Tìm hiểu thể thức văn bản của Ủy ban nhân dân huyện Nghĩa Đàn - Pdf 33

LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Điều 12 Hiến pháp 1992 quy định: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp
luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”. Để quản lý nhà
nước trên tất cả các mặt của đời sống kinh tế xã hội, Nhà nước đã xây dựng nên
một hệ thống các cơ quan nhà nước từ Trung ương tới địa phương. Trong đó cơ
quan hành chính nhà nước ở địa phương đóng vai trò quan trọng; đây chính là
cầu nối, là nơi đưa các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước đi vào
cuộc sống; và hiệu quả hiệu lực của các chủ trương, chính sách này suy cho
cùng lại phụ thuộc vào năng lực, hiệu quả hoạt động của cơ quan nhà nước ở địa
phương.
Việc ban hành văn bản có một vị trí quan trọng trong hoạt động quản lý
của các cơ quan nhà nước. Có thể nói, văn bản vừ là phương tiện, vừa là công cụ
để các cơ quan nhà nước nói chung, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương
nói riêng thể chế hoá các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước vào đời
sống và là cơ sở pháp lý cho hoạt động của các cơ quan, tổ chức và công dân.
Những năm gần đây, nhận thức được tầm quan trọng của văn bản trong
QLNN, hoạt động ban hành văn bản của các cơ quan nhà nước ở địa phương
được từng bước đi vào nề nếp, đáp ứng được nhu cầu giải quyết các công việc
cụ thể cũng như trong việc thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng và
Nhà nước trong thực tế. Tuy nhiên, việc ban hành các văn bản của cơ quan nhà
nước tại địa phương vẫn còn bộc lộ những tồn tại, đặc biệt là những tồn tại về
thể thức. Trước tình hình đó ngày 06 tháng 5 năm 2005, Bộ Nội vụ và Văn
phòng chính phủ đã ra Thông tư liên tịch số 55/2005/TTLT–BNV–VPCP hướng
dẫn về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản. Qua báo cáo số 105/BC-TP của
Phòng Tư pháp huyện Nghĩa Đàn về kiểm tra rà soát văn bản thì trong năm 2006
UBND huyện Nghĩa Đàn đã ban hành gần 8.600 văn bản bao gồm các văn bản
Quyết định, Chỉ thị, Công văn, Báo cáo… Mặc dù đã có văn bản hướng dẫn

1


- Chương I: Cơ sở lý luận
2


- Chương II: Cơ sở thực tiễn
- Chương III: Thực trạng về thể thức văn bản của UBND huyện Nghĩa
Đàn
- Chương IV: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm đảm bảo các yêu cầu
về thể thức văn bản QLNN của UBND huyện Nghĩa Đàn.

3


CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN
I. VĂN BẢN QLNN

1. Khái niệm
1.1. Khái niệm văn bản
Hoạt động giao tiếp của nhân loại được thực hiện chủ yếu bằng ngôn ngữ.
Phương tiện giao tiếp này được sử dụng ngay từ buổi đầu của xã hội loài người.
Với sự ra đời của chữ viết, con người đã thực hiện được giao tiếp ở những
khoảng không gian cách biệt nhau vô tận qua các thế hệ. Hoạt động giao tiếp
bằng ngôn ngữ luôn luôn được thực hiện qua quá trình phát và nhận các ngôn
bản. Là sản phẩm ngôn ngữ của hoạt động giao tiếp, ngôn bản tồn tại ở dạng âm
thanh (là các lời nói), hoặc được ghi lại dưới dạng chữ viết. Như vậy, văn bản là
phương tiện ghi lại và truyền đạt thông tin bằng một ngôn ngữ (hay ký hiệu)
nhất định. Với cách hiểu rộng như vậy, văn bản còn có thể gọi là vật mang tin
được ghi bằng ký hiệu hoặc ngôn ngữ.
1.2. Khái niệm văn bản QLNN

2. Chức năng và vai trò của văn bản QLNN
2.1. Chức năng cơ bản của văn bản QLNN
Văn bản có nhiều chức năng khác nhau. Mỗi loại văn bản có chức năng
nhất định tuỳ theo mức độ tác động và nội dung thể hiện của văn bản. Nhìn
chung văn bản QLNN có những chức năng sau:
+ Chức năng thông tin
Thông tin là chức năng cơ bản nhất của mọi loại văn bản. Các thông tin
chứa đựng trong văn bản là yếu tố quyết định để đưa ra những chủ trương, chính
sách, những quyết định cá biệt nhằm giải quyết những công việc của nội bộ Nhà
nước, cũng như những công việc liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của công dân.
Dưới dạng văn bản, về thời điểm nội dung thông báo, thông tin thường
bao gồm ba loại với những nét đặc thù riêng của mình:
- Thông tin quá khứ: là thông tin về những sự việc đã được giải quyết
trong quá trình hoạt động của các cơ quan quản lý.
- Thông tin hiện hành: là những thông tin liên quan đến những sự việc
đang xảy ra hàng ngày trong các cơ quan nhà nước.
5


- Thông tin dự báo: là những thông tin mang tính kế hoạch tương lai, các
dự báo chiến lược hoạt động mà bộ máy quản lý dựa vào đó để hoạch định
phương hướng hoạt động của mình.
Hoạt động thông tin trong QLNN là một quá trình, hình thức qua lại giữa
chủ thể và khách thể. Tính liên tục của quá trình QLNN liên quan và phụ thuộc
chặt chẽ vào tính liên tục của sự vận động thông tin, trong đó sự phản hồi thông
tin từ phía những chủ thể tiếp nhận cùng với sự xử lý, đánh giá và tiếp thu
những phản hồi đó từ phía chủ thể tạo lập là một yếu tố có tính quyết định đối
với hiệu quả QLNN. Về bản chất, QLNN là một dạng quản lý xã hội, thông qua
việc thực hiện một chuỗi những quyết định kế tiếp nhau trên cơ sở các thông tin
phản ánh trạng thái của các hoạt động sản xuất xã hội.

thẩm quyền của từng cơ quan cụ thể.
+ Chức năng pháp lý
Thực hiện chức năng quản lý, văn bản được sử dụng để ghi lại các quy
phạm pháp luật và các quyết định hành chính, đó là căn cứ pháp lý để giải quyết
các nhiệm vụ cụ thể trong QLNN. Văn bản có tác dụng rất quan trọng trong việc
xác lập mối quan hệ giữa các cơ quan, tổ chức thuộc bộ máy QLNN, giữa hệ
thống quản lý và bị quản lý. Những văn bản có nội dung chứa đựng các QPPL
quy định những điều được phép và không được phép của tất cả mọi người trong
xã hội, nhằm mục đích tạo lập kỷ cương và duy trì sự phát triển của xã hội theo
đúng định hướng của nhà nước.
Có thể thấy, văn bản là sản phẩm của hoạt động áp dụng pháp luật, do đó
là cơ sở pháp lý vững chắc để Nhà nước giải quyết có hiệu quả các nhiệm vụ
quản lý hết sức phức tạp của mình. Chức năng pháp lý của văn bản luôn gắn liền
với chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong từng giai đoạn phát triển cụ thể.
Việc nắm vững chức năng pháp lý của văn bản QLNN có một ý nghĩa hết
sức quan trọng, việc xây dựng và ban hành chúng đòi hỏi phải cẩn thận và chuẩn
mực, đảm bảo các nguyên tắc pháp chế, tính phù hợp với thực tiễn khách quan,
đơn giản, tiết kiệm, dễ hiểu và dễ thực hiện.
+ Chức năng văn hoá - xã hội
Văn bản QLNN, cũng như nhiều loại văn bản khác, là sản phẩm sáng tạo
của con người được hình thành trong quá trình nhận thức, lao động để tổ chức
xã hội và cải tạo tự nhiên, là một biểu hiện của “văn minh quản lý”. Văn bản
7


QLNN góp phần ghi lại và truyền bá cho mọi người và cho thế hệ mai sau
những truyền thống văn hoá quý báu của dân tộc được tích luỹ của nhiều thế hệ.
Văn bản là nguồn tư liệu quý giá giúp chúng ta hình dung được toàn cảnh
bức tranh và trình độ văn minh QLNN của mỗi thời kỳ lịch sử cụ thể của mỗi
quốc gia, đồng thời là thước đo trình độ quản lý của mỗi giai đoạn phát triển lịch

Văn bản có thể giúp cho các nhà quản lý tạo ra các mối quan hệ về mặt tổ
chức trong các cơ quan, đơn vị trực thuộc theo yêu cầu của mình, và hướng hoạt
động của các thành viên vào mục tiêu nào đó trong quản lý.
+ Văn bản là phương tiện kiểm tra, theo dõi hoạt động của bộ máy lãnh
đạo và quản lý: kiểm tra có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với hoạt động QLNN,
nếu không có kiểm tra thì mọi quyết định quản lý chỉ là lý thuyết suông. Kiểm
tra là một phương tiện có hiệu lực thúc đẩy các cơ quan nhà nước, các tổ chức
hoạt động một cách tích cực, có hiệu quả hơn. Kiểm tra còn là một biện pháp
nhằm nâng cao trình độ tổ chức công việc của các cơ quan nhà nước. Công tác
này sử dụng một phương tiện hàng đầu là hệ thống văn bản QLNN, thông qua
việc kiểm tra hệ thống văn bản mà có thể theo dõi hoạt động cụ thể của các cơ
quan quản lý.
Để kiểm tra có kết quả cũng cần chú ý đúng mức cả hai phương diện của
quá trình hình thành và giải quyết văn bản: một là, tình hình xuất hiện các văn
bản trong hoạt động của các cơ quan và đơn vị trực thuộc; hai là, nội dung các
văn bản và thực tế thực hiện các nội dung đó.
+ Văn bản là công cụ xây dựng hệ thống pháp luật: hệ thống pháp luật
chính là cơ sở cho các cơ quan nhà nước, các công dân có thể hoạt động theo
những chuẩn mực pháp lý thống nhất, phù hợp với phân chia quyền hành trong
QLNN. Các hệ thống văn bản trong QLNN, một mặt phản ánh sự phân chia
quyền lực trong QLNN, mặt khác là sự cụ thể hoá các luật lệ hiện hành, hướng
dẫn thực hiện các luật đó. Đó là công cụ tất yếu của việc xây dựng hệ thống
pháp luật nói chung và pháp luật hành chính nói riêng.
Như vậy, văn bản QLNN có vai trò quan trọng bậc nhất trong việc xây
dựng và định hình một chế độ pháp lý cần thiết cho việc xem xét các hành vi
hành chính trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ quản lý của các cơ quan. Đó
là một trong những cơ sở quan trọng để giải quyết các tranh chấp và bất đồng

9


- Quyết định của Chủ tịch nước.
10


Văn bản dưới luật lập quy (văn bản pháp quy)
-

Nghị quyết của Chính phủ, Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân

tối cao, HĐND các cấp;
-

Nghị định của Chính phủ;

-

Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân

tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng, thủ trưởng cơ
quan ngang bộ, UBND các cấp;
-

Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối

cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan
ngang bộ, UBND các cấp;
-

Thông tư của Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện


quyền và không giới hạn thẩm quyền. Nó ra đời theo tính chất, yêu cầu của công
11


việc; không mang tính chế tài bắt buộc. Văn bản hành chính thông thường đưa
ra các quyết định quản lý, do đó không dùng để thay thế cho các văn bản QPPL
hoặc văn bản cá biệt. Văn bản hành chính thông thường bao gồm văn bản có tên
loại và văn bản không có tên loại bao gồm các loại văn bản như: công văn,
thông báo, thông cáo, báo cáo, tờ trình, biên bản, đề án, phương án, kế hoạch,
chương trình, diễn văn, công điện, các loại giấy (giấy mời, giấy đi đường, giấy
uỷ nhiệm...), các loại phiếu (phiếu gửi, phiếu báo, phiếu trình...).v.v...
3.3. Văn bản cá biệt
Văn bản cá biệt là những văn bản do CQNN có thẩm quyền ban hành theo
trình tự, thủ tục nhất định nhằm đưa ra các quy tắc xử sự riêng đối với từng
trường hợp, vụ việc cụ thể, được áp dụng một lần.
3.4. Văn bản chuyên môn kỹ thuật
Đây là hệ thống văn bản đặc thù thuộc thẩm quyền ban hành của một số
CQNN nhất định theo quy định của pháp luật.
-

Văn bản chuyên môn: trong các lĩnh vực tài chính, tư pháp ngoại

giao,...
-

Văn bản kỹ thuật: trong các lĩnh vực như xây dựng, kiến trúc, trắc

địa, bản đồ, khí tượng, thuỷ văn...
Tóm lại văn bản QLNN có nhiều loại, do nhiều chủ thể ban hành để đưa
các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước vào cuộc sống. Chúng giúp

những yêu cầu về thể thức sau:
2.1. Tính pháp lý
Để đảm bảo cho văn bản được ban hành hợp pháp, hợp lý thì việc đảm
bảo đúng những yêu cầu về thể thức cũng chiếm một vai trò quan trọng. Nhận
thức được vấn đề này, trong những năm qua, các cơ quan nhà nước đã ban hành
một số những văn bản luật và dưới luật như Luật ban hành văn bản quy phạm
pháp luật; Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND;
Thông tư liên tịch số 55/2005/TTLT-BNV-VPCP của Bộ Nội vụ và Văn phòng
Chính phủ Hướng dẫn về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản… Việc ban
hành các văn bản này đã tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan nhà nước trong
việc soạn thảo và ban hành văn bản.
Thể thức văn bản QLNN không được tuỳ tiẹn đặt ra theo tiêu chí riêng
hoặc sở thích của mỗi người mà do Nhà nước quy định, buộc các cơ quan phải
tuân thủ khi soạn thảo văn bản quản lý của mình.
13


Khi soạn thảo và ban hành văn bản các cơ quan nhà nước cần phải tuân
thủ những quy định của pháp luật về thể thức văn bản.
2.2. Tính chính xác
Các yếu tố của thể thức văn bản cần phải trình bày theo đúng quy định,
hướng dẫn của pháp luật, tránh tình trạng việc trình bày một cách tuỳ tiện, trình
bày theo ý muốn, kinh nghiệm nhằm đảm bảo tính pháp lý của văn bản.
Tính chính xác của yếu tố thể thức còn được thể hiện trong việc trình bày
thể thức văn bản. Mỗi loại văn bản khác nhau có tính chất pháp lý khác nhau,
nội dung điều chỉnh khác nhau, do đó cần phải sử dụng hình thức trình bày khác
nhau, phù hợp với nội dung văn bản.
2.3. Tính khoa học
Các yếu tố thể thức của văn bản cần phải được trình bày một cách khoa
học, diễn đạt nội dung văn bản một cách đầy đủ, chính xác. Tính khoa học của

10a

9a

10b

12

15-20
mm

30-35mm

6

7a

9b
13

8
7b
14
20-25 mm

Ghi chú:
Ô số

: Thành phần thể thức văn bản


: Nội dung văn bản

7a,7b,7c

: Chức vụ, họ tên và chữ ký của người có thẩm quyền

8

: Dấu của cơ quan, tổ chức

9a,9b

: Nơi nhận

10a

: Dấu chỉ mức độ mật

10b

: Dấu chỉ mức độ khẩn

11

: Dấu thu hồi và chỉ dẫn về phạm vi lưu hành

12

: Chỉ dẫn về dự thảo văn bản


cải thiện, tình hình an ninh trật tự được bảo đảm, thực hiện tốt các chính sách xã
hội, quan tâm đời sống tinh thần của nhân dân, phát triển văn hoá giáo dục.
Hiện nay Nghĩa Đàn đang ngày càng được quan tâm đầu tư để trở thành một
trung tâm phát triển của tỉnh Nghệ An, góp phần xây dựng và phát triển đất nước.
1. Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của UBND huyện Nghĩa Đàn
1.1. Chức năng
UBND huyện Nghĩa Đàn là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương tổ
chức việc thi hành Hiến pháp, pháp luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp
trên và Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp, phát huy quyền làm chủ
của nhân dân, tăng cường pháp chế XHCN chống quan liêu, hách dịch, tham
nhũng. Phối hợp với cơ quan thường trực HĐND chuẩn bị nội dung kỳ họp

17


HĐND, xây dựng đề án trình HĐND xét và quyết định. Điều chỉnh địa giới hành
chính, xây dựng đề án phân vạch, điều chỉnh địa giới hành chính.
UBND huyện Nghĩa Đàn tổ chức và chỉ đạo thực thi quyền hành pháp để
thực hiện các chức năng quản lý nhà nước trên tất cả các lĩnh vực của đời sống
xã hộ theo Hiến pháp và pháp luật.
1.2. Nhiệm vụ và quyền hạn
UBND huyện Nghĩa Đàn do HĐND huyện Nghĩa Đàn bầu ra, là cơ quan
chấp hành của HĐND, là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương chịu trách
nhiệm chấp hành Hiến pháp, Luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên
và Nghị quyết của HĐND huyện. UBND huyện có nhiệm vụ và quyền hạn trên
các lĩnh vực:
Quản lý nhà nước trên các lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp,
thương mại, dịch vụ, công nghiệp, văn hoá, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ,
môi trường… QLNN về đất đai và các nguồn tài nguyên khác.
Phổ biến, tuyên truyền giáo dục pháp luật, chính sách của nhà nước và địa

15 phòng chuyên môn bao gồm:
• Văn phòng HĐND và UBND;
• Phòng Tư pháp;
• Phòng Thống kê;
• Phòng Dân tộc;
• Phòng Tài chính - Kế hoạch;
• Phòng Thanh tra;
• Phòng Y tế;
• Phòng Văn hoá;
• Phòng Công nghiệp - Dịch vụ;
• Phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn;
• Phòng Nội vụ – Lao động TBXH;
• Phòng Tài nguyên môi trường;
• Phòng Hạ tầng - Kinh tế;
• Uỷ ban dân số gia đình và trẻ em;
• Phòng Giáo dục.
5 đơn vị sự nghiệp:
19


• Trạm khuyến nông
• Phòng Đăng ký quyền sử dụng đất
• Bảo hiểm xã hội nông dân,
• Đội thi hành án dân sự
• Trung tâm lao động xã hội.
II. THẨM QUYỀN VÀ TRÌNH TỰ, THỦ TỤC SOẠN THẢO, BAN HÀNH VĂN BẢN
QLNN CỦA UBND HUYỆN NGHĨA ĐÀN

Để thực hiện chức năng là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương,
quản lý mọi mặt của đời sống xã hội, theo thẩm quyền quy định, UBND huyện

- Lập dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn; dự toán thu, chi ngân
sách địa phương, phương án phân bổ dự toán ngân sách cấp mình; quyết toán
ngân sách địa phương; lập dự toán điều chỉnh ngân sách địa phương trong
trường hợp cần thiết trình HĐND huyện quyết định và báo cáo UBND, cơ quan
tài chính cấp trên trên trực tiếp;
- Tổ chức thực hiện ngân sách địa phương; hướng dẫn, kiểm tra UBND
cấp xã, thị trấn xây dựng và thực hiện ngân sách và kiểm tra nghị quyết của
HĐND xã, thị trấn về thực hiện ngân sách địa phương theo quy định của pháp
luật;
- Phê chuẩn kế hoạch kinh tế – xã hội của xã, thị trấn.
+ Trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, thuỷ lợi và đất
đai:
- Xây dựng, trình HĐND huyện thông qua các chương trình khuyến khích
phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp ở địa phương và tổ chức thực
hiện các chương trình đó;
- Chỉ đạo UBND xã, thị trấn thực hiện các biện pháp chuyển dịch cơ cấu
kinh tế, phát triển nông nghiệp, bảo vệ rừng và khai thác lâm sản, phát triển
ngành, nghề đánh bắt, nuôi trồng và chế thuỷ sản;
- Thực hiện giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất với cá nhân và hộ gia đình,
giải quyết tranh chấp đất đai, thanh tra đất đai theo quy định của pháp luật;
- Xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai của UBND xã, thị trấn;
- Xây dựng quy hoạch thuỷ lợi; tổ chức bảo vệ đê điều, các công trình
thuỷ lợi vừa và nhỏ; quản lý mạng lưới thuỷ lợi thuỷ nông trên địa bàn theo quy
định của pháp luật.
21


+ Trong lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp:
- Tham gia với UBND tỉnh trong việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát
triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn huyện;

- Xây dựng các chương trình, đề án phát triển văn hoá, giáo dục, thông
tin, thể dục thể thao, y tế, phát thanh trên địa bàn huyện và tổ chức thực hiện sau
khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
- Tổ chức và kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về phổ
cập giáo dục, quản lý các trường tiểu học, trung học cơ sở, trường dạy nghề; tổ
chức các trường mầm non; thực hiện chủ trương xã hội hoá giáo dục trên địa
bàn; chỉ đạo việc xoá mù chữ và thực hiện các quy định về tiêu chuẩn giáo viên,
quy chế thi cử;
- Quản lý các công trình công cộng được phân cấp; hướng dẫn các phong
trào về văn hoá, hoạt động của các trung tâm văn hoá - thông tin, thể dục thể
thao; bảo vệ và phát huy giá trị các di tích lịch sử – văn hoá và danh lam thắng
cảnh do địa phương quản lý;
- Thực hiện kế hoạch phát triển sự nghiệp y tế; quản lý các trung tâm y tế,
trạm y tế; chỉ đạo và kiểm tra việc bảo vệ sức khoẻ nhân dân; phòng chống dịch
bệnh; bảo vệ và chăm sóc người già, người tàn tật, trẻ em mồ côi không nơi
nương tựa; bảo vệ và chăm sóc bà mẹ, trẻ em; thực hiện chính sách dân số và kế
hoạch hoá gia đình;
- Kiểm tra việc chấp hành pháp luật trong hoạt động của các cơ sở hành
nghề y, dược tư nhân, cơ sở in, phát hành xuất bản phẩm;
- Tổ chức, chỉ đạo việc dạy nghề, giải quyết việc làm cho người lao động;
tổ chức thực hiện phong trào xoá đói giảm nghèo; hướng dẫn hoạt động từ thiện,
nhân đạo.
+ Trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, tài nguyên và môi trường:
- Thực hiện các biện pháp ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ phục vụ
sản xuất và đời sống nhân dân ở địa phương;
- Tổ chức thực hiện bảo vệ môi trường; phòng, chống, khắc phục hậu quả
thiên tai, bão lụt;
- Tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về tiêu chuẩn đo lường và
chất lượng sản phẩm; kiểm tra chất lượng sản phẩm và hàng hóa trên địa bàn


- Quyết định biện pháp ngăn chặn hành vi xâm phạm tự do tín ngưỡng,
tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái những quy định của pháp
luật và chính sách của Nhà nước theo quy định của pháp luật.
24


+ Trong việc thi hành pháp luật:
- Chỉ đạo, tổ chức công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật, kiểm tra việc
chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản QPPL của CQNN cấp trên và nghị quyết
của HĐND huyện;
- Tổ chức thực hiện và chỉ đạo UBND xã, thị trấn thực hiện các biện pháp
bảo vệ tài sản của Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức
kinh tế, bảo vệ tính mạng, tự do, danh dự, nhân phẩm, tài sản, các quyền và lợi
ích hợp pháp khác của công dân;
- Chỉ đạo việc thực hiện công tác hộ tịch trên địa bàn;
- Tổ chức, chỉ đạo thực hiện công tác thi hành án theo quy định của
pháp luật;
- Tổ chức, chỉ đạo việc thực hiện công tác kiểm tra, thanh tra nhà nước; tổ
chức tiếp dân, giải quyết kịp thời khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của công dân;
hướng dẫn, chỉ đạo công tác hoà giải ở xã, thị trấn.
+ Trong việc xây dựng chính quyền và quản lý địa giới hành chính:
- Tổ chức thực hiện việc bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND theo
quy định của pháp luật;
- Quy định tổ chức bộ máy và nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của cơ quan
chuyên môn thuộc UBND cấp mình theo hướng dẫn của UBND cấp trên;
- Quản lý công tác tổ chức, biên chế, lao động, tiền lương theo phân cấp
của UBND cấp trên;
- Quản lý hồ sơ, mốc, chỉ giới, bản đồ địa giới hành chính của huyện;
- Xây dựng đề án thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành
chính ở địa phương trình HĐND huyện thông qua để trình cấp trên xem xét,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status