1
MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC BẢNG BIỂU
i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ii
LỜI MỞ ĐẦU
iv
Phần 1
ẢNH HƯỞNG CỦA SUY THOÁI KINH TẾ
TỚI VẤN ĐỀ TRẢ LƯƠNG CỦA DOANH NGHIỆP
1
1.1 Ảnh hưởng của suy thoái kinh tế đối với doanh nghiệp
Việt Nam
1
1.2
Những tác động xấu của khủng hoảng kinh tế tới người
lao động trong doanh nghiệp
4
1.3
Yêu cầu của việc trả lương trong điều kiện kinh tế khó
khăn
8
Phần 2
THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ TRẢ LƯƠNG
TẠI NHÀ KHÁCH TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG
11
2.1 Một số đặc điểm về Nhà khách Tổng Liên Đoàn Lao
Động
21
39
2.2.5 Những chi phí tính khác tính theo lương cán bộ công
nhân viên
40
2.3 Đánh giá kết quả của những thay đổi trong vấn đề trả
lương
43
2.3.1 Những ưu điểm đạt được
43
2.3.2 Những hạn chế cần khắc phục
46
Phần 3
XÂY DỰNG GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VẤN ĐỀ TRẢ
LƯƠNG
TẠI NHÀ KHÁCH TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG
48
3.1 Quan điểm và nguyên tắc cơ bản trong công tác hoàn
thiện vấn đề trả lương tại Nhà khách Tổng Liên Đoàn
48
3.1.1
Chính sách tiền lương đảm bảo nguyên tắc chi phí sản
xuất trong kinh tế thị trường
48
3.1.2 Đảm bảo tiền lương của người lao động trong hoàn cảnh
kinh tế khó khăn
49
3.1.3 Tiền lương trả cho người lao động phải đảm bảo được
sự công bằng cho người lao động
49
3.1.4 Vấn đề trả lương phải phù hợp với mục tiêu quản lý
1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
NKTLĐ
Nhà khách Tổng Liên Đoàn
L
Lương
Tiền lương theo các lần tính 1
DG
Đơn giá
TLV2 Tiền lương theo các lần tính 2
t
Thời gian làm việc
HSLCB Hệ số lương cơ bản tính theo
thang lương của Nhà nước
LCB
Lương cấp bậc
H
Hệ số cấp bậc công việc
Q
Mức sản lượng
ΣQL Tổng Quỹ Lương
Lsp
Lương theo sản phẩm
TLKQ
Tiền lương theo kết quả
LNCN
Lương cho nhóm công nhân
TLCĐ
Tiền lương theo chế độ
Lth
Bảng 13 - Mẫu điểm áp dụng xây dựng cấp bậc công việc. 55
Bảng 14 - Phương pháp bảng điểm - đồ thị. 56
Bảng 15 - Bảng chấm công thi đua 58
Bảng 16 - So sánh về hiệu quả lao động 60
Hình 01 – Thâm hụt ngân sách Nhà nước giai đoạn 1995 -2008 02
Hình 02 – Tốc độ tăng thu nhập của người lao động so với lạm phát 07
Hình 03 – Doanh thu các quý từ năm 2005-2008 21
Hình 04 – Cơ cấu lao động theo độ tuổi tại Nhà khách năm 2008 24
Hình 05 – Trình độ lao động năm 2008 26
Hình 06 – Cơ cấu bộ máy tổ chức Nhà khách trước tháng 4-2008 32
Hình 07 – Cơ cấu tổ chức Nhà khách từ tháng 4 năm 2008 33
Hình 08 – Biểu đồ tiền lương giai đoạn 2005 - 2008 44
1
1
LỜI MỞ ĐẦU
Năm 2009 được dự báo là một năm khó khăn đối với nền kinh tế nói
chung cũng như đối với ngành kinh doanh dịch vụ nhà hàng khách sạn nói
riêng. Thị trường thu hẹp, chi phí tăng cao, nhiều doanh nghiệp đối mặt với
cảnh giải thể hoặc cắt giảm nhân công. Trước những khó khăn đó, để có thể
duy trì sự ổn định thời gian trước mắt cũng như phát triển trong tương lai, các
đơn vị kinh doanh cần xem xét kỹ lưỡng các hoạt động của mình, phát hiện
những thiếu sót và hạn chế để tìm ra hướng đi mới, đảm bảo hiệu quả cho
việc quản lý và điều hành sản xuất kinh doanh.
Vấn đề tiền lương là một nhân tố thực sự quan trọng quyết định sự sống
còn của các đơn vị kinh doanh. Tổ chức tốt công tác trả lương giúp cho việc
quản lý lao động của doanh nghiệp ngày càng hoàn thiện hơn. Người lao động
được tạo động lực hăng say làm việc, năng suất cao hơn và chấp hành tốt kỷ
luật lao động. Quan trọng hơn, tổ chức công tác tiền lương tốt đồng nghĩa với
quản lý tốt một trong những chi phí quan trọng, đặc biệt đối với các doanh
nghiệp kinh doanh loại hình dịch vụ. Tổ chức tốt vấn đề trả lương, quản lý tốt
Phần hai: Thực trạng vấn đề trả lương tại Nhà khách Tổng Liên Đoàn.
Phần ba: Xây dựng giải pháp hoàn thiện vấn đề trả lương tại Nhà khách
Tổng Liên Đoàn.
1
PHẦN 1
ẢNH HƯỞNG CỦA SUY THOÁI KINH TẾ
TỚI VẤN ĐỀ TRẢ LƯƠNG CỦA DOANH NGHIỆP
1.1.Ảnh hưởng thoái kinh tế đối với Doanh nghiệp Việt Nam.
Năm 2008 và những tháng đầu năm 2009 chứng kiến nền kinh tế thế
giới đối mặt với cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính và suy thoái lớn nhất
trong 70 năm trở lại đây. Theo nhiều chuyên gia dự báo, khủng hoảng còn tồi
tệ hơn và chỉ có thể chấm dứt vào năm 2011. Trong hoàn cảnh đó, nền kinh tế
Việt Nam cũng chịu nhiều ảnh hưởng:
Vào thời điểm cuối năm 2008, Chính Phủ Việt Nam vẫn đặt mục tiêu tăng
trưởng 6-7% cho năm 2009, World Bank và IMF thì dự báo mức độ tăng
trưởng của Việt Nam sẽ là 5%, còn Deutsch Bank đánh giá là Việt Nam sẽ
tăng trưởng quãng 4%. Hầu hết các nước khác cũng được dự báo là mức tăng
trưởng trong năm 2009 sẽ giảm đi. Ví dụ nước Đức (nước có nền kinh tế
mạnh nhất châu Âu) được dự báo suy thoái với GDP tăng trưởng -2.2%.
Tăng trưởng của Trung Quốc cũng được dự báo sẽ giảm từ 9% còn 6%.Và vì
"khi Trung Quốc hắt hơi thì Việt Nam cảm cúm", nên độ tăng trưởng của
Việt Nam cũng có nguy cơ giảm trên 3%, và như vậy dự báo 4% là hợp lý..
Điều này thể hiện qua nhiều mặt:
o Thâm hụt ngân sách nhà nước tăng. Những năm vừa qua trung bình
thâm hụt ngân sách khoảng 5% GDP một năm. Tuy nhiên năm 2009 thâm
hụt ngân sách có nguy cơ tăng lên mạnh. Lượng thuế thu từ cuối 2008 có
chiều hướng giảm, trong khi nhu cầu chi tiêu tăng lên, đặc biệt là nhu cầu
cho chính sách kích thích nền kinh tế.
1
Hình 01 – Thâm hụt ngân sách Nhà nước giai đoạn 1995 -2009 (nghìn tỷ đồng)
các doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp khó khăn, trong đó có 20% có nguy cơ
đóng cửa, 60% còn lại có sản xuất sút kém. Đến khi lãi suất giảm vào cuối
2008 thì các ngân hàng lại đứng trước một khó khăn mới, là đã có thời gian
vay vào với lãi suất cao (gần 20% cho tiền gửi 1 năm), và bây giờ cho vay ra
với lãi suất thấp hơn (khoảng 13%) nhưng nhiều doanh nghiệp vẫn sợ không
dám vay, và tiền ứ đọng trong ngân hàng (vào thời điểm 11/2008 thừa gần
100 nghìn tỷ VND không có người vay).
o Trong năm 2008, lạm phát trung bình cao 22% (có thời điểm là 30%).
Năm 2009, lạm phát tuy chỉ được dự báo ở mức 8-11% nhưng đó là một dự
báo tương đối lạc quan. Trên thực tế, lạm phát có thể tăng cao hơn nữa, nhất
là sau khi Nhà nước điều chỉnh lương cơ bản của cán bộ công nhân viên từ
540.000đ lên 650.000đ. Lạm phát cao tạo áp lực lên thị trường, làm giảm sức
mua của người tiêu dùng.Không những thế, giá cả đầu vào tăng làm giảm sức
cạnh tranh cũng như lợi nhuận của doanh nghiệp. Và như vậy, doanh nghiệp
1
đối mặt với cùng lúc nhiều khó khăn, khi vẫn phải giảm giá để thu hút khách
hàng mà vẫn phải đảm bảo lợi nhuận sau khi trừ chi phí cao của đầu vào.
1.2.Những tác động xấu của khủng hoảng kinh tế tới người lao động
trong doanh nghiệp.
Sức ép khổng lồ trong bối cảnh nêu trên buộc các doanh nghiệp phải có
những ứng phó nhất định để tồn tại trong khó khăn kinh tế. Một số doanh
nghiệp nhỏ chọn phương pháp sát nhập với doanh nghiệp khác để có thể đứng
vững trước cơn bão khủng hoảng, điển hình là các công ty tài chính và các
quỹ đầu tư chứng khoán. Các doanh nghiệp trước nay vẫn sản xuất hàng xuất
khẩu thì nay cũng xác lập thị phần của mình tại thị trường trong nước như
may mặc, giầy da...Tuy nhiên, một xu thế chung đối với hầu hết các doanh
nghiệp là cắt giảm các khoản chi phí đầu vào như chi phí nguyên vật liệu, chi
phí nhân công. Ngoài ra, do thị trường bị thu hẹp tạo ra hệ quả là các doanh
nghiệp không sử dụng hết khả năng sản xuất kinh doanh. Điều này có nghĩa là
việc duy trì số lượng lớn lao động thường xuyên và đảm bảo tiền lương của
gần 250 lao động, trong đó phần lớn là người của địa phương đã nhận vào
theo cam kết. Bên cạnh đó, theo Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã
hội Nguyễn Thị Kim Ngân, còn khoảng 10.000 lao động Việt Nam thất
nghiệp ở nước ngoài sẽ về nước trong năm nay, tham gia cạnh tranh ở thị
trường lao động, làm tình trạng thất nghiệp của nước ta trở nên xấu hơn.
Để hỗ trợ người lao động mất việc làm, Nhà nước và Chính phủ đã cho
thực hiện Bảo hiểm thất nghiệp bắt đầu từ ngày 1/1/2009. Doanh nghiệp có
trách nhiệm đóng 1% Bảo hiểm thất nghiệp, Nhà nước chi 1% từ Ngân sách
1
Nhà nước tạo quỹ bảo hiểm thất nghiệp. Tuy nhiên theo quy định hiện hành,
phải đóng bảo hiểm trong 1 năm mới được nhận trợ cấp thất nghiệp. Điều này
có nghĩa là đến đầu năm 2010, người lao động mới có thể nhận trợ cấp thất
nghiệp, những trường hợp thất nghiệp ở trước thời điểm này không thể nhận
bảo hiểm thất nghiệp. Do đó, sa thải công nhân trong hoàn cảnh hiện tại thực
sự là việc làm tăng sự khó khăn cho người lao động.
Ở một góc độ khác, nhiều doanh nghiệp khác cắt giảm chi phí nhân sự
thông qua cắt giảm chi phí hành chính, thay đổi trong chính sách đãi ngộ, đặc
biệt là cắt giảm lương của người lao động. Thông thường, cắt giảm tiền lương
là biện pháp cuối cùng đối với nhà quản lý nhân sự. Biện pháp này vừa không
không đáp ứng được yêu cầu kinh tế cho người lao động, vừa có tác dụng
không tốt tới tâm lý làm việc của họ. Tuy nhiên, với nhiều doanh nghiệp Việt
Nam, cắt giảm tiền lương vẫn là biện pháp được sử dụng nhiều nhất hiện nay.
Nếu như năm 2008, tỉ lệ lạm phát ở Việt Nam khá cao dẫn đến nhiều
công ty buộc phải tăng lương để giúp nhân viên có cuộc sống ổn định thì
trong năm 2009, tình hình kinh tế toàn cầu biến động và bất ổn về tài chính
buộc nhiều công ty tiến hành cắt giảm chi phí. Trên thực tế, nhiều công ty
chứng khoán đã cắt giảm lương thưởng chỉ còn từ 50 – 70%. Điều này là dễ
lý giải, vì theo như nghiên cứu của các chuyên gia, giải pháp thay đổi hệ
thống lương, thưởng và chế độ đãi ngộ lao động có thể giảm từ 20 – 30% tổng
chi phí. Với những chiến lược giảm chi phí như vậy, thu nhập của người lao
tạo tích lũy cho người lao động, cải thiện cuộc sống và đảm bảo cho
những khoảng thời gian nghỉ lao động do ốm đau hoặc về hưu.
- Kích thích lao động: Tiền lương, tiền công được trả cho người lao động
một cách xứng đáng, hợp lý với những cống hiến của họ cho doanh
nghiệp có tác dụng nâng cao tinh thần làm việc của người lao động,
khuyến khích họ tìm tòi học hỏi, phát huy tinh thần sáng tạo trong lao
động.
• Đối với tổ chức, doanh nghiệp thuê, mướn lao động, tiền lương cũng có
vai trò quan trọng nhất định đối với hoạt động của mình:
- Tiền lương, tiền công là một phần quan trọng của chi phí sản xuất. Đối
với nhiều đơn vị có loại hình kinh doanh dịch vụ, tiền công của người
lao động chiếm 30 – 50 % chi phí sản xuất kinh doanh. Do đó, việc
tăng tiền công sẽ ảnh hưởng tới chi phí, giá cả và khả năng cạnh tranh
của sản phẩm công ty trên thị trường.
- Tiền công, tiền lương là công cụ để duy trì, gìn giữ và thu hút những
lao động giỏi, có trình độ cao, có khả năng phù hợp với công việc của
tổ chức.
- Tiền công, tiền lương và các loại thù lao lao động khác là công cụ để
quản lý chiến lược nguồn nhân lực và có ảnh hưởng đến các chức năng
1
khác của quản lý nhân lực như tuyển mộ, tuyển dụng, đào tạo… cũng
như các chức năng quản trị khác trong doanh nghiệp.
Khi nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, những yêu cầu đặt ra đối với vấn
đề trả lương còn khắt khe hơn nữa. Vấn đề lạm phát trực tiếp làm giảm tiền
lương thực tế của người lao động, khiến khả năng tái tạo sức lao động cũng
như tích lũy cá nhân sút giảm, công nhân viên gặp khó khăn trong cuộc sống.
Trong tình huống đó, nếu các doanh nghiệp tiếp tục cắt giảm lương sẽ tăng áp
lực kinh tế đối với người lao động. Theo nhiều chuyên gia, cắt giảm lương
nên là biện pháp cuối cùng được tính tới vì nó có rất nhiều tác động xấu. Hệ
quả dẫn tới có thể là kết quả lao động của công nhân viên không đủ để trang
Liên Đoàn Lao Động, được hình thành theo quyết định số 187/QĐ-TLĐ ngày
21/01/1997 của Chủ Tịch Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam, với tên gọi
Trạm trung chuyển Tổng Liên Đoàn. Ngày 5 tháng 3 năm 1999, Trạm trung
chuyển Tổng Liên Đoàn được đổi tên thành Nhà khách Tổng Liên đoàn cho
phù hợp với chức năng, nhiệm vụ hoạt động là một đơn vị hành chính sự
nghiệp có thu. Nhà khách có vị trí thoáng mát, cảnh quan đẹp, thuận lợi bởi
ngay gần trung tâm thành phố, gần ga Hà Nội, sau Cung văn hóa Hữu Nghị.
Những đặc điểm đó tạo điều kiện rất thuận tiện cho khách khi tổ chức hội
nghị, tổ chức hội thảo, tiệc cưới, sinh nhật,….
Với sức chứa 181 giường của 73 phòng phục vụ khách trong và ngoài
nước nghỉ, 13 căn hộ đạt tiêu chuẩn quốc tế có diện tích mặt sàn từ 110-
170m²/1 căn hộ, cho khách nước ngoài và văn phòng đại diện thuê, cùng hệ
thống thống tin liên lạc hiện đại.Ngoài ra, nhà khách còn có các loại phòng
họp, hội thảo sức chứa từ 30-140-300-400 chỗ ngồi, cùng 2 phòng ăn lớn và 1
phòng ăn nhỏ đảm bảo cho 500 suất ăn sang trọng lịch sự.
Là một đơn vị mới được hình thành từ năm 1997, Nhà khách cũng đã
có được những bước đi đáng kể. Đơn vị đã được Tổng Liên Đoàn Lao Động
Việt Nam trao tặng danh hiệu “Tập thể Lao động xuất sắc” 4 năm liền từ năm
2004 tới năm 2007, được Chủ tịch liên đoàn trao tặng bằng khen “ Đơn vị tiên
tiến” năm 2005. Đó là kết quả xứng đáng cho những nỗ lực phát triển của
Nhà khách trong thời gian qua. Từ chỗ cơ sở trang thiết bị còn thiếu thốn,
dịch vụ không đáp ứng được nhu cầu của khách hàng, nhân lực thiếu trình độ
trong công việc, Nhà khách đã từng bước thay đổi để đáp ứng yêu cầu hiện
nay. Trang thiết bị đang và đã được hiện đại hóa, các dịch vụ được mở rộng
với chất lượng cao hơn...
1
Đặc biệt hơn, Nhà khách tập trung vào việc phát triển con người, nâng
cao khả năng của cán bộ công nhân viên để thỏa mãn yêu cầu ngày càng khắt
khe của công việc. Đây được coi là nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến sự phát
triển của Nhà khách hiện nay cũng như trong tương lai. Nhà khách thường
trong lĩnh vực tổ chức tiệc và hội nghị của NK. Theo báo cáo các nguồn thu
của Nhà khách từ năm 2004, có rất nhiều hoạt động mang lại nguồn thu bao
gồm: Tiền phòng nghỉ, tiền hội trường, tiền ăn, dịch vụ hội trường, các dịch
vụ buồng, nhà ăn, bar – đồ uống,…
Bảng 01– Các hoạt động thường xuyên đem lại lợi nhuận cho Nhà khách
(đơn vị:nghìn đồng)
Một số khoản thu 2004 2005 2006 2007
1.Thu thuê phòng
5.273.814 6.123.335 6.120.480 7.532.485
2.Tiền hội trường
744.495 952.924 1.106.620 1.632.441
3.Tiền dịch vụ ăn
2.304.387 6.123.286 7.538.639 8.327.121
4.Tiền nhà Quốc tế
2.142.439 1.759.130 2.298.393 2.322.980
5.Dịch vụ hội
trường
279.976 247.908 396.102 413.253
6.Cho thuê mặt
bằng
1.578.335 1.868.913
7.Tiền điện thoại
158.936 103.484 45.045 74.357
8.Lãi TGNH
43.200 48.946 853.896 1.064.759
9.Thuế GTGT
264.933 412.600 442.302 463.501
(Nguồn: Phòng kế toán, Nhà khách Tổng Liên Đoàn)
1
Tuy nhiên, một bộ phận khách hàng tương đối quan trọng của Nhà
lớn. Ngoài ra, Nhà khách còn đảm bảo việc phục vụ các dịch vụ tại phòng
như gọi đồ ăn, dịch vụ giặt là, dịch vụ phòng. Đồng thời, có các chuẩn liên lạc
quốc tế như fax, liên lạc mạng cáp quang, đảm bảo thông tin liên lạc của
khách trong trường hợp cần liên lạc, hội đàm hoặc tổ chức họp qua mạng.
Các bộ phận của Nhà khách như tổ điện nước, tổ giặt là, nhà bếp được
tổ chức tương đối đồng bộ, đảm bảo thực hiện được nhiệm vụ. Bếp ăn của
Nhà khách có diện tích 50m², có khả năng chế biến, phục vụ đồng thời nhiều
khách ăn. Phòng giặt là có công suất lớn, được trang bị máy giặt chuyên dụng
do đó có khả năng đảm bảo nhiệm vụ giặt là sạch sẽ chăn, ga cho tất cả các
buồng và có khả năng đáp ứng một phần dịch vụ giặt là của khách hàng.
Về tình hình tài sản hiện nay của Nhà khách, theo Bảng cân đối kế
toán ngày 31/12/2008, tình hình tài sản của Nhà khách hiện nay như sau :
Bảng 02 - Cơ cấu tài sản tại Nhà khách TLĐ (đơn vị: nghìn đồng)
Mụ
c
TÀI SẢN Số đầu kỳ Số cuối kỳ
A TÀI SẢN LƯU ĐỘNG VÀ
ĐẦU TƯ NGẮN HẠN
I.Tiền
1.Tiền mặt tại quỹ
9.784.904
1.333.253
11.278.792
1.081.362
1
2.Tiền gửi ngân hàng
3.Tiền đang chuyển
4.Ngân phiếu, trái phiếu
1.633.279
6.818.371
Tuy nhiên một điều khác đáng lưu ý là hệ thống các phòng ban của Nhà
khách chưa được trang bị thiết bị đầy đủ để đáp ứng tình hình mới hiện nay.
Cơ sở trang thiết bị hầu hết được trang bị từ những ngày thành lập và đã qua
quá trình dài khấu hao trở nên lạc hậu. Các phòng ban chuyên trách hành
chính trong Nhà khách như phòng Tổ chức hành chính, phòng Kế toán, phòng
Kinh doanh thiếu nhiều thiết bị thực sự cần thiết để làm việc hiệu quả, thông
tin liên lạc hoặc hỗ trợ giữa các phòng ban hầu hết phải thực hiện qua các
thao tác thủ công. Điều này đòi hỏi việc đầu tư trong thời gian tới của Nhà
khách nhằm nâng cao hơn nữa cơ sở vật chất cũng như điều kiện làm việc của
người lao động. Tuy nhiên, quá trình đầu tư cơ sở vật chất dài hạn trong điều
kiện tự hạch toán kinh doanh của Nhà khách Tổng Liên Đoàn tạo sức ép lớn
về việc kiểm soát chi phí và các nguồn lực trong cơ quan. Vấn đề cắt giảm chi
phí, tăng lợi nhuận kinh doanh đòi hỏi trong đó việc trả lương đạt hiệu quả
cao, làm cơ sở tăng kết quả làm việc.
2.1.4.Kết quả kinh doanh giai đoạn 2005 - 2008 và kế hoạch phát triển Nhà
Khách Tổng Liên Đoàn giai đoạn 2009 – 2014.
Trong điều kiện nền kinh tế có nhiều thay đổi, mức độ cạnh tranh ngày
càng khắt khe hơn, Nhà khách vẫn có những kết quả đáng chú ý. Trong lĩnh
vực phục vụ, Nhà khách đảm bảo phục vụ tốt việc ăn, nghỉ của khách; các Đại
hội của Ban chấp hành, các Ban luận văn của Tổng liên đoàn, Công đoàn
ngành TW, Công đoàn tổng công ty, nhất là các đại biểu về dự Đại hội X