn bắt đầu từ khi trứng thụ tinh đến khi trưởng thành. Sinh
trưởng là quá trình cơ thể tăng lên về trọng lượng và kích thước do sự lớn lên và phân
chia tế bào. Cũng như các loài gia súc khác, sự sinh trưởng của lợn cũng tuân theo các
quy luật:
- Quy luật theo giai đoạn: Ở quy luật này có 2 giai đoạn sinh trưởng chính gồm giai
đoạn trong thai và giai đoạn ngoài thai. Giai đoạn trong thai chia làm 3 thời kỳ là phôi
thai, tiền thai và bào thai. Giai đoạn ngoài thai được chia ra thời kỳ bú sữa, thời kỳ
thành thục và thời kỳ già cỗi.
- Quy luật sinh trưởng không đồng đều: Đây là sự không đồng đều về khả năng
tăng trọng, không đồng đều về sự sinh trưởng phát triển của các cơ quan bộ phận trong
cơ thể lợn và không đồng đều về khả năng tích luỹ mỡ.
Quy luật sự sinh trưởng của lợn được biểu hiện ở đồ thị 1. Tốc độ sinh trưởng trong
giai đoạn đầu tăng dần theo tháng tuổi (trừ lúc bị stress ngay sau khi sinh và khi cai
sữa đột ngột), sau đó tăng trọng chậm lại và kéo dài đến khi trưởng thành. Ở giai đoạn

Bản
Tháng
Lợn Móng Cái
Lợn Bản
tuổi
Trọng
Dài
Vòng
Cao
Trọng
Dài
Vòng
Cao
lượng
thân
ngực
vai
lượng
thân
ngực
vai
(kg)
(cm)
(cm)
(cm)
(kg)
(cm)
(cm)
(cm)
1

35,35
7
32,10
81,25 78,00
46,00
22,90
72,64
68,56
43,83
8
39,50
83,75 87,75
48,38
29,80
75,73
72,93
45,29
11
55,50
94,00 88,50
51,50
38,77
84,47
82,24
48,50

Lợn Vân Pa nên thường được xem là lợn mini duy nhất ở nước ta do có trọng
lượng cơ thể thấp hơn nhiều so với các giống lợn địa phương khác. Theo Trần
Thanh Hải và Lê Đình Phùng (2009), trọng lượng cơ thể lợn Vân Pa tại các thời
điểm sơ sinh, 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng và 4 tháng tuổi tương ứng là 0,29; 1,02;

4,5
4,7
4,5

23
24
25

40
48
50

60
70
70


2.4.2. Một số yếu tố ảnh hưởng
2.4.2.1. Giống
Các giống khác nhau có năng suất khác nhau. Tăng trọng trung bình hằng
ngày của các giống lợn bản địa như Móng Cái khoảng 300 – 350 gam/ngày,
trong khi con lai có thể đạt 550 – 650 g/ngày, lợn ngoại nuôi tốt có thể đạt 700 –
750 g/ngày. Các giống lợn ngoại có tốc độ sinh trưởng phát triển nhanh hơn các
giống lợn nội. Các giống lợn khác nhau có sự tăng trưởng khác nhau (Siebrits và
Kemm, 1982; Ellis, 1983; tdt Trần Đình Miên và Phan Cự Nhân, 1994). Nguyên
nhân của hiện tượng này có thể do sự khác biệt về nhu cầu dinh dưỡng, chế độ
nuôi dưỡng, khả năng tiêu hoá và hấp thu của con vật. Sự phát triển của các
tuyến tiêu hoá mạnh hay yếu phụ thuộc vào các giống khác nhau. Các enzym có
tính đặc hiệu cao trong quá trình phân giải trong các chất dinh dưỡng khác nhau.
Điều này thể hiện rõ ở lợn hướng nạc, mức độ chuyển hoá protein cao nên

758,87
(g/con/ngày)
Độ dày mỡ lưng
10,17
9,37
11,0
10,0
9,89
(P2) (mm)
Tiêu tốn thức ăn
2,37
2,54
2,46
2,16
2,17
(kg)
2.4.2.2. Thức ăn
Thức ăn có ý nghĩa rất quan trọng đến sự sinh trưởng của lợn, chiếm 60 – 70% giá
thành sản phẩm. Thức ăn không chỉ ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của lợn mà còn ảnh
hưởng đến chất lượng thịt lợn. Việc sử dụng các khẩu phần ăn có giá trị năng lượng,
hàm lượng protein hoặc thành phần dinh dưỡng và sự cân bằng các chất dinh dưỡng
khác nhau đều ảnh hưởng đến sinh trưởng của lợn. Theo Lã Văn Kính và cs (1999),
việc bổ sung LThreonine vào khẩu phần cơ sở có tác dụng tăng sự phát triển của lợn
ở giai đoạn sinh trưởng (20 – 50 kg) so với khẩu phần không bổ sung LThreonine.
Tuy nhiên với khẩu phần này, sự tăng trọng của lợn ở giai đoạn vỗ béo (50 – 100 kg)
không mang lại hiệu quả. Nguyên nhân của hiện tượng này có thể là do lượng
LThreonine trong khẩu phần thực tế đã đáp ứng đủ nhu cầu của lợn ở giai đoạn vỗ
béo. Theo Phạm Duy Phẩm (2006), sử dụng chế phẩm axit hữu cơ 0,1% Adimix
Butyrate bổ sung vào thức ăn nuôi lợn con sau cai sữa đến 60 ngày tuổi sẽ tăng tốc độ
sinh trưởng lên 8,3%. Phan Ngọc Kính (2001) đã sử dụng chế phẩm EM bổ sung vào

huỷ các chất độc cũng như chất ức chế trong thức ăn, như xử lý nhiệt đậu nành sẽ phá
huỷ chất ức chế enzyme trypsin và hoạt chất hemaglutinin mất độc lực. Nấu chín củ
khoai tây, khoai lang cho lợn ăn đã làm tăng tỉ lệ tiêu hoá chất khô và protein. Ngoài
ra, cách thức cho ăn cũng ảnh hưởng đến sự tiêu hoá của lợn. Khi tăng trọng lượng
thức ăn tiêu thụ sẽ làm tăng nhu động ruột, tốc độ di chuyển thức ăn trong đường tiêu
hoá, cơ hội hấp thu ít, khả năng phân giải của các enzyme tiêu hoá không triệt để làm
tỉ lệ tiêu hoá giảm (Lê Đức Ngoan, 2002).
2.4.2.3. Chăm sóc quản lý
- Phương thức nuôi
Phương thức nuôi có liên quan chặt chẽ đến chế độ dinh dưỡng, do vậy sẽ ảnh
hưởng đến sinh trưởng của vật nuôi. Chế độ nuôi thâm canh với khẩu phần giàu năng
lượng hoặc nuôi nhốt dẫn đến lợn phát triển nhanh nhưng tăng tích luỹ mỡ. Ngược lại
với chế độ nuôi bán thả với thức ăn giàu xơ, lợn sẽ phát triển chậm hơn so với phương
thức nuôi thâm canh nhưng tỉ lệ nạc nhiều hơn. Theo thông báo của Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn (1980), khi giảm 27% năng lượng ăn vào so với mức ăn tự do
đối với lợn có trọng lượng 20 – 45 kg, lượng mỡ cơ thể giảm 8%, tăng trọng giảm
25%, tích luỹ nạc giảm 11% trong khi tiêu tốn thức ăn không giảm.
- Môi trường
Nhiệt độ môi trường, độ ẩm, tiểu khí hậu chuồng nuôi cũng ảnh hưởng đến khả
năng ăn vào và tăng trọng của lợn. Hai yếu tố nhiệt độ và độ ẩm tác động đồng thời lên
con vật làm ảnh hưởng đến sinh trưởng của chúng. Trong một nghiên cứu đối với lợn


có trọng lượng từ 25 – 106 kg, lượng ăn vào trung bình hằng ngày giảm khi nhiệt độ
tăng đến 280C ở độ ẩm tương đối từ 65 – 70% (Gonyou và cs, 2003; tdt Lê Văn Phước,
2006). Cũng theo tác giả này, việc tăng độ ẩm tương đối từ 40 – 94% ở nhiệt độ không
khí không đổi là 240C sẽ gây nên sự suy giảm đáng kể lượng ăn vào và khả năng tăng
trọng/ngày. Thí nghiệm của Mousgard (1959) (tdt Nguyễn Thiện và cs, 2005) về sự
ảnh hưởng của nhiệt độ và độ ẩm đến sự tích luỹ và tăng trọng của lợn cho thấy ở
nhiệt độ dao động từ 15 – 230C với độ ẩm là 50 – 70%, khả năng tích luỹ đạm và tăng

hưởng rõ rệt tới sinh trưởng, phát dục của các bộ phận trực tiếp sản xuất như bầu vú bò
sữa, mông vai bò thịt, ... Để tạo nên tính di truyền mong muốn, cần thiết chọn lọc để
củng cố tính di truyền và phối hợp tốt đực cái để tính di truyền được truyền cho đời
con lai (Nguyễn Quang Linh và cs, 2006). Theo Phạm Thị Kim Dung và Nguyễn Văn
Đức (2004) giữa các tính trạng sản xuất cơ bản của lợn như tăng trọng lượng, tiêu tốn
thức ăn, độ dày mỡ lưng và tỉ lệ nạc có mối tương quan di truyền chặt chẽ với nhau. Vì
vậy khi chọn lọc một tính trạng nào đó dẫn đến một số tính trạng khác cũng bị thay đổi
về mặt cấu trúc di truyền và năng suất vật nuôi. Có lúc sự thay đổi đó có lợi cho sản
xuất như tăng trọng lượng nhanh dẫn đến tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng trọng giảm.
Nhưng ngược lại, nhiều sự thay đổi làm ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế như khi tăng
năng suất sữa ở bò thì tỉ lệ mỡ sữa giảm xuống (Phạm Thị Kim Dung và Nguyễn Văn
Đức, 2004).
2.5. Đặc điểm sinh sản của lợn
2.5.1. Sự thành thục về tính
Gia súc sau một thời kỳ sinh trưởng và phát triển nhất định thì có khả năng sinh sản.
Tuổi con vật bắt đầu có khả năng sinh sản gọi là tuổi thành thục về tính. Tuổi thành
thục về tính được xác định bằng lần động dục và rụng trứng đầu tiên của con cái cũng
như sự xuất hiện tinh trùng tự do ở dịch hoàn phụ và ống sinh tinh của con đực. Ở thời
điểm này, dưới ảnh hưởng của các tuyến nội tiết sinh dục, cơ quan sinh dục phát triển,
đặc điểm sinh dục phụ phát triển và con vật có những ham muốn sinh dục. Nếu ở giai
đoạn này, tinh trùng gặp trứng con cái sẽ có khả năng thụ thai (Lê Văn Thọ và Đàm
Văn Tiện, 1992). Thời gian thành thục về tính khác nhau tùy từng giống, từng loài và
giới tính. Theo Trần Cừ (1975), thời gian thành thục về tính của một số loài động vật


được trình bày ở bảng 6. Theo thông báo của bảng 6 cho thấy ở mỗi loài đều có sự
khác nhau về thời gian thành thục về tính. Ngoài ra, giới tính cũng ảnh hưởng lớn đến
thời gian thành thục, con đực thường thành thục sớm hơn con cái.
Bảng 6. Thời gian thành thục về tính của một số loài động vật
Động vật

thường diễn ra chậm hơn sự thành thục về tính. Sau một giai đoạn sinh trưởng và phát
triển nhất định, con vật đạt đến độ trưởng thành về thể vóc. Khi gia súc thành thục về
thể vóc, kích thước các chiều đo sẽ ổn định và gia súc có khả năng sinh sản cao. Tuổi
thành thục về thể vóc ở mỗi giống lợn là khác nhau. Lợn Móng Cái thành thục về thể
vóc lúc 6 tháng tuổi, trong khi lợn Ỉ là 8 tháng tuổi. Hiện nay, đối với các nước có
ngành chăn nuôi phát triển, để gia súc thành thục về tính sớm người ta dùng các biện
pháp như: cho con cái gặp con đực hằng ngày, tiêm hormone kích thích như PMSG
(huyết thanh ngựa chửa), HCG, … cũng như các biện pháp phân lô, phân đàn khác.
2.5.3. Đặc điểm sinh sản của lợn đực
Lợn đực thành thục về tính rất sớm, tuy nhiên người ta thường đưa vào sử dụng lúc
7 – 8 tháng tuổi đối với lợn nội và 8 – 9 tháng tuổi đối với lợn ngoại. Lợn đực giống
sản xuất một lượng tinh dịch là 50 – 100ml/1 lần khai thác, lợn đực ngoại khoảng 200
– 500ml tinh dịch. Tùy theo độ tuổi và tình trạng sức khỏe của đực giống, người chăn
nuôi có thể khai thác theo chế độ nhất định, thông thường là từ 2 – 3 lần mỗi tuần. Nếu
sử dụng lợn đực phối giống trực tiếp thì mỗi lợn đực có thể đảm nhiệm từ 30 – 40 lợn
cái. Ngược lại nếu thụ tinh nhân tạo, số lợn nái đảm nhiệm có thể lên đến 200 – 300
con. Tuy nhiên, điều này còn phụ thuộc vào tình hình cơ sở chăn nuôi cũng như
phương thức phối cho con cái (Vũ Đình Tuân và Trần Thị Thuận, 2005).
2.5.4. Sinh sản của lợn nái
Trong chăn nuôi lợn nái sinh sản, theo đặc điểm sinh sản người ta chia thành 3 loại
lợn: Lợn nái hậu bị (chưa chửa đẻ), lợn nái kiểm định (đang chửa đẻ hoặc nuôi con lứa
1 – 2) và lợn nái cơ bản (đang chửa đẻ hoặc nuôi con lứa thứ 3 trở đi).
- Lợn nái hậu bị: Lợn sinh trưởng nhanh cả về trọng lượng cơ thể và cơ quan sinh
dục. Đến khi thành thục về tính, lợn có biểu hiện của động dục và chu kỳ động dục
dao động từ 18 – 21 ngày. Ở chu kỳ động dục đầu tiên, triệu chứng động dục chưa
điển hình, số lượng và kích thước của tế bào trứng nhỏ. Giống và nuôi dưỡng là hai
yếu tố ảnh hưởng lớn đến tuổi thành thục về tính và số lượng tế bào trứng chín và


rụng. Ngoài ra, sự kích thích tính dục của con đực hay phương thức phối giống cũng

Yorkshire và nái Landrace nâng cao số con sơ sinh còn sống/ổ là 1,03 con; tỉ lệ nuôi
sống đến cai sữa là 3,52%, trọng lượng bình quân lúc 60 ngày tuổi 10,0 kg/con so với
lợn nái Landrace phối thuần. Tuy nhiên, ở tổ hợp lai giữa con đực Landrace với nái
Yorkshire không làm tăng số con sơ sinh còn sống/ổ, nhưng tăng tỉ lệ nuôi sống lợn
con đến cai sữa là 1,61%, trọng lượng bình quân lúc 60 ngày tuổi tăng khoảng 0,4 kg
so với lợn nái Yorkshire phối thuần.
Bảng 7. Năng suất sinh sản của một số giống lợn nuôi tại Việt Nam
Đặc diểm
Tuổi đẻ lứa đầu (ngày)
Khoảng cách 2 lứa đẻ (ngày)
Số con đẻ ra còn sống (con)
Số con cai sữa (con)
Trọng lượng trung bình lợn con sơ
sinh (kg)
Trọng lượng trung bình lợn con cai
sữa (kg)

Móng Cái
472,3 x 5,9
196,2 x 0,9
10,6 x 0,06
7,6 x 0,04
0,58 x 0,01

Yorkshire
`8,5 x 27,8
179 x 7,0
9,8 x 0,3
8,2 x 0,3
1,2 x 0,04

vóc.
Tuổi thành thục về tính chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố như giống, phương
thức nuôi, ... Lợn nội có tuổi thành thục về tính sớm hơn so với lợn ngoại. Lợn Ỉ,
Móng cái có tuổi thành thục về tính ở giai đoạn 5 – 8 tháng tuổi, trong khi đối với lợn
cái ngoại là 6 – 7 tháng tuối. Lợn cái hậu bị nuôi nhốt sẽ có thời gian thành thục về
tính chậm hơn lợn cái hậu bị nuôi thả. Trong giai đoạn hậu bị, đối với lợn nội 4 tháng
tuổi và lợn ngoại 5 tháng tuổi, nếu cho tiếp xúc với lợn đực sẽ thúc đẩy lợn cái hậu bị
động dục sớm hơn (Nguyễn Thiện và cs, 1998).
Trọng lượng của lợn cái hậu bị cũng ảnh hưởng đến khả năng sinh sản. Nếu lợn quá
béo sẽ làm hạn chế quá trình rụng trứng, làm giảm số lợn con/lứa. Vì vậy, ở lợn cái
hậu bị ngoại giai đoạn 6 – 7 tháng tuổi phải cho ăn hạn chế để đến khi phối giống
(khoảng 7,5 – 8 tháng tuổi) trọng lượng lợn đạt khoảng 100 kg (Nguyễn Thiện và cs,
1998).
2.5.5.3. Thứ tự các lứa đẻ
Khả năng sản xuất của lợn nái bị ảnh hưởng rất nhiều bởi các lứa đẻ khác nhau. Lợn
hậu bị, ở lứa đẻ thứ nhất cho số lượng con/ổ thấp, sau đó từ lứa thứ 2 trở đi số lượng
con trên ổ tăng dần lên cho đến lứa thứ sáu, thứ bảy thì bắt đầu giảm dần (Nguyễn
Thiện và cs, 1998). Theo Vũ Ngọc Sơn và cs (2010), trên đối tượng lợn Ỉ, lứa 1 trung
bình có 6,5 con, lứa 2 là 8,9. Đối với lợn Lũng Pù, lứa 1 đẻ trung bình 5,7 con, trong
khi lứa 2 là 6,7 con. Theo Nguyễn Văn Nhiệm và cs (2002), các tính trạng số con/ổ và
trọng lượng lợn con/ổ tăng dần từ lứa thứ 2, tăng nhanh từ lứa thứ 3 đến lứa thứ 7 và
sau đó giảm dần từ lứa thứ 8. Do vậy trong chăn nuôi, để tăng năng suất sinh sản
người ta thường chú trọng giữ vững số lượng con/ổ ở các lứa thứ sáu trở đi bằng các
kỹ thuật chăn nuôi, điều này sẽ có lợi hơn là loại thải chúng để thay thế bằng đàn nái
hậu bị khác.
2.5.5.4. Phối giống cho lợn nái
Để tăng năng suất sinh sản cho lợn nái cần thực hiện tốt một số kỹ thuật quan trọng
như xác định thời điểm phối tinh thích hợp, nguyên tắc là phối vào thời điểm nào để
xác suất tinh trùng gặp được tế bào trứng nhiều nhất. Do đó, lợn nái khi đến tuổi phối
giống, người chăn nuôi phải tăng cường theo dõi để chọn thời điểm thụ tinh thích hợp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status