Đổi mới tổ chức và hoạt động của viện kiểm sát nhân dân thị xã bạc liêu - Pdf 33

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẰN THƠ
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
KHÒA LUẬT
0

LUẬN VĂN TÓT NGHIỆP cử NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA: 2005-2009

Đề tài:

ĐỔI MỚI TỘ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG
CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THỊ XÃ
BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU

Giảo Viên Hướns Dan
Phạm Thị Diệu Hiền

Sinh Viên ThưcHiên:
Lê Thị Mộng Thi
MSSV: 50*54931
Lớp: Luật Thương Mại 2 - K31

=1 -_
_-__f=
Cần Thơ, 4/2009


NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN


MỤC LUC

1.1.3.1 Nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành.......................8
1.1.3.2 Nguyên tắc độc lập không lệ thuộc vào bất kỳ cơ quan Nhà nước nào
ở địa phương...........................................................................................................8
1.1.3.3 Nguyên tắc Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân chịu sự giám sát của
Cơ quan quyền lực Nhà nước cùng cấp..................................................................9
1.2 Cơ sở pháp lý về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân..............10
1.2.1 Tổ chức của Viện kiếm sát nhân dân theo quy định của pháp luật hiện
hành......................................................................................................................10
1.2.2 Hoạt động của Viện kiếm sát nhân dân theo quy định của pháp luật hiện
hành......................................................................................................................11
1.2.2.1 Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự .... 11
1.2.2.2 Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự.........14
1.2.2.3 Kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành
chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật.................
15


1.2.2.4.............................................................................................................. Kiể
m sát việc thi hành án......................................................................................17
1.2.2.5 Kiểm sát việc tạm giam, tạm giữ, quản lý và giáo dục người chấp
hành án phạt tù......................................................................................................18
1.3 Viện kiểm sát nhân dân trong công cuộc cải cách tư pháp............................19
1.4 Các mô hình cơ quan công tố đang tồn tại trên thế giới...............................25
CHƯƠNG 2: THựC TIỄN TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA VIỆN
KIẾM
SÁT NHÂN DÂN THỊ XÃ BẠC LIÊU.................................................27
2.1 Sơ lược về Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bạc Liêu......................................27
2.2 Kết quả hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bạc Liêu...................28
2.2.1. về tình hình tội phạm................................................................................28
2.2.2 về các mặt công tác của ngành................................................................30

ong công tác thực hành quyền công tố............................................................42
2.4.2.2 Trong công tác kiểm sát các hoạt động tư pháp................................45
2.5 Những kiến nghị nhằm hoàn thiện về cơ cấu tổ chức và hoạt động của Viện
kiểm sát nhân dân thị xã Bạc Liêu nói riêng và Viện kiếm sát nhân dân nói chung..
............................................................................................................................ 46
2.5.1 về cơ cấu tổ chức....................................................................................47
2.5.2 về hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ..........................................49
2.5.2.1 Trong công tác thực hành quyền tư pháp.............................................49
2.5.2.2................................................................................................................. Tr


Đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bạc Liêu.

LỜI NÓI ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài.
Bạc Liêu là một tỉnh thuộc bán đảo Cà Mau - Việt Nam, miền đất cực Nam
của tổ quốc. Bạc Liêu có 6 huyện là: Hòa Bình, Vĩnh Lợi, Hồng Dân, Giá Rai,
Phước Long, Đông Hải và một thị xã Bạc Liêu - trung tâm hành chính, kinh tế,
chính trị của tỉnh. Thị xã Bạc Liêu có tổng diện tích 17.184 ha, với tổng số dân là
134.714 người. Thị xã Bạc Liêu đã được Bộ trưởng Bộ xây dựng Nguyễn Hồng
Quân ra Quyết định số 1779/QĐ-BXD ngày 26/12/2006 công nhận là đô thị loại
m, thị xã trực thuộc tỉnh.
Sau gàn 12 năm đổi mới (1997 - 2009), cùng với sự phát triển về kinh tế,
văn hoá, chính trị, xã hội của tỉnh, theo đó là sự xuất hiện ngày càng nhiều của các
loại tội phạm, với những thủ đoạn ngày càng tinh vi hơn trên tất cả các mặt của đời
sống xã hội. Diễn biến phức tạp của tình hình tội phạm đã và đang đặt ra yêu cầu
đối với các Cơ quan nhà nước nói chung, hệ thống Cơ quan tư pháp ở Bạc Liêu
càn phải được kiện toàn hơn nữa về tổ chức và hoạt động, nhất là cơ quan Viện
kiểm sát nhân dân ở địa phương, trong đó có Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bạc

văn được chia thành hai phàn tương ứng với hai chương, hai vấn đề được người
viết quan tâm phân tích. Đó là:
Chương 1 Khái quát chung về Viện kiểm sát nhân dân.
Chương 2 Tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bạc Liêu.
Thực tiễn và một số kiến nghị.
Do chỉ dừng lại ở trình độ của một Cử nhân Luật nên trong quá trình nghiên
cứu, luận văn không tránh khỏi có những sai sót. Kính mong quý thầy cô và các
bạn thông cảm bỏ qua và đóng góp ý kiến để luận văn có thể hoàn thiện hơn, cũng

GVHD: Phạm Thị Diệu Hiền

2

SV TILLê Thị Mộng Thi


1 Trường Đại học Luật Hà Nội - Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam - Nxb Công an nhân dân 2004. Trang
530.
Đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bạc Liêu.

CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

1.1 Ctf sở lý luận về Viện kiểm sát nhân dân.

1.1.1 Stf lược về lịch sử hình thành và phát triển của Viện kiểm sát nhân

dân.
1.1.1.1 Giai đoạn từ năm 1945 -1959.
Sau khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, Nhà nước ta đã chú ý

Chính phủ, có trách nhiệm và quyền hạn như một Bộ. Nhiệm vụ của Viện công tố
lúc này là:


Điều tra và truy tố những kẻ phạm pháp về hình sự;


Giám sát việc chấp hành pháp luật trong công tác điều tra của cơ
quan điều tra;



Giám sát việc chấp hành pháp luật trong việc thi hành các bản án về
hình sự, dân sự và trong hoạt động giam giữ, cải tạo;



Khởi tố và tham gia tố tụng trong những vụ án dân sự quan trọng có
liên quan đến lợi ích của Nhà nước và của nhân dân.

1.1.1.2 Giai đoạn từ năm 1959 -1980.
Với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và cùng
với việc xây dựng miền Bắc sau ngày giải phóng, Hiến pháp 1959 của nước Việt
Nam dân chủ cộng hòa ra đời. Theo Hiến pháp 1959, Viện công tố được đổi
thành Viện Kiểm sát nhân dân. Viện kiểm sát nhân dân cùng với Tòa án nhân
dân là cơ quan tư pháp, không còn trực thuộc Hội đồng Chính phủ mà chịu trách
nhiệm báo cáo trước Quốc hội.
Ngày 15/7/1960, Quốc hội khóa II, kỳ họp thứ I đã thông qua Luật tổ chức
Viện Kiểm sát nhân dân gồm: 06 chương, 25 điều; đánh dấu bước ngoặc lớn về tổ
chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân. Theo quy định tại Điều 4 của Luật

Cũng như Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960, Luật tổ chức Viện
kiểm sát nhân dân năm 1981 vẫn giữ nguyên những quy định về nhiệm vụ và
quyền hạn của ủy ban kiểm sát là cơ quan tư vấn cho Viện trưởng.
1.1.1.4 Giai đoạn từ năm 1992 - đến nay.
Để thực hiện đường lối đổi mới ừong Đại hội lần thứ VI của Đảng, ngày
15/4/1992, Quốc hội khóa VIII, kỳ họp thứ 11 đã thông qua bản Hiến pháp 1992bản Hiến pháp của thời kỳ đối mới đất nước. Đe cụ thế hóa những quy định của
Hiến pháp 1992 về tổ chức và họat động của Viện kiểm sát nhân dân, ngày
08/10/1992, Quốc hội khóa IX tại kỳ họp thứ nhất đã thông qua Luật tổ chức Viện
kiểm sát nhân dân 1992. Theo các quy định của Hiến Pháp 1992 và Luật tổ chức
Viện kiếm sát nhân dân năm 1992, thì tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát
nhân dân có những điểm đổi mới sau: uủy ban kiểm sát không còn là cơ quan tư
vấn cho Viện trưởng nữa; Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân địa phương chịu sự
giám sát của Hội đồng nhân dân cùng cấp.
Do đất nước ngày càng đổi mới, xã hội có nhiều biến đổi, một yêu cầu cấp
thiết đặt ra là phải cải cách bộ máy nhà nước, cải cách tư pháp để đáp ứng yêu cầu
công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước. Tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa X đã
thông qua Nghị quyết số 51/2001/QH.10 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của
Hiến pháp 1992. Trên cơ sở này, ngày 02/04/2002, Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ
11 đã thông qua Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002. Theo đó, Viện
kiểm sát nhân dân thực hiện hai chức năng: Thực hành quyền công tố và kiểm sát
các hoạt động tư pháp.

1.1.2 Chức năng của Viện kiểm sát nhân dân.
Nói đến chức năng của Viện kiểm sát nhân dân cũng như chức năng của các
cơ quan nhà nước khác là xác định những phương hướng hoạt động chủ yếu của cơ
quan nhà nước đó. Theo các Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 1960, Luật tổ
chức Viện kiểm sát nhân dân 1981 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 1992
thì các Viện kiểm sát nhân dân hoạt động với hai chức năng:
^Kiểm sát việc tuân theo pháp luật: bao gồm kiểm sát việc tuân theo pháp


trong lĩnh vực hành chính mà chỉ thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư
pháp “Viện kiểm sát nhân dân tập trung làm tốt chức năng công tố và kiếm sát
các hoạt động tư pháp2”. Riêng chức năng thực hành quyền công tố thì được đặt
lên chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp và đây là chức năng đặc thù chỉ có ở
ngành Kiểm sát.
1.1.2.1 Chức năng công tố.
Công tố là nhân danh Nhà nước để truy tố và buộc tội trước tòa đối với
người đã có hành vi nguy hiểm cho xã hội (mà Bộ luật hình sự đã quy định) trên
cơ sở các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Ở nước ta, thuật ngữ “quyền công tố” lần đầu tiên được đề cập đến tại Điều
138 Hiến pháp 1980 và Điều 1, Điều 3 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm
1981, cần khẳng định rằng quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho một cơ
quan cụ thể (ở nước ta là Viện kiểm sát nhân dân) thực hiện việc truy cứu trách
nhiệm hình sự đối với người phạm tội nhằm đưa vụ án ra tòa xét xử để bảo vệ lợi
ích cho Nhà nước, lợi ích chung, được thực hiện trong tố tụng hình sự3 4. Quyền
công tố được thực hiện trong quá trình tố tụng hình sự, từ khi có quyết định khởi tố
vụ án hình sự và kết thúc khi bản án của tòa án có hiệu lực thi hành.
1.1.2.2 Chức năng kiểm sáf
Kiểm tra và giám sát là những hoạt động chủ yếu của ngành Kiểm sát. Hoạt
động kiểm tra và giám sát của các cơ quan kiểm sát khác với hoạt động kiểm tra và
giám sát của các cơ quan nhà nước khác ở những điểm chủ yếu sau:
• Kiểm tra và giám sát là hoạt động chủ yếu, quan trọng nhất của
VKSND. Tất cả các cơ quan nhà nước khác trong hoạt động của mình đều phải

GVHD: Phạm Thị Diệu Hiền

6

SV TILLê Thị Mộng Thi


hoạt động của bộ máy nhà nước như: nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa,
nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc bình đẳng dân tộc, nguyên tắc pháp chế
xã hội chủ nghĩa, nguyên tắc bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng. Tuy nhiên, xuất phát
từ hoạt động đặc thù của các cơ quan kiểm sát là những cơ quan chuyên trách bảo
vệ pháp luật bằng công tác kiểm sát và công tố. Do đó, tổ chức và hoạt động của
các cơ quan kiểm sát còn có những nguyên tắc đặc thù. Theo Điều 138 Hiến pháp
1992 sửa đổi bổ sung và Điều 8 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2002 thì
GVHD: Phạm Thị Diệu Hiền

7

SV TILLê Thị Mộng Thi


Đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bạc Liêu.
vào bất kỳ một cơ quan nhà nước nào ở địa phương, và nguyên tắc Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân chịu sự giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước cùng
cấp.
1.1.3.1 Nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành.
Theo nguyên tắc này thì toàn bộ hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân nói
chung phải đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Còn hoạt động của từng Viện kiếm sát nhân dân nói riêng phải đặt dưới sự lãnh
đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Viện đó.
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân ở địa phương là người chỉ đạo và chịu
hách nhiệm cá nhân về hoạt động của Viện mình trước Viện trưởng cấp trên trực
tiếp; đồng thời chịu trách nhiệm trả lời chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân
cùng cấp. Còn Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải chịu trách nhiệm
cá nhân về hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân tối cao cũng như hoạt động của
toàn ngành Kiểm sát trước Quốc hội, Chủ tịch nước và ủy ban thường vụ Quốc
hội; đồng thời phải báo cáo về hoạt động của toàn ngành Kiểm sát trước Quốc hội,

nhà nước ở địa phương không có quyền can thiệp vào hoạt động của Viện kiểm sát
nhân dân.
Như vậy, khác với các cấp chính quyền và các cơ quan quản lý khác ở địa
phương là một mặt trực thuộc Chính phủ hoặc Bộ chủ quản; mặt khác phải trực
thuộc Hội đồng nhân dân hoặc ủy ban nhân dân. Viện kiểm sát nhân dân không tổ
chức theo nguyên tắc phụ thuộc hai chiều như vậy. Tuy nhiên, để tránh sự lạm
dụng quyền lực, Quốc hội đã quy định: “Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân địa
phương phải báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân, hả lời chất vấn, kiến nghị,
yêu cầu của Đại biểu Hội đồng nhân dân5 ”.về mặt tổ chức, Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao quyết định bộ máy làm việc và biên chế của Viện kiểm
sát nhân dân các cấp, bổ nhiệm, miễn nhiệm các chức danh Viện trưởng, Phó viện
trưởng, Kiếm sát viên Viện kiếm sát nhân dân đại phương. Sự độc lập trong tố
chức tạo điều kiện thuận lợi để các Viện kiểm sát nhân dân độc lập trong hoạt
động của mình.
1.1.3.3 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân chịu sự giám sát của cơ quan
quyền ỉực nhà nước cùng cấp.
Nguyên tắc này bắt nguồn từ nguyên tắc “tất cả quyền lực nhà nước thuộc
về nhân dân”. Nguyên tắc này đã được quy định từ Hiến pháp 1959 và Hiến pháp
1980, nhưng chỉ đối với Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Đến Hiến pháp 1992Điều 140, nguyên tắc này còn được xác định với tất cả Viện kiểm sát nhân dân địa
phương.
Thứ nhất, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và
báo cáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu
trách nhiệm và báo cáo công tác trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước.
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải trả lời chất vấn, kiến nghị, yêu
càu của đại biểu Quốc hội và có thể bị Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm.
Thứ hai, Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân địa phương chịu sự giám sát
của Hội đồng nhân dân cùng cấp; chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước Hội
đồng nhân dân; trả lời chất vấn, kiến nghị, yêu cầu của đại biểu Hội đồng nhân
dân.
Tóm lại, các nguyên tắc đặc thù trên càn được quán triệt sâu sắc trong toàn

làm việc theo nhiệm kỳ của Quốc hội; chịu sự giám sát của Quốc hội, chịu trách
nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp thì
chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Chủ
tịch nước. Còn Viện trưởng của các Viện kiểm sát nhân dân địa phương và Viện
trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức.
Phó viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Chủ tịch nước bổ nhiệm,
miễn nhiệm, cách chức theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao. Còn các Phó viện trưởng của các Viện kiểm sát nhân dân địa phương và Viện
kiểm sát quân sự từ cấp quân khu trở xuống do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức.
Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Chủ tịch nước bổ
nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân tối cao. Còn Kiểm sát viên của các Viện kiểm sát nhân dân địa phương và
Viện kiểm sát quân sự từ cấp quân khu trở xuống do Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức.
Điều tra viên của Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm và cách chức.
GVHD: Phạm Thị Diệu Hiền

10

SVTH:Lể Thị Mộng Thi


Đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bạc Liêu.
Tổng biên chế của Viện kiếm sát nhân dân do Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao định và trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn, Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định biên chế của Viện kiểm sát nhân dân địa
phưomg và các đon vị trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

cứ gỡ tội. Những vi phạm pháp luật trong quá trình điều tra phải được phát hiện,
GVHD: Phạm Thị Diệu Hiền

11

SVTH:Lể Thị Mộng Thi


Đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bạc Liêu.
khắc phục kịp thời và xử lý nghiêm minh;
Việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị can phải có căn cứ và đúng
pháp luật.
Khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra thì, theo Điều 13
Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Viện kiểm sát nhân dân tiến hành
những hoạt động sau đây:
- Khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can; yêu cầu cơ quan điều tra khởi tố
hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can;
- Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu cơ quan điều tra tiến hành điều tra, điều
tra lại, điều tra bổ sung nhưng phải thể hiện bằng văn bản theo quy định tại
Điềul53 điểm a, Điều 154 của Bộ luật tố tụng hình sự và được thực hiện ngay từ
khi có tin báo tố giác về hành vi vi phạm pháp luật để thu thập tài liệu chứng cứ
nhằm làm rõ có tội phạm xãy ra hay không hoặc làm rõ các tình tiết của vụ án như:
động cơ, mục đích phạm tội, mức độ thiệt hại....
Viện kiểm sát nhân dân trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra theo
quy định của pháp luật như: hỏi cung bị can, lấy lời khai người làm
chứng.. ..nhưng chỉ trong trường họp Cơ quan điều tra kết thúc điều tra chuyển hồ
sơ sang Viện kiểm sát nhân dân xét cần phải thu thập thêm tài liệu chứng cứ để
làm rõ thêm nội dung vụ án nhằm đảm bảo việc truy tố có căn cứ; hay khi Tòa án
trả hồ sơ để điều tra bổ sung nếu xét thấy không cần trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra
mà Viện kiểm sát nhân dân có thể tự mình khắc phục được.

vi phạm pháp luật ưong quá trình điều ưa;
-Kiến nghị với cơ quan tổ chức và đơn vị hữu quan áp dụng biện pháp phòng
ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật.
Ở giai đoạn điều ưa, Viện kiểm sát nhân dân giữ vị trí đặc biệt quan ưọng
có tính quyết định xuyên suốt quá trình điều ưa, truy tố và là người chụi ưách
nhiệm chính trước Nhà nước và toàn xã hội. Tính quyết định này bắt nguồn từ
chức năng độc quyền truy tố của Viện kiểm sát. Trước hết, Viện kiểm sát nhân dân
phải kiểm sát việc khởi tố của các Cơ quan điều ưa có căn cứ hay không? Mọi
hành vi phạm tội có được khởi tố hay không, có bỏ lọt tội phạm và người phạm tội
hay không, hoạt động điều ưa có đúng pháp luật hay không, quyền và lợi ích họp
pháp của công dân, của bị can, và của những người tham gia tố tụng có được tôn
ưọng và bảo đảm hay không đều thuộc trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân.
Chúng ta thấy, tuy việc thực hành quyền công tố và kiểm sát điều ưa thuộc
hai phạm trù khác nhau, nhưng có mối quan hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại
lẫn nhau và hỗ ượ nhau. Mối quan hệ này song song tồn tại từ khi phát hiện có sự
việc phạm tội xãy ra cho đến khi kết thúc việc điều ưa, Cơ quan điều ưa ra quyết
định đình chỉ vụ án hoặc ra quyết định truy tố bị can ra trước tòa. Mục đích của
hoạt động thực hành quyền công tố là nhằm chứng minh tội phạm và xác định
người phạm tội; mục đích của hoạt động kiểm sát điều ưa là bảo đảm hoạt động
điều ưa được đầy đủ, khách quan, toàn diện và đúng pháp luật. Như vậy, công tác
kiểm sát điều ưa có hiệu quả sẽ là điều kiện để đảm bảo cho hoạt động thực hành
quyền công tố của Viện kiểm sát được đúng đắn. Ngược lại, công tác thực hành
quyền công tố có hiệu quả sẽ tạo điều kiện cho công tác kiểm sát điều tra phát hiện
kịp thời những vi phạm pháp luật ưong khi tiến hành điều ưa. Do đó, nếu Viện
kiểm sát nhân dân thực hiện tốt công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều
ưa thì mới hoàn thành được nhiệm vụ của Viện kiểm sát bảo đảm không để người
nào bị khởi tố, bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị xâm phạm tính mạng, sức khỏe,
danh dự và nhân phẩm một cách trái pháp luật; không để lọt tội phạm và không
lảm oan người vô tội.
GVHD: Phạm Thị Diệu Hiền

vụ án hình sự. Kiểm sát viên khi tham gia phiên tòa thực hiện đồng thời hai chức
năng: thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử đối với các vụ án hình sự. Trong
đó việc xét hỏi tại phiên tòa là một trong những hoạt động của công tác công tố tại
phiên tòa. Đây là quyền thồng thời cũng là nghĩa vụ của Kiểm sát viên khi tham
gia phiên tòa.
Như vậy, việc thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân trong tố
tụng hình sự nhằm bảo đảm việc truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật,
không đế lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội, bảo vệ các
lợi ích chính đáng của công dân của Nhà nước góp phần tạo ra bản án có căn cứ,
đúng pháp luật và công minh. Đề cao trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân
bong thực hành quyền công tố cũng là quan điểm nhất quán của Đảng ta đặt ra
trong các Nghị quyết của Bộ chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm cũng như
GVHD: Phạm Thị Diệu Hiền

14

SV TILLê Thị Mộng Thi


6 Điều 319 BLTTHS:Điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn
Đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bạc Liêu.
chiến lược cải cách tư pháp trong thời gian sắp tới.
Theo Điều 18 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, khỉ tham
gia xét xử các vụ án hình sự, cùng vời công tác thực hành quyền công tố Viện
kiểm sát nhân dân còn thực hiện công tác kiểm sát xét xử các vụ án hình sự với
những hoạt động sau:
■Kiếm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân
dân;
■Kiếm sát việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng;
■Kiếm sát các bản án và quyết định của Tòa án nhân dân theo quy định của

GVHD: Phạm Thị Diệu Hiền

15

SVTILLê Thị Mộng Thi


Đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bạc Liêu.
duy nhất quy định về công tác này (Điều 17). Trong khi Luật tổ chức Viện kiểm
sát nhân dân năm 2002 đã quy định về công tác này thành một chương (chương
IV) từ Điều 20 đến Điều 22. Đối tượng kiểm sát của các Viện kiểm sát nhân dân ở
đây là các Tòa án trong việc giải quyết các vụ án dân sự, kinh tế, lao động, hành
chính, hôn nhân-gia đình và các vụ án khác mà pháp luật quy định.
Mục đích của hoạt động kiểm sát đối với các vụ án nói trên nhằm bảo đảm
cho việc giải quyết các vụ án đó được kịp thời, theo đúng thủ tục tố tụng đối với
từng loại án và bảo đảm áp dụng đúng điều luật để bảo vệ quyền và lợi ích họp
pháp của Nhà nước, tổ chức và cá nhân. Đe thực hiện được những mục đích đó,
theo Điều 21 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, các Viện kiểm sát
nhân dân có quyền:
-Kiểm sát việc thụ lý, lập hồ sơ vụ án; yêu cầu Tòa án nhân dân hoặc tự
mình xác minh những vấn đề cần làm sáng tỏ nhằm giải quyết đúng đắn vụ án;
-Khởi tố vụ án theo quy định của pháp luật;
-Tham gia các phiên tòa và phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân
về việc giải quyết vụ án;
-Kiểm sát việc tuân theo pháp luật ừong hoạt động xét xử của Tòa án;
-Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng;
-Kiểm sát các bản án và quyết định của Tòa án nhân dân;
-Yêu cầu Tòa án nhân dân áp dụng những biện pháp khẩn cấp tạm thời theo
quy định của pháp luật;
-Yêu cầu Tòa án nhân dân cùng cấp và cấp dưới chuyển hồ sơ những vụ án

của Viện kiểm sát nhân dân trong việc kiểm sát các hoạt động tư pháp trong lĩnh
vực tố tụng dân sự đã thu hẹp hơn so với Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm
2002.
1.2.2.4 Kiểm sát việc thi hành án.
Thi hành án là giai đoạn kết thúc quá trình tố tụng, là khâu cuối cùng kết
thúc vụ án được xét xử nhằm làm cho phán quyết của Tòa án có hiệu lực thi hành
trên thực tế. Vì vậy, bản án sau khi có hiệu lực pháp luật thì cần phải được thi hành
nghiêm chỉnh, đúng pháp luật, mới có tác dụng giáo dục, phòng ngừa, răn đe đối
với người phạm tội và những người khác. Do đó, việc kiểm sát thi hành án là điều
rất cần thiết.
Công tác kiểm sát thi hành án được quy định tại chương V từ Điều 23 đến
Điều 25 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002. Khi thực hiện công tác
kiểm sát thi hành án, theo Điều 24 Viện kiểm sát nhân dân có những nhiệm vụ và
quyền hạn sau:
•"Yêu cầu Tòa án nhân dân, cơ quan thi hành án cùng cấp và cấp dưới,
Chấp hành viên, các cơ quan, tố chức, đơn vị và cá nhân có liên quan đến việc thi
hành án:
- Ra quyết định thi hành án đúng quy định của pháp luật;
- Tự kiểm tra việc thi hành án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và những
bản án, quyết định được thi hành ngay theo quy định của pháp luật và thông báo
kết quả kiểm tra cho Viện kiểm sát nhân dân;
- Thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và những bản án,
quyết định được thi hành ngay theo quy định của pháp luật;
- Cung cấp hồ sơ, tài liệu, vật chứng có liên quan đến việc thi hành án;
Việc thực hiện các yêu cầu này trong thời hạn ba mươi ngày kể từ ngày
nhận được yêu cầu.
•"Trực tiếp kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành án của Cơ
quan thi hành án cùng cấp và cấp dưới, Chấp hành viên, các cơ quan, tổ chức, đơn
GVHD: Phạm Thị Diệu Hiền


quản lý nơi tạm giam, tạm giữ, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù
kiếm tra những nơi đó và thông báo tình hình tạm giam, tạm giữ, quản lý và giáo
dục người chấp hành án phạt tù; trả lời về quyết định, biện pháp hoặc việc làm vi
phạm pháp luật trong việc tạm giam, tạm giữ, quản lý và giáo dục người chấp hành
án phạt tù. Cơ quan, đơn vị và người có trách nhiệm phải trả lời trong thời hạn 30
ngày.
- Kháng nghị với cơ quan cùng cấp và cấp dưới yêu cầu đình chỉ việc thi
hành, sửa đổi hoặc bãi bỏ quyết định có vi phạm pháp luật trong việc tạm giam,
tạm giữ, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù, chấm dứt việc làm vi
phạm pháp luật và yêu cầu xử lý người vi phạm pháp luật. Cơ quan, đơn vị hữu
quan có trách nhiệm trả lời trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kháng
nghị. Nếu không nhất trí với kháng nghị đó thì cơ quan, đơn vị hữu quan có quyền
khiếu nại lên Viện kiểm sát nhân dân cấp ừên trực tiếp phải giải quyết trong thời
hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Quyết định của Viện kiểm sát nhân
dân cấp trên trực tiếp phải được chấp hành.
Bên cạnh các quyền trên, trong quá trình kiểm sát việc tạm giam, tạm giữ,
quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù, Viện kiểm sát nhân dân còn có
trách nhiệm:
-Phát hiện và xử lý kịp thời các trường họp oan, sai trong tạm giam, tạm
giữ, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù; quyết định trả tự do ngay cho
người bị tạm giam, tạm giữ, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù không
có căn cứ và trái pháp luật;
- Khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm trong việc tạm giam, tạm giữ, quản lý
và giáo dục người chấp hành án phạt tù thì khởi tố hoặc yêu cầu cơ quan điều tra
khởi tố về hình sự.

GVHD: Phạm Thị Diệu Hiền

19


nhiều hạn chế: “Chính sách hình sự, chế định pháp luật dân sự và pháp luật về tố
tụng tư pháp còn nhiều bất cập, chậm được sửa đổi, bổ sung. Tổ chức bộ máy,
chức năng, nhiệm vụ, cơ chế hoạt động của các cơ quan tư pháp còn bất họp lý.
Đội ngũ cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp còn thiếu; trình độ nghiệp vụ và bản lĩnh
chính trị của một bộ phận cán bộ còn yếu, thậm chí có một số cán bộ sa sút về
phẩm chất, đạo đức và trách nhiệm nghề nghiệp, vẫn còn tình trang oan, sai trong
điều tra, bắt, giam giữ, truy tố, xét xử....”. Vì thế ba năm sau đó, Bộ Chính trị lại
ra Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến
năm 2020 xác định: “Nghiên cứu chuyển Viện kiểm sát nhân dân thành Viện công
tổ, tăng cường trách nhiệm của công tổ trong hoạt động điều tra ” thì vấn đề chức
GVHD: Phạm Thị Diệu Hiền

20

SVTH:Lể Thị Mộng Thi


Trích đoạn Tiếp thu thực hiện tốt các nhiệm vụ về cải cách tư pháp và đẩy mạnh Trong công tác kiểm sát các hoạt động tư pháp về hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ
Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status