1
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, VĂN HÓA - XÃ HỘI CỦA
LÂM ĐỒNG VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA TÔN GIÁO TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
1.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, VĂN HÓA - XÃ HỘI
1.1.1. Điều kiện tự nhiên
Lâm Đồng là một tỉnh miền núi ở Nam Tây Nguyên, nằm giữa tọa
độ 11 - 130 vĩ Bắc và 107 - 1090 kinh Đông, cách bờ biển phía Đông 110 km;
phía Đông và Nam giáp các tỉnh Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận;
phía Tây và Bắc giáp các tỉnh Đồng Nai, Bình Phước, Đắc Lắc. Trong số
các đơn vị hành chính cấp tỉnh hiện nay, từ đồng bằng Thanh - Nghệ trở
vào đồng bằng sông Cửu Long, Lâm Đồng là tỉnh duy nhất có lãnh thổ nằm
trọn trong miền nội địa của đất nước, không có đường biên giới quốc gia,
không có bờ biển [46, tr. 5].
Vị trí địa lý như vậy đã tạo cho Lâm Đồng có vị trí chiến lược quan
trọng: là điểm nối tiếp giữa Nam Tây Nguyên với miền Đông Nam Bộ và
Sài Gòn bằng đường quốc lộ 20, đường số 8 và đường xe lửa Đà Lạt - Tháp
Chàm. Vì thế, trước đây thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã xây dựng Lâm
Đồng trong thế chiến lược liên hoàn nhằm bảo vệ từ xa cơ quan đầu não
của chúng ở Sài Gòn, đồng thời, làm bàn đạp để đánh phá phong trào cách
mạng các tỉnh cực Nam Trung Bộ và Nam Tây Nguyên [1, tr. 6].
Tỉnh Lâm Đồng có diện tích tự nhiên là 976.274 ha, chiếm trên 3%
diện tích cả nước, trong đó, đất rừng chiếm 70%. Trữ lượng gỗ các loại trên
30 triệu m3, có trên 130.000 ha rừng thông thuần chủng, trên 150.000 ha
rừng tre nứa. Đây là vùng nguyên liệu quan trọng cho ngành công nghiệp
địa phương và khu vực. Đất có khả năng làm nông nghiệp trên 200.000 ha,
chủ yếu là đất đỏ bazan và hơn 50.000 ha đất phù sa bồi tụ, thích hợp cho
việc phát triển cây công nghiệp ngắn ngày, dài ngày, sản xuất lương thực,
3
Ngày 6-1- 1916 Toàn quyền E. Roume ký quyết định thành lập tỉnh
Lang Bian. Ngày 24- 4-1916, Hội đồng nhiếp chính vua Duy Tân ra dụ
thành lập tại vùng Lang Bian trung tâm đô thị Đà Lạt.
Năm 1920, tỉnh Đồng Nai Thượng lại được tái lập gồm ba quận:
Djiring (Di Linh), Blao, Dran. Tỉnh lỵ đóng tại Djiring. Thị xã Đà Lạt, nơi
nghỉ mát của người Pháp, được thành lập. Cũng trong năm đó, Bảo Đại lập
khu tự trị Lâm Viên (bao gồm cả Đà Lạt).
Năm 1941, tỉnh Lâm Viên được thành lập, Đà Lạt được chọn làm
tỉnh lỵ. Ngày 23-8-1945, nhân dân Lâm Viên khởi nghĩa giành chính
quyền. Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời và Ủy ban Việt Minh tỉnh
Lâm Viên và tỉnh Đồng Nai Thượng được thành lập. Để thống nhất sự chỉ
đạo đối với các tỉnh cực Nam Trung Bộ, theo đề nghị của Ủy ban kháng
chiến hành chính miền Nam Trung Bộ, ngày 22-2-1951, Chính phủ nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra Nghị định số 73-TTg hợp nhất hai tỉnh
Lâm Viên và Đồng Nai Thượng thành tỉnh Lâm Đồng [46, tr. 25].
Năm 1958, Ngô Đình Diệm thành lập tỉnh Lâm Đồng (gồm quận Di
Linh, Blao) và tỉnh Tuyên Đức (gồm thị xã Đà Lạt và ba quận: Đơn
Dương, Đức Trọng, Lạc Dương). Năm 1966, Đà Lạt được tách khỏi tỉnh
Tuyên Đức, trực thuộc chính quyền Trung ương.
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thực hiện Nghị quyết số
245-NQ/ TW ngày 20-9-1975 của Bộ Chính trị về việc bỏ khu, hợp tỉnh và
Nghị quyết số 19/NQ-TW ngày 20-12-1975 của Bộ Chính trị về việc điều
chỉnh, hợp nhất một số tỉnh ở miền Nam; tháng 12-1976, Chính phủ lâm
thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã ra Nghị định về việc giải thể khu
hợp nhất tỉnh ở miền Nam Việt Nam. Theo Nghị định này, ở miền Nam có
21 đơn vị hành chính, trong đó Lâm Đồng và Tuyên Đức hợp nhất lại và
lãnh đạo của Đảng đã thu được những thành tựu nhất định. Về nông
nghiệp: đã thực hiện chủ trương khôi phục các ngành sản xuất chính, như:
chè, rau, mở rộng diện tích cây lương thực, thực phẩm; tiến hành khai
5
hoang, phục hóa; các phong trào làm thủy lợi, trồng rừng, định canh, định
cư cho đồng bào dân tộc... được phát động. Về công nghiệp: khôi phục các
ngành công nghiệp quan trọng như sản xuất nấm, tơ tằm, chè, cà phê...
Bước sang thời kỳ đổi mới, Lâm Đồng có nhiều bước tiến đáng kể
trong phát triển kinh tế. Thời kỳ 1990 - 1995, tổng sản phẩm quốc nội
(GDP) tăng gần 13% [46, tr. 25]. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo chiều
hướng tích cực; các tiềm năng, thế mạnh được khai thác. Nền kinh tế hàng
hóa nhiều thành phần phát triển, xuất - nhập khẩu được khuyến khích, đẩy
mạnh hợp tác đầu tư với nước ngoài.
Nông nghiệp phát triển tương đối toàn diện trên cơ sở phát huy thế
mạnh về cây công nghiệp dài ngày, rau, hoa quả đặc sản theo hướng đầu tư
thâm canh; đất đai được sử dụng có hiệu quả, hình thành nhiều vùng
chuyên canh. Bộ mặt nông thôn thay đổi, số hộ giàu và trung bình chiếm
tỷ lệ trên 80%. Vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc được quan tâm đầu tư
phát triển.
Lâm nghiệp được phát triển trên cơ sở bảo vệ tài nguyên và phát
triển vốn rừng; công tác trồng, chăm sóc rừng được ưu tiên. Quản lý bảo vệ
rừng, định canh, định cư cho đồng bào dân tộc được thực hiện.
Công nghiệp tăng với tốc độ cao, sản phẩm đa dạng. Nhiều sản
phẩm mới được sản xuất (như lụa, hàng đan len, cà phê, nhân hạt điều,
thiếc tinh, nấm...). Chất lượng các sản phẩm được nâng lên và tìm được thị
trường tiêu thụ khá ổn định, như chè xuất khẩu, tơ tằm... Giá trị xuất khẩu
từ công nghiệp chiếm 20% tổng kim ngạch xuất khẩu.
của tư bản. Trước năm 1945, một số nhóm lao động ở miền Bắc di dân đến
Lâm Đồng lập nghiệp, xây dựng vùng quê mới. Trong 9 năm kháng chiến
chống thực dân Pháp, ở cả vùng kháng chiến và vùng bị tạm chiến, số
người Kinh ở Lâm Đồng tăng lên một cách đáng kể.
Đến nay, trong tổng số 135 đơn vị hành chính cơ sở của Lâm Đồng,
có 32 xã, phường toàn là người Kinh, 30 xã người Kinh sống xen cư với
các buôn dân tộc.
7
Mặc dù có cùng nguồn gốc là những cư dân ở đồng bằng Bắc Bộ và
đồng bằng miền Trung, song do các điều kiện lịch sử chi phối, nên trên
thực tế, trong cộng đồng người Kinh ở Tây nguyên nói chung, ở Lâm Đồng
nói riêng lại bao gồm hai bộ phận di dân: bộ phận di dân trong các giai
đoạn của trước ngày giải phóng và bộ phận di dân sau năm 1975.
Trước ngày giải phóng, người Kinh lẻ tẻ đến sinh cơ lập nghiệp ở
Lâm Đồng từ những thập niên đầu thế kỷ XX. Tới năm trước Cách mạng
tháng Tám, tỷ lệ dân số người Kinh ngang bằng với đồng bào dân tộc tại
chỗ. Trước năm 1945, bộ phận di dân chủ yếu là người từ các tỉnh miền
Bắc (phía Bắc vĩ tuyến 17) vào Lâm Đồng. Địa bàn phân bố chủ yếu của
dân cư này là thành phố Đà Lạt, thị xã Bảo Lộc và các huyện lỵ, thị trấn.
Thực dân Pháp thuê những người này mở mang đường xá, xây dựng cơ sở
hạ tầng: điện, nước, công sở nhà nước, chợ, bưu điện, bệnh viện, trường
học... Nổi bật trong đợt di dân này là Nhà nước tổ chức di chuyển một số
người Nghệ Tĩnh, Hà Đông vào. Số còn lại chủ yếu là người lao động miền
Trung tự vào kiếm việc làm. Lúc đầu là thời vụ, sau là định cư lập nghiệp
lâu dài. Ngoài ra, trong thành phần dân cư này còn có một số ít là công
chức nhà nước.
Đến năm 1945, người Kinh tập trung nhiều ở vùng Đà Lạt, DRan
và Thủ đô Hà Nội). Qua 12 năm (1976 - 1988), dân kinh tế mới ở Lâm
Đồng có khoảng 100.000 nhân khẩu. Họ phân bố tại 16 điểm kinh tế mới
thuộc các huyện Lâm Hà, Di Linh, Bảo Lộc, Đạ Hoai, Đạ Tẻh, Cát Tiên [56,
tr. 50].
Sự di cư quy mô lớn của người Kinh diễn ra từ đầu thế kỷ XX đến
nay đã đưa số lượng người Kinh vượt hẳn tổng số dân tộc bản địa, nó cũng
làm đảo lộn đời sống người bản địa. Trên lãnh thổ Lâm Đồng đang diễn ra
một cuộc chung sống chưa từng có trong lịch sử giữa người dân tộc bản địa
và người Kinh theo tình anh em, nhằm cùng nhau khai thác, xây dựng lãnh
thổ này thành một địa phương giàu mạnh, một cuộc sống hạnh phúc lâu
dài.
9
- Cộng đồng dân tộc thiểu số di cư đến
Nếu tính cả những nhóm dân tộc có số lượng vài chục người thì tại
Lâm Đồng hiện diện 7 nhóm: người Hoa, Nùng, Tày, Thái, Giáy, Mường,
Dao [54, tr. 40]. Đó là những bộ phận nhỏ thuộc các dân tộc thiểu số ở
miền núi phía Bắc di cư vào Nam và được điều động đến Lâm Đồng. Dưới
thời Ngô Đình Diệm có hơn 20.000 người. Sau 25 năm lập nghiệp trên địa
bàn này, dân số tăng lên 1/4.
Các nhóm tộc người này phân bố chủ yếu ở ven quốc lộ 20 và 21,
thuộc về những vùng kinh tế - xã hội đang phát triển. Đặc biệt ở xã Tùng
Nghĩa, bên cạnh quốc lộ 20 thuộc huyện Đức Trọng là nơi có 11.873 nhân
khẩu của các nhóm dân tộc di cư từ miền Bắc đến, chiếm 78,1% dân số
chung toàn xã (15.207 nhân khẩu). Riêng người Hoa chiếm 39,2% dân số
và là nơi tập trung đông nhất của cộng đồng này [56, tr. 51].
- Các dân tộc thiểu số tại chỗ
Năm 1979, tại Lâm Đồng có 9 tộc người và nhóm tộc người cư trú
cách chung của văn hóa Trường Sơn - Tây Nguyên. Bản sắc văn hóa đó
được thể hiện ở tín ngưỡng đa thần nguyên thủy. Tín ngưỡng dân gian này
chi phối khá mạnh nền văn hóa nghệ thuật của đồng bào dân tộc thiểu số.
Trong kho tàng văn hóa dân gian còn chứa đựng một kho tàng văn học rất
phong phú, trong đó có tục ngữ, thành ngữ, ca dao, dân ca... Nói đến văn
hóa cổ truyền của dân tộc thiểu số Lâm Đồng không thể không nói đến
nghệ thuật biểu diễn và kiến trúc trang trí. Qua nghệ thuật trang trí, kiến
trúc và biểu diễn, người dân tộc thiểu số thể hiện quan niệm sơ khai về vũ
trụ, về nhân sinh, về tín ngưỡng và lịch sử.
Ngoài ra, các dân tộc ít người ở Lâm Đồng còn lưu giữ được nhiều
hình thức sinh hoạt văn hóa, lễ hội truyền thống phản ánh quan niệm về thế
giới tự nhiên và tín ngưỡng của họ. Đó là các lễ nghi nông nghiệp, lễ hội
cồng chiêng và lễ hội đâm trâu. Văn hóa của các dân tộc thiểu số ở Lâm
11
Đồng có một sức hút mãnh liệt đối với các nhà nghiên cứu, khách tham
quan du lịch. Nhưng lâu nay, không ít người đã nhìn nhận các lễ hội này là
một hành vi mê tín, dị đoan và gây lãng phí sức người sức của. Do bị chi
phối bởi những nhận thức phiến diện đó, một số nơi đã ngăn cấm các lễ
hội, làm cho cuộc sống trở nên trần trụi, đoạn tuyệt với lịch sử các dân tộc,
xâm phạm đến chủ quyền văn hóa của người dân [54, tr. 450-452].
Trình độ văn hóa của cư dân Lâm Đồng từ năm 1979 đến nay được
nâng cao rõ rệt; số người có trình độ cao đẳng, đại học cũng tăng lên
nhanh, (từ 1,52% lên 4,43%). Mặc dù vậy, vẫn cần thấy rằng số người có
trình độ cao đẳng và đại học trở lên vẫn còn thấp so với dân số. Riêng trình
độ văn hóa của người dân tộc thiểu số quá thấp so với người Kinh và vùng
nông thôn thấp hơn so với thành thị [46, tr. 104].
1.2. TÔN GIÁO TỈNH LÂM ĐỒNG VÀ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN
phố Đà Lạt, huyện Lạc Dương); hạt Đức Trọng (gồm Đức Trọng và Lâm
Hà); hạt Đơn Dương; hạt Di Linh; hạt Bảo Lộc (bao gồm Bảo Lộc, Đạ
Hoai, Đạ Tẻh và Cát Tiên). Toàn tỉnh có 59 giáo xứ, 39 giáo họ [20, tr. 4].
Đội ngũ chức sắc có 01 Giám mục, 133 Linh mục (Linh mục Triều: 88,
Linh mục Dòng: 45), trong đó có 85 Linh mục hoạt động tại các xứ đạo và
42 Linh mục sinh hoạt theo cộng đoàn. Nói chung, những Linh mục được
đào tạo cơ bản, có trình độ học vấn cao, không chỉ hiểu biết về thần học mà
còn am hiểu về nhiều lĩnh vực khoa học nên dễ gần gũi và thu hút được
quần chúng.
Về cơ sở vật chất, có 01 tòa giám mục, 59 nhà thờ, 20 nhà nguyện,
19 tu viện (có 12 tu viện nữ), 10 đền thánh, 10 nhà thờ họ [54, tr. 3]. Về
dòng tu, trước năm 1975, Giáo phận Đà Lạt có 32 dòng tu nam và nữ.
Trong đó có cả dòng quốc tế và dòng địa phận. Dòng tu nam là 13, dòng tu
nữ là 19 với tổng số nam, nữ tu sĩ là 1.368 người. Đến nay, cả giáo phận Đà
Lạt chỉ còn 30 dòng tu, trong đó có 15 dòng tu quốc tế. Trong 9 dòng tu
nam thì có 7 dòng tu quốc tế và 2 dòng tu địa phận, có 1 tu hội với 48 Linh
mục và 104 tu sĩ, trong đó có 15 người đã tốt nghiệp Đại chủng viện. Có
21 dòng tu nữ (12 dòng địa phận và 9 dòng quốc tế) với 471 nữ tu.
13
Hiện nay, đạo Công giáo ở Lâm Đồng có 21 hội đoàn được phân
thành 3 loại: hội đoàn hoạt động thuần túy tôn giáo, hội đoàn hoạt động từ
thiện - xã hội và hội đoàn tập hợp quần chúng rộng rãi [17, tr. 4].
Hầu hết các xứ đạo, nhà thờ Công giáo đều được chính quyền Pháp
và Ngô Đình Diệm xây dựng ở những vị trí chiến lược quan trọng, như dọc
quốc lộ 20, 27 và vành đai phía Tây, Tây Bắc Đà Lạt. Điểm đặc biệt là các
xứ đạo ở Lâm Đồng đều mang tên các xứ đạo ở quê hương của giáo dân ở
phía Bắc (Du Sinh, Thánh Mẫu, Hà Đông...). Trong thời Mỹ - Ngụy, Ngô
viện, 01 trường cơ bản Phật học và một số cơ sở Phật sự khác. Ở Lâm
Đồng, tổ chức Gia đình phật tử được thành lập từ năm 1948 do Lê Văn
Vinh làm trưởng Ban. Cho đến năm 1975, cả tỉnh có 3.000 đoàn sinh, 500
huynh trưởng, trong đó có 01 cấp dũng, 08 cấp tấn, 16 cấp tín, 71 cấp tập
và 403 huynh trưởng không cấp. Từ năm 1975 đến năm 1986, vì nhiều lý
do khác nhau, tổ chức Gia đình phật tử Lâm Đồng không còn hoạt động.
Từ năm 1987 đến nay, lợi dụng chính sách đổi mới của Nhà nước, một số
huynh trưởng cũ đã tập hợp thanh, thiếu niên trong các Gia đình phật tử
trước đây trở lại sinh hoạt. Hiện nay, ở Lâm Đồng có 46 Gia đình phật tử,
500 huynh trưởng mới và cũ, trên 3000 đoàn sinh đang hoạt động [55, tr. 4].
Để đáp ứng những nhu cầu chính đáng của thanh, thiếu niên phật
tử, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã đề nghị Nhà nước cho phép Gia đình
phật tử hoạt động dưới sự quản lý của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Vì
vậy, Đảng và Nhà nước ta đã có chủ trương cho phép Gia đình phật tử hoạt
động trở lại. Hiện nay, toàn tỉnh đã tổ chức ra mắt 28 Gia đình phật tử với
1.573 đoàn sinh, 189 huynh trưởng [55, tr. 3].
Với phương châm "Đạo pháp - dân tộc và chủ nghĩa xã hội", đa số
tăng, ni, và đồng bào phật tử yên tâm lo việc đạo, việc đời; gắn bó với cộng
đồng; thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Ban
trị sự tỉnh hội Phật giáo đã phát huy được vai trò trách nhiệm của mình, chỉ
15
đạo những hoạt động phật sự theo đường hướng "xây dựng nền đạo trong
nền dân tộc". Nhìn chung Giáo hội thể hiện sự thống nhất, đoàn kết, tham
gia vào các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội của địa phương.
Ngoài những hoạt động đúng đắn và tích cực trên, Giáo hội Phật
giáo vẫn còn những nhược điểm nhất định. Hệ thống tổ chức và công tác
quản lý của Giáo hội thiếu chặt chẽ và đồng bộ từ tỉnh đến cơ sở. Một số
tham gia tổ chức Fulrô để chống phá cách mạng. Ở nhiều nơi trong tỉnh,
nhà thờ trở thành nơi tụ họp của bọn phản động Fulrô. Tuy nhiên, qua công
tác vận động quần chúng và đấu tranh vũ trang, về cơ bản, tổ chức Fulrô đã
bị đập tan. Phần lớn các chức sắc, tín đồ đã nhận thức được âm mưu, thủ
đoạn lợi dụng tôn giáo của kẻ địch, họ đã tự nguyện không tiếp tay cho
Fulrô và đóng cửa nhà thờ.
Mặc dù hiện nay Nhà nước chưa công nhận tư cách pháp nhân cho
đạo Tin lành ở Lâm Đồng, nhưng xét nhu cầu tín ngưỡng tôn giáo của quần
chúng, chính quyền địa phương đã cho phép một số nhà thờ trong tỉnh được
mở cửa để tín đồ làm lễ vào những ngày lễ trọng. Vì thế, đa số chức sắc và tín
đồ tỏ ra phấn khởi, tin tưởng vào chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước.
Tuy nhiên, gần đây, lợi dụng sự đổi mới chủ trương chính sách tôn
giáo của Đảng và Nhà nước, đạo Tin lành tiếp tục củng cố, lôi kéo, phát
triển tín đồ ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Có nơi đạo Tin lành dùng
tiền, hàng để dụ dỗ mua chuộc người vào đạo. Trước 1975, mục sư Trương
Văn Tốt là cố vấn Nam thượng hạt ở Lâm Đồng chạy ra nước ngoài. Trong
những năm gần đây ông ta đã móc nối với mục sư, truyền đạo trong tỉnh;
trang bị máy radio cho các mục sư, những kẻ truyền đạo là người dân tộc
để nghe giảng kinh thánh của đài Manila (Philippin) bằng tiếng Cơ Ho.
1.2.1.4. Đạo Cao đài
Tại Lâm Đồng có 4 hệ phái: Cao đài Tây Ninh, Cao đài truyền giáo
miền Trung, Cao đài Ban chỉnh đạo và Cao đài Cầu Kho. Tổng số tín đồ là
13.000. Về chức sắc có 2 Giáo sư, 2 Giáo hữu, 34 Lễ sanh sinh hoạt trong
17
15 thánh thất, điện thờ phật mẫu. Tín đồ đạo Cao đài ở Lâm Đồng không
nhiều so với các tôn giáo khác. Phần đông họ là những người dân thật thà,
chất phát, có quan hệ tốt với cách mạng. Bên cạnh đó, cũng còn một số
miền Trung vào đây lao động. Đa số cư dân đến đây đều có tôn giáo và khá
ngoan đạo. Người Nam, Ngãi, Bình, Phú là những người theo đạo Phật và
Cao đài. Để thỏa mãn nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo và nhớ về cố hương, họ
đã tự nguyện góp sức lập các am thờ bằng gỗ. Sau đó, nhờ kinh tế, phát
triển, họ đã xây dựng nên những ngôi chùa và những thánh thất cao đài.
Đi đôi với chính sách "tố cộng", Mỹ - Diệm đã đưa hơn 30.000
đồng bào Công giáo từ miền Bắc vào Lâm Đồng. Chúng bố trí ở các điểm
dân cư nhằm bảo vệ các tiểu khu, chi khu và dọc các đường giao thông
quan trọng như Tân Thanh, Tân Phát, Tân Bùi (Bảo Lộc); Phú Hiệp, Tân
Xuân, Tân Lập (Di Linh); Bình Thạnh (trên đường liên tỉnh 18 còn gọi là
đường 21 kéo dài); Lạc Lâm (trên quốc lộ 21A); các ấp nội ô và vùng ven
phía Tây Bắc Đà Lạt.
Ngoài ra, năm 1954, dưới sự hướng dẫn của Linh mục Mạnh Trọng
Bích, khoảng 400 giáo dân của làng Nghị Yên, Cầu Khống thuộc huyện Đức
Thọ - Hà Tĩnh vào định cư ở Đà Lạt. Năm 1957, Linh mục Mai Đức Thạc đưa
600 hộ giáo dân ở Phát Diệm vào vùng Cầu đất lập nghiệp [53, tr. 223].
Sau ngày giải phóng, nhân dân lao động từ các tỉnh miền Bắc và
miền Trung tiếp tục di cư vào và định cư dọc theo các quốc lộ giao thông
quan trọng. Ở đây, họ đã xây dựng nhiều cơ sở thờ tự. Một điều nổi bật
nhất là nơi nào có đông đồng bào miền Bắc thì nơi đó có nhiều nhà thờ, còn
nơi nào có đông đồng bào miền Trung thì có nhiều chùa và thánh thất Cao
đài.
1.2.2.2. Ở một mức độ nhất định, một số tôn giáo ở Lâm Đồng có
ảnh hưởng lớn đối với tôn giáo ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ
Lâm Đồng - Đà Lạt là vùng đất mới được khai phá, nhưng nó có
một vị trí kinh tế, văn hóa - xã hội và an ninh - quốc phòng hết sức quan
trọng đối với khu vực Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Vì thế, ngay từ khi
đặt chân đến Lâm Đồng, thực dân Pháp cũng như đạo Công giáo và Tin
20
kháng chiến, chức sắc, tín đồ các tôn giáo ở Lâm Đồng đã cùng với nhân
dân cả nước đứng lên đấu tranh chống ách xâm lược của thực dân Pháp và
đế quốc Mỹ. Trong kháng chiến, Phật giáo cũng như một số chức sắc, tín
đồ yêu nước trong đạo Công giáo đã đứng lên sát cánh cùng nhân dân địa
phương chống lại chính quyền bù nhìn, đòi dân sinh, dân chủ. Tiêu biểu
cho phong trào này là tinh thần đấu tranh của sinh viên, học sinh phật tử.
Một số chùa ở trong tỉnh là chỗ dựa quan trọng của lực lượng cách mạng, là
nơi hội họp, in ấn tài liệu và tổ chức ra nhiều cuộc biểu tình trên danh nghĩa
Phật giáo. Một số chức sắc đã tự thiêu để chống lại sự đàn áp của chính
quyền Ngô Đình Diệm.
Sau ngày đất nước thống nhất, hầu hết các chức sắc, tín đồ hăng hái
tham gia vào công cuộc xây dựng đất nước, tin tưởng vào con đường đi lên
chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Bên cạnh đó, họ còn nâng cao cảnh giác và đấu
tranh với bọn phản động lợi dụng tôn giáo để chống phá cách mạng và
chính quyền địa phương.
Tuy nhiên, một số chức sắc, tín đồ và Giáo hội các tôn giáo đã bị
các thế lực phản động lợi dụng, mua chuộc, kích động đã điên cuồng chống
phá phong trào cách mạng, chống lại nhân dân. Một số Linh mục, tu sĩ đã
tham gia vào các tổ chức phản động như: tiểu đoàn Đồng Khởi, tiểu đoàn
Lê Lợi, Bảo Long phục quốc, tham gia vào tổ chức Fulrô để nhen nhóm
gây bạo loạn, tiến tới lật đổ chính quyền. Giáo hội Công giáo đã ra sức
thành lập các đảng phái chính trị, kích động quần chúng chống lại chính
quyền. Bên cạnh đó, còn có sự cấu kết giữa lực lượng Tin lành phản động
với Fulrô. Mục sư Ha Sao, phó chủ nhiệm Nam Thượng Hạt (Đà Lạt) giữ
chức vụ đại tá trong Fulrô, Nicolai - con của mục sư - chủ nhiệm Nam
Thượng Hạt Hơ Mu Brông là tư lệnh của Fulrô vùng IV (Lâm Đồng).
Yàng như: Yàng Hiu (Thần Nhà), Yàng Koi (Thần lúa)... Ngoài các Yàng,
còn có ma quỷ - những kẻ hại người. Vì thế, họ thường cúng bái để cầu xin.
Cùng với tín ngưỡng dân gian, người dân tộc thiểu số còn có những lễ hội
truyền thống khá hấp dẫn, như lễ hội đâm trâu, lễ hội cồng chiêng...
22
Tuy nhiên, phong tục, tập quán của họ cũng vô cùng lạc hậu và ràng
buộc con người rất chặt. Tín ngưỡng cổ truyền không đủ sức để trở thành
một tôn giáo. Do vậy, nó không còn hấp dẫn đối với một bộ phận nhân dân
nên đã tạo ra một khoảng trống về mặt tâm linh.
Bên cạnh đó, bản chất của người dân tộc thiểu số là ngây thơ, nhẹ
dạ, cả tin, chất phát, có đầu óc thực tế. Lòng tin của đồng bào dân tộc thiểu
số chủ yếu dựa vào việc làm và kết quả thực tế đạt được, rất cụ thể chứ
không trừu tượng. Giữa lời nói và việc làm đi đôi với nhau. Họ sống bình
đẳng, có tính tự ty và mặc cảm. Bên cạnh đó, trong xã hội cổ truyền, nền
kinh tế chủ yếu là tự cấp, tự túc; nguồn sống chính là dựa vào rừng núi để
làm nương rẫy và săn bắn. Cho nên đời sống của người dân tộc thiểu số vô
cùng khó khăn.
Mối quan hệ giữa tôn giáo và dân tộc là mối quan hệ đa chiều giữa
sự tác động và bị tác động từ bên ngoài vào hoặc trong nội tại, từ trên
xuống hoặc từ dưới lên, giữa cá nhân và cộng đồng... với những nội dung
đan xen trong những phạm vi khác nhau. Sự tác động giữa chúng là sự tác
động tương hỗ, vừa có khả năng thúc đẩy lẫn nhau, vừa có khả năng kìm
hãm lẫn nhau. Mặt khác, sự tác động đó không thuần nhất. Vì vậy, có
khi bị biến dạng qua vô vàn những tác động khác, như lợi ích của giai
cấp sử dụng tôn giáo, trình độ người tiếp nhận... Điều đó được minh định
rõ qua những vấn đề sau đây:
- Lợi dụng đời sống kinh tế khó khăn, trình độ dân trí thấp, phong